Thánh Học Căn Chi Căn

Thánh Học Căn Chi Căn

Share

Bộ sách này có tên là “Thánh học căn chi căn” (聖學根之根), với ý nghĩa là những nền tảng căn bản nhất tro

Nhân duyên thành lập

Năm 2005, Pháp sư Thích Tịnh Không đã thành lập Trung tâm giáo dục văn hóa Lô Giang thuộc tỉnh An Huy - Trung Quốc quê nhà của ngài; năm 2009 nhân duyên này tiếp tục ở Malaysia. Sự thành lập của Trung tâm văn hóa truyền thống Malaysia vốn bắt nguồn từ cảm giác sứ mệnh mãnh liệt muốn truyền thừa văn hóa Nho Đạo Thích của người Hoa ở Malaysia, cũng bắt nguồn từ sự cho phép của

01/01/2023

THUYẾT MINH CỦA NGƯỜI CHUYỂN NGỮ

Sách Thánh Học Căn Chi Căn (Suối Nguồn Thánh Học)

Chuyển ngữ và nghĩa sách “Thánh học căn chi căn” là việc rất phức tạp, chủ yếu do sách này viết theo thể thức văn cổ Trung Quốc. Văn cổ có đặc điểm dùng rất ít chữ, mà chữ Hán chủ yếu là chữ ghi ý, mỗi chữ có ít nhất một ý nghĩa, có chữ nhiều ý nghĩa, chọn ý nào là tùy theo sự hiểu biết của người dịch. Một số chữ Hán có ý nghĩa không rõ ràng, không chính xác. Mặt khác, văn cổ Trung Quốc có đặc điểm độc đáo là bao giờ cũng kết hợp văn với sử, cụ thể là dùng rất nhiều điển tích cổ có liên quan tới các sự kiện lịch sử Trung Quốc, mà các sự kiện đó có thể có những cách trình bày, giải thích khác nhau.

Bởi vậy cùng một bản gốc chữ Hán nhưng chuyển ra tiếng Việt có thể có những bản dịch khác nhau. Nếu chỉ dịch nguyên văn ra Âm thì không thể hiểu, mà nhất thiết phải Nghĩa. Nhưng nếu giải thích đầy đủ nghĩa thì câu văn quá dài, không sáng sủa; cho nên chúng tôi sẽ chú thích riêng một số sự kiện lịch sử. Để hiểu toàn bộ câu văn cổ, thường là phải có sự giảng giải của giáo viên.

Thực ra không thể nào dịch được văn cổ Trung Quốc mà chỉ có thể chuyển ngữ theo cách giải thích. Bởi vậy dưới đây chúng tôi chuyển ngữ theo trình tự trước hết chuyển từ chữ Hán sang âm Hán-Việt, sau đó Nghĩa, ngoài ra nếu cần sẽ có thêm phần ghi chú. Những câu viết trong dấu ngoặc vuông [ ] là câu giải thích của người dịch.

Sở dĩ cần có phần Âm vì khi đọc phần này, người đọc đã có thể hiểu được một phần ý nghĩa của câu chữ Hán trong bản gốc; hơn nữa câu chữ Hán rất ngắn, lại có vần điệu nên dễ nhớ. Nhưng Âm có nhược điểm là không phân biệt được các chữ Hán đồng âm, vì thế có chỗ chúng tôi phải thêm phần chữ Hán.

Phần ghi chú cũng rất cần, lẽ ra câu nào có dẫn điển tích thì đều phải có ghi chú, nếu không sẽ khó hiểu. Nhưng vì các tác phẩm trong sách này có dùng quá nhiều điển tích lịch sử Trung Quốc, mà các điển tích đó thường là rất phức tạp, dài dòng, cho nên chúng tôi đành phải lược bớt, chỉ ghi chú khi thật cần thiết.

Trong việc chuyển ngữ sách này chúng tôi sử dụng “Từ điển Hán-Việt” của Viện Ngôn ngữ học, Phan Văn Các chủ biên.

____________

Tải về bản gốc chữ Hán và bản dịch tiếng Việt: https://drive.google.com/drive/folders/1c3neCVq2o88v5uBS74itgD-R4wBrtFqP?usp=share_link

Trang nhà chuyển ngữ: https://duongdenhanhphuc.vn/

30/12/2016

Lớp nghiên cứu học tập dành cho Hiệu trưởng năm 2016
"Giáo dục đức hạnh xây dựng văn hóa học đường cao thượng"

30/12/2016

Lớp Đệ Tử Quy tiếng anh sơ cấp 1
Từ ngày 14 đến ngày 20 tháng 6 năm 2015

Photos 27/11/2016

Tâm lượng càng rộng lớn, trí huệ sẽ càng to lớn

Phật dạy: Trí huệ viên mãn rốt ráo không phải chỉ có chư Phật mới có, mà hết thảy chúng sanh đều đầy đủ, ai nấy đều không thiếu, hết thảy mọi người đều có. Đã có, vì sao nay chúng ta lại cảm thấy như là hoàn toàn không có trí huệ, do nguyên nhân nào? Vì tâm lượng nhỏ nhoi, tâm lượng không rộng lớn, cho nên trí huệ chúng ta không thể hiện tiền. Trí huệ thuận theo tâm lượng mà mở rộng, tâm lượng chúng ta càng rộng lớn, trí huệ chúng ta sẽ càng to lớn. Chư thiên so với cõi người chúng ta trí huệ càng rộng lớn hơn, do đạo lý nào? Vì họ có tâm lượng lớn hơn chúng ta. Chư thiên Sắc Giới ngoại trừ tu Thiền Định, còn phải tu Tứ Vô Lượng Tâm, [tức là] Từ Bi Hỷ Xả, cho nên tâm lượng của họ đương nhiên to lớn hơn chúng ta, trí huệ rộng lớn hơn chúng ta. Tâm lượng Thanh Văn lớn hơn [chư thiên trong] cõi trời Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Tâm lượng Bích Chi Phật lớn hơn A La Hán. Tâm lượng Bồ Tát lớn hơn hàng Nhị Thừa. Tâm lượng càng lớn thì trí huệ từ trong bản tánh chúng ta lại càng tỏ lộ nhiều hơn. Vì thế, chớ nên có tâm lượng nhỏ hẹp, tâm lượng hạn hẹp là mê! Cho tới hàng Đẳng Giác Bồ Tát vẫn còn một phần pháp chấp chưa phá bỏ, vì thế, tâm lượng của họ không bằng Phật, tâm của Phật mới thật sự đạt đến viên mãn rốt ráo. Nếu hiểu rõ sự thật này, chúng ta mới hiểu rõ việc mở rộng tâm lượng rất quan trọng! Bồ Tát tu hành dạy chúng ta xả, bảo chúng ta buông xuống, xả những gì? Nói thật ra, chính là xả cái tâm lượng nhỏ nhoi ấy, xả phân biệt, chấp trước. Hễ còn phân biệt, chấp trước thì tâm lượng không lớn; khi xả hết rồi mới là viên mãn Bồ Đề, tức là đạt đến vô thượng.

[Trích lục từ giảng ký của Đại lão Hòa Thượng Tịnh Không]

Photos 27/11/2016

Ngày nay chúng ta tu hành, phiền phức ở chỗ nào?

Ngày nay chúng ta tu hành, phiền phức ở chỗ nào? Ở chỗ chúng ta thật sự có phân biệt, thật sự có chấp trước, vậy thì phiền quá, chưa buông xuống phân biệt, chấp trước của chính mình, chưa buông bỏ được. Phật dạy chúng ta buông xuống là buông xuống những thứ này, buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chính mình, chẳng phải là của người khác. Người khác thì sao? Của người khác thì chúng ta phải tùy thuận, phải thuận theo những vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của họ, và buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chính mình. Trong sự tùy thuận đó, công đức đã thành tựu. Trong tùy hỷ đã có công đức, thành tựu Định Huệ cho chính mình. Vì sao phải tùy thuận? Vì không tùy thuận, cảnh giới tu học của chúng ta sẽ không thể nâng cao. Tùy thuận cảnh giới nhưng không khởi tham ái, vì sao không khởi tham ái? Chính mình không còn vọng tưởng phân biệt chấp trước, vì không khởi tham ái thì cảnh giới chúng ta sẽ được nâng cao. Tùy thuận nghịch duyên, đối với ác cảnh không khởi tâm sân khuể, vì sao không sanh sân khuể? Vì chính mình đã không còn phân biệt, chấp trước, cảnh giới của chính mình lại được nâng cao.

[Trích lục từ giảng ký của Đại lão Hòa Thượng Tịnh Không]

Photos 27/11/2016

Định nghiệp là gì?

Trong kinh có nói Phật không thể chuyển được Định Nghiệp. Định nghiệp là gì? Tự mình làm tự mình chịu. Có thể không lãnh nhận hay không? Có thể, khi ngộ rồi không còn phải thọ nữa, khi mê vẫn phải thọ; cũng có nghĩa là người đã buông xuống thì không còn phải lãnh nhận nữa, chưa buông xuống được thì phải lãnh nhận. Chúng ta phải tự hỏi chính mình tự tư tự lợi đã buông xuống chưa? Nếu chưa buông xuống thì vẫn phải thọ! Tham, sân, si, mạn đã buông xuống hay chưa? Thị phi nhân ngã đã buông xuống hay chưa? Chưa buông xuống, những nghiệp chúng ta gây tạo đời này hoặc đời trước, thiện nghiệp nhất định có thiện quả, ác nghiệp nhất định có ác báo, chúng ta hết thảy đều phải lãnh nhận hết, chừng nào chúng ta giác ngộ, vừa giác ngộ, vừa hồi đầu sẽ khác hẳn. Giống như khi chúng ta nằm mơ vậy, trong mộng chúng ta còn có cảm nhận hay không? Trong mộng gặp chuyện vui sướng, chúng ta có lạc thọ; trong mộng gặp tai nạn, chúng ta có khổ thọ. Một khi tỉnh giấc sẽ không còn nữa! Chỉ là như vậy mà thôi, khi nào chúng ta từ trong mộng tỉnh dậy sẽ không còn phải lãnh nhận nữa.

[Trích lục từ giảng ký của Đại lão Hòa Thượng Tịnh Không]

29/10/2016

"Duy Tâm" Và "Duy Vật" Vốn Dĩ Là Một

Tiến sĩ Masaru Emoto (Giang Bổn Thắng (1943-2014)) người Nhật làm thí nghiệm về nước ở Hồ Tỳ Bà. Thí nghiệm này làm thành công rồi. Thuyết minh ý niệm chúng ta thực sự có thể sửa đổi sơn hà đại địa. Hồ Ty Bà của Nhật Bản là một cái hồ rất lớn, giống như biển vậy, diện tích rất lớn. Như một eo biển, nước trong eo biển là nước chết, tức không lưu thông, nước chết. Hai mươi năm nay dơ dáy, mùi vị rất khó chịu. Tiến sĩ Giang Bổn dùng nơi này để làm thí nghiệm, nhìn xem ý niệm của chúng ta có thể thay đổi nó hay không. Ông ấy tìm 350 người, mời thêm một vị hòa thượng. Ông ấy không theo tôn giáo, ông là nhà khoa học. Ông làm thí nghiệm. Để 350 người này dưới sự hướng dẫn của Lão hòa thượng, thí nghiệm một tiếng đồng hồ. Một tiếng đồng hồ này mọi người đều buông bỏ tất cả vọng niệm, không nghĩ điều gì cả. Chỉ nghĩ một sự việc, cùng nhau nghĩ về một việc: nước hồ trong sạch rồi. Chỉ nghĩ một việc này thôi. Miệng cũng niệm: nước hồ trong sạch rồi. Trong tâm nghĩ: nước hồ trong sạch rồi. Miệng và tâm nhất trí, lại thêm một điều: tôi yêu bạn. Niệm một tiếng đồng hồ, ba ngày sau nước trong hồ này thực sự trong sạch, hiện tượng dơ nhớp không còn nữa. Hồ này gió yên sóng lặng, mùi vị khó ngửi kia cũng không còn nữa. Thực sự thành công rồi. Truyền thông Nhật Bản đều đưa tin về sự việc này. Cho rằng là kỳ tích. Quí vị xem, 350 người buông bỏ tất cả vọng niệm chỉ nghĩ một sự việc, điều này trong kinh Phật nói: “chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện”, khiến nước hồ trong sạch, nước hồ thực sự trong sạch rồi. Sạch được bao lâu? Tiến sĩ Giang Bổn nói với tôi được nửa năm, sau nửa năm nó trở lại như cũ. Cho nên loại ý niệm này cũng giống như cầu nguyện vậy. Có ích, hữu hiệu, nhưng là trị ngọn không trị gốc. Làm thế nào mới trị gốc? Nhớ kỹ, trong kinh Phật thường nói cho chúng ta: “tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, nếu như tâm địa chúng ta thanh tịnh, trong tâm chúng ta không có tạp niệm, không có những ý niệm bất thiện, thì nước hồ này sẽ vĩnh viễn trong sạch, sẽ không biến chất thêm nữa.

[Trích từ video "Nguồn Gốc Tai Nạn Của Người Thế Gian]
Chủ trì: Thầy giáo Trần Đại Huệ
Khách mời: Lão Hòa Thượng Tịnh Không
Xem đầy đủ tại: https://youtu.be/OvVCDOADTqA

27/10/2016

Hòa Thượng Tịnh Không khai thị về sách "Âm Luật Vô Tình"

Khoảng thời gian trước có một bạn học tặng cho tôi một cuốn sách gọi là “Âm luật vô tình”, tôi không có xem vì không có thời gian; hôm kia là tặng tiếp 1 cuốn, nội dung cũng y chang, nhưng có điều là xuất bản khác nhau, tựa sách cũng là “Âm luật vô tình”. Cuốn sách này là từ đâu tới? vị cư sĩ này được Phật Bồ Tát tiếp dẫn đến địa ngục tham quan, sau đó mới đem những gì thấy được ở địa ngục viết ra cuốn sách này, nhân quả báo ứng không sai biệt chút nào. Tôi tin rằng đó là thật, không phải là hư giả, nhưng mà cuốn sách này không thể lưu truyền ra ngoài. Tại sao? Bởi vì không phải là kinh Phật. Bây giờ đang là thời loạn thế, loạn đến cùng cực, những thông tin như vậy thì vô cùng nhiều, có mang lại lợi ích gì không? Dùng để khuyến thiện đích thực có lợi ích. Dạy chúng ta nhận thức đâu là thiện đâu là ác, là sách tốt, là một cuốn thiện thư, nhưng không phải là Phật Pháp, cái này chúng ta phải hiểu rõ. Lấy danh nghĩa là sách tốt trên thế gian có thể thể lưu hành, nhưng nếu coi đó là Phật Pháp thì tuyệt đối không được lưu hành, chúng ta phải phân biệt rõ như vậy. Đối với người hiện nay mà nói, nếu như họ xem được thì đích thực thu được lợi ích, nhưng mà tôi tin là người tin tưởng thì không nhiều, nếu như nhiều người tin thì tốt rồi. Người thật sự tin vào nhân quả báo ứng, người đó sẽ tin Phật Pháp; người không tin vào Phật Pháp, người đó cũng sẽ không tin nhân quả báo ứng.

[Trích từ Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú 2011]
Tập 483, Thời gian 22-08-2012
Địa điểm: Hiệp Hội Giáo Dục Phật Đà Hồng Kông

Photos 11/10/2016

“Một Miếng Ăn, Miếng Uống Đều Đã Định Sẵn”

Nói theo luật nhân quả, trong cuộc đời mỗi người chúng ta, nói thật ra, số mạng quý vị đã được định trước, chẳng có cách nào vượt khỏi vận mạng! Vì thế, đại đa số con người khi đi xem tướng, quý vị thấy thầy tướng số đoán mạng rất chuẩn xác, người ta nói rành rọt quá khứ, hiện tại, vị lai chẳng sai chút nào, có thể thấy là đều đã được định sẵn! Quý vị đọc Liễu Phàm Tứ Huấn, sách Liễu Phàm Tứ Huấn vô cùng hay, có thể khiến quý vị khai ngộ, mới hiểu vận mạng suốt đời của mỗi người đã định sẵn, “một miếng ăn, một hớp uống, không gì chẳng được định trước”. Khổng tiên sinh đoán mạng cho Viên Liễu Phàm, mỗi năm ông Viên thu nhập bao nhiêu tiền, phê đoán Bát Tự* (*: Bát Tự còn gọi là Tứ Trụ hoặc Tử Bình, là một cách đoán vận mạng dựa trên Thiên Can và Địa Chi của năm, tháng, ngày, giờ sanh, đem phối hợp Ngũ Hành Âm Dương tương sanh, tương khắc để luận đoán. Quan niệm này đã có từ rất lâu đời, được bổ sung và hệ thống hóa bởi Lý Hư Trung vào đời Đường và Từ Tử Bình vào đời Ngũ Đại. Người có công hệ thống hóa cũng như bổ sung lý luận thấu đáo nhất là Từ Tử Bình nên môn này được gọi là Tử Bình Bát Tự từ đó.) rành rẽ, kết toán [chi thu] mỗi năm chẳng sai tí nào, chẳng nhiều hơn, chẳng ít hơn, trong mạng đã định sẵn rồi. Trong mạng đã được định trước là có, sẽ luôn có. Trong mạng đã định sẵn không có, cầu cách nào cũng không được. Vì thế, Viên Liễu Phàm tin vào vận mạng, vọng tưởng gì cũng chẳng cần nghĩ tới, vì sao? Trong mạng đã định sẵn rồi, ta có muốn cũng chẳng được! Trong mạng là có thì ta chẳng muốn cũng không được luôn! Coi như xong, đơn giản là chẳng nghĩ tới nữa! Tâm ông ta thanh tịnh, đắc Định rồi, mà cũng đắc tam muội. Ông ta và hòa thượng Vân Cốc hai người ngồi xếp bằng trong Thiền Đường suốt ba ngày ba đêm, trong tâm chẳng dấy lên một vọng tưởng nào! Hòa thượng Vân Cốc thấy vậy bội phục vô cùng: Một người có công phu Thiền Định sâu như thế chẳng dễ có, ba ngày ba đêm ngồi trên bồ đoàn chẳng dấy lên một vọng tưởng nào! Do vậy, hết sức ca ngợi ông ta. Ông ta mới cho biết: “Mạng tôi đã được Khổng tiên sinh đoán sẵn rồi, hết thảy đều biết”. Ông ta nói: “Tôi có suy tưởng cũng uổng công; nên đơn giản là chẳng nghĩ tới nữa”. Nghe xong, thiền sư Vân Cốc cười ha hả: “Tôi ngỡ ông là thánh nhân, [nào ngờ] vốn là phàm phu”. Thánh nhân là công phu thành tựu, còn ông ta là phàm phu, tin tưởng nhân quả, coi như chẳng cần nghĩ tới, có nghĩ tới cũng uổng công, suy tưởng đều là vọng tưởng, cớ gì chính mình phải chịu khổ? Vì thế, chẳng nghĩ tới. Vì thế, ông ta chưa phải là định, mà là hiểu rõ nhân quả.

Chúng ta phải tin sâu nhân quả, “một miếng ăn, miếng uống đều đã định sẵn”, có thể tin sâu chẳng nghi thì tự nhiên có thể buông xuống, sẽ dám buông xuống. Nhiều người chẳng dám buông xuống vì sợ nếu buông xuống hết tất cả thì ngày mai phải làm sao đây? Cứ luôn nghĩ trước, nghĩ sau, chẳng chịu buông xuống triệt để. Ðây là vì chẳng hiểu rõ Sự Lý, chẳng sanh khởi lòng tin. Nhưng sự thật là buông xuống càng nhiều thì thâu hoạch càng nhiều. Giàu sang từ đâu đến? Từ bố thí tài vật mà đến, đây là quả báo. Quả báo của bố thí pháp là thông minh trí huệ, quả báo của bố thí vô úy là khỏe mạnh, sống lâu, tóm lại càng bố thí thì được càng nhiều.

Nếu chẳng thay đổi từ tâm lý, hành vi thì niệm Phật sẽ chẳng được vãng sanh. Trong kinh nói rất rõ ràng, Tây Phương Cực Lạc thế giới là “nơi những người thiện nhất tụ hội”, nếu tâm hạnh của chúng ta chẳng thiện, làm sao có thể vãng sanh! “Tâm tịnh thì cõi Phật tịnh”, tâm thanh tịnh là tâm thiện lành nhất. Hết thảy tai họa đều từ phiền não sanh khởi, đều từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước sanh khởi; nếu tâm địa thanh tịnh, những tai nạn này sẽ tiêu trừ. Xa lìa hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì tâm mới được thanh tịnh. Trong kinh Kim Cang có dạy: “Chẳng chấp vào tướng, như như bất động”. “Chẳng chấp vào tướng” tức là khi sáu căn tiếp xúc cảnh giới bên ngoài chẳng bị dụ hoặc, đó gọi là “chẳng chấp tướng”. Ðương lúc tiếp xúc ngoại cảnh, nếu trong tâm chẳng khởi tham, sân, si, mạn, chẳng khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, đó gọi là “chẳng động tâm”. “Ngoài chẳng chấp tướng, trong chẳng động tâm” là tiêu chuẩn của tâm thanh tịnh. Ngàn kinh vạn luận, vô lượng pháp môn đều giảng về việc này, đều hy vọng chúng ta đạt đến mức này.

Nếu thật sự nhìn thấu (thấy thấu suốt), buông bỏ tự tư tự lợi, niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ, trong kinh Di Ðà nói: “Niệm từ một ngày đến bảy ngày” sẽ được thành công. Những người y giáo tu hành xưa nay niệm Phật vãng sanh rất nhiều, phổ biến nhất là từ hai đến ba năm đều vãng sanh. Tại sao có người chẳng nhiều hơn bảy ngày, có người lại phải niệm hai ba năm? Người tin sâu nguyệt thiết, thực sự niệm đến khi mất hết những tâm niệm tự tư tự lợi thì tự nhiên cảm ứng hiện tiền, công phu thành tựu.

Chúng ta nhìn thấy có nhiều người ra đi rất tiêu sái (tiêu sái nghĩa là nhàn hạ, chẳng vướng bận) tự tại, chẳng có bịnh khổ, [làm cho người khác] vô cùng hâm mộ. Tôi thường nhắc nhở mọi người, chúng ta nhất định phải làm được. Nếu làm chẳng được thì trong lúc bịnh nặng, thân thể chịu sự sắp đặt của người khác, tự mình chẳng thể làm chủ, sẽ chẳng nắm chắc việc vãng sanh, thế nên bây giờ phải dự bị cho tương lai. Phương pháp tốt nhất là chẳng cần người khác chăm sóc, có thể biết trước ngày giờ ra đi, muốn đi lúc nào thì ra đi lúc đó. Nhất định phải hạ quyết tâm làm việc này cho bằng được thì đời này mới chẳng luống uổng. Những việc còn lại toàn là giả, chỉ có việc này là thật mà thôi. Chúng ta nói về “tự lợi”, đây mới thực sự là tự lợi.

Cho dù rất thương mến con cái và người thân của mình, cái tâm phàm phu ấy cũng không thể gọi là từ bi, vì nó có chứa đựng tâm niệm khống chế, chiếm hữu trong đó. Mỗi khi khởi lên một tâm niệm gì đều muốn điều khiển, khống chế [muốn người ta làm theo ý mình], muốn chiếm lấy tất cả người, sự, và vật, như vậy là sai lầm. Sai ở chỗ nào? Ðức Phật dạy chúng ta: “Năng sở giai không, liễu bất khả đắc” (năng và sở đều là không, trọn chẳng thể lấy được, có được). Trong sáu trăm quyển kinh Bát Nhã, ba chữ “bất khả đắc” (không thể lấy được, có được) đã lập đi lập lại trên ngàn lần, đó là muốn cho chúng ta ghi nhớ kỹ “bất khả đắc” là chân tướng sự thật, nếu cứ tưởng tất cả có năng đắc, có sở đắc (có cái làm chủ thể để đạt được, có cái để mình lấy được), đó đều là ngu si, vô minh.

Nếu hiểu thấu tất cả pháp đều không thể có được, năng và sở đều không thể đạt được thì quý vị sẽ giải thoát. Dùng danh từ hiện nay để nói thì “giải thoát” tức là tâm lý không có ràng buộc, lo lắng, bận bịu, tâm của quý vị được tự tại, buông xuống hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Nguyên nhân khiến cho chúng ta việc gì cũng không buông xuống được chính là vì ngu si chưa bị phá trừ, vẫn còn cho là “có năng đắc, có sở đắc”, trong tâm còn bị ràng buộc, còn lo âu, cho nên sống rất khổ sở, công phu tu học cũng không đắc lực.

Do vậy đừng nên có tâm riêng tư, dục vọng, tâm niệm muốn chiếm hữu (chiếm đoạt), tâm niệm chiếm hữu này là căn bản của sanh tử luân hồi, là nguồn gốc của hết thảy tội nghiệp; chúng ta phải nhổ trừ tội căn này. Tại sao chớ nên chiếm hữu? Phật dạy: “Hết thảy pháp đều không”, ngạn ngữ cũng nói: “Sanh chẳng mang đến, chết chẳng mang theo”, vậy thì tại sao có thể chiếm hữu cho được? Ðây là nói theo hiện tượng thô thiển, xét sâu hơn thì như Phật dạy: “Nhất thiết chư pháp, nhân duyên sở sanh, vô hữu tự tánh, đương thể tức không, liễu bất khả đắc” (Hết thảy các pháp do nhân duyên sanh, chẳng có tự tánh, đương thể tức không, trọn chẳng thể được). Không chỉ các vật ngoài thân chẳng thể được, mà ngay cả thân thể này cũng chẳng thể được. Chẳng có tâm chiếm lấy, chiếm hữu những vật ngoài thân, đối với thân thể cũng chẳng có ý niệm là thân “của mình”, như vậy thì vấn đề sẽ được giải quyết. Lúc đó “Một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”, quyết định sẽ sanh Tịnh Ðộ. Ðó là giải thoát, ra khỏi lục đạo luân hồi, ra khỏi mười pháp giới.

Nguyên nhân khiến cho người đời nay niệm Phật không bằng người xưa cũng là vì không thể “nhìn thấu, buông xả”. Chữ nhìn thấu (thấy thấu suốt) là trình độ hiểu rõ đối với trạng thái sanh hoạt hiện thực; nếu chúng ta không hiểu rõ, ham mê luyến tiếc thế gian thì đương nhiên sẽ không thể buông xuống. Cho nên quá nửa những người niệm Phật vãng sanh là những người già bảy tám chục tuổi, vì họ nhìn thấy nhiều, từng trải nhiều, biết hết thảy những việc trong thế gian đều là hư ảo không thật, bất luận sống trong cảnh thuận hoặc nghịch, trải qua một thời gian dài sẽ chán chường, cảm thấy chán ghét cuộc sống, không muốn ở lại thêm nữa, đến lúc ấy sẽ buông xuống hết, đây là một yếu tố rất quan trọng. Nếu cảm thấy thế gian này còn rất đẹp đẽ, vẫn còn muốn sống thêm vài năm nữa, thậm chí muốn sống thêm vài chục năm, vài trăm năm nữa, họ không thể buông xả, buông xuống thì công phu làm sao có thể đắc lực cho được! Phật pháp nói đến chuyện giác ngộ tức là giác ngộ việc này.

[Trích lục từ giảng ký của Đại lão Hòa Thượng Tịnh Không]

Photos 14/08/2016

[...[ Điểm thù thắng nhất trong Phật pháp làm cho chúng ta khâm phục đến năm vóc sát đất là Phật pháp chỉ dạy một cá nhân tôi chứ chẳng dạy ai khác, đây là điều tôi hiểu rất rõ ràng. Phần đông các đồng tu học Phật cả đời chẳng đạt được lợi ích, vẫn phải trôi lăn trong lục đạo luân hồi y như cũ vì họ nghĩ rằng Phật pháp là nhằm dạy người khác. Học Phật pháp rồi mà cứ luôn xét nét người khác, họ quên quay lại nhìn bản thân mình, đó là hoàn toàn trái ngược với tinh thần của Phật pháp. Tinh thần của Phật pháp là nhằm xét đoán chính mình, chứ không xét đoán người khác, người khác đều là người tốt, đều là Phật, Bồ Tát, những gì người khác làm đều đúng đắn, đều chính xác. Người khác tạo ác nghiệp là tạo cho ta coi; họ đọa địa ngục cũng là đọa để răn nhắc ta, làm cho ta cảnh giác. Bất luận duyên bên ngoài là ác duyên hay thiện duyên, là thuận cảnh hay nghịch cảnh, hết thảy đều là chư Phật, Bồ Tát từ bi thị hiện cho ta thấy, độ chính ta, [nếu hiểu như vậy] ta sẽ thành công!

Do vậy học Phật nhất định phải học Thiện Tài đồng tử, trong năm mươi ba lần tham vấn của Thiện Tài đồng tử, chỉ có một người [là học trò], chẳng có đồng tham đạo hữu. Nếu có đồng tham đạo hữu thì đó là phàm phu, kẻ ấy chẳng thể thành tựu, vì sao? “Vì quý vị chẳng khác gì tôi!”, ngày ngày đều nhìn thấy lỗi lầm của kẻ khác, chẳng thấy lỗi lầm của chính mình. Trên đường Bồ Đề chỉ có mình tôi là phàm phu, hết thảy người khác đều là chư Phật Như Lai, tánh đức trong Thập Đại Nguyện Vương “lễ kính chư Phật, xưng tán Như Lai” tự nhiên sẽ hiện ra, vì sao? Hết thảy bên ngoài đều là chư Phật Như Lai, chỉ có mình ta là phàm phu. Mười pháp giới đều là Chư Phật Như Lai đại từ đại bi biến hiện ra cho ta xem, để cảnh tỉnh ta, để khuyến cáo ta. Trong Đàn Kinh, Lục Tổ dạy “Nếu thật sự là người tu đạo chẳng nhìn thấy lỗi lầm của kẻ khác”, thế gian chẳng có lỗi lầm, chỉ thấy lỗi của mình, như vậy mình mới có thể thành tựu. Sợ nhất là [ý niệm] “chính mình chẳng có lỗi lầm, đều là lỗi của người khác”, người đó là chúng sanh trong địa ngục, đó chẳng phải là người thường. Chúng ta nhất định phải biết “tôi có phải là chúng sanh trong địa ngục hay không?”, học Phật như vậy thì quý vị mới có tiến bộ, mới có tiến triển, mới không đến nỗi đọa lạc, trên đường Bồ Đề quý vị mới có thể thật sự đạt được pháp hỷ, mới đạt được lợi ích chân thật.

[Trích lục từ giảng ký]
Lão Hòa Thượng Thượng Tịnh Hạ Không
Minh Trí và Mẫn Đạt chuyển ngữ
Như Hòa nhuận văn

Want your school to be the top-listed School/college in Malacca City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address


D1 Level 2, No.1, Jalan Tun Hamzah, Mukim Bukit Katil, Hang Tuah Jaya
Malacca City
75450