Giác Ngộ

Giác Ngộ HỌC PHÁP LUÂN CÔNG GIÚP BẠN ĐỀ CAO TÂM TÍNH VÀ SỨC KHỎE THEO CHÂN THIỆN NHẪN � TÌM HIỂU VỀ PHÁP LUÂN CÔNG �

Phần I. Pháp Luân Công là gì

1.

Pháp Luân Công là gì? Pháp Luân Công là một môn khí công tu luyện. Tu là tu sửa tâm tính theo nguyên lý Chân Thiện Nhẫn, luyện là luyện tập 5 bài công pháp. Quý vị có thể xem thêm phần giới thiệu tại đây: https://vi.falundafa.org/introduction.html

2. Khí công là gì, tu luyện là gì? Cách gọi “khí công” mới có ở bên Trung Quốc từ khoảng những năm 1970, trước đây đều gọi là tu luyện. Ở Việt Nam cũng

hay gọi là dưỡng sinh. Các môn khí công phổ biến trên thế giới như Thái Cực Quyền, Yoga.

3. Vậy Pháp Luân Công khác Yoga và Thái cực quyền như thế nào? Các bài luyện động tác của Pháp Luân Công tương đối dễ tập hơn, Pháp Luân Công ngoài các bài luyện thì chú trọng hơn đến nguyên lý tu tâm. Trong khi Yoga và Thái cực quyền đã bị thất truyền mất nguyên lý tu tâm nên chỉ còn các bài tập.

4. Tu luyện Pháp Luân Công có tác dụng gì? Tác dụng hay nói đến là nâng cao sức khỏe và chữa bệnh. Đồng thời việc tu sửa tâm tính cũng giúp người ta có cuộc sống tinh thần nhẹ nhàng hơn. Bởi vì khi hiểu được các quy luật vận động của cuộc sống, vũ trụ và thân thể người thì người ta đối diện với cuộc sống một cách chủ động. Những ai có căn cơ, duyên phận và nỗ lực tu luyện, thì hiểu rằng mục đích cuối cùng của Pháp Luân Công cũng như các môn tu luyện chân chính, đều nhằm đạt tới giác ngộ.

5. Tu luyện Pháp Luân Công tại sao lại khỏi được bệnh?

Đông y nói về nguyên nhân bị bệnh là do khí trong đường kinh lạc bị ức tắc, các bài tập của Pháp Luân Công nói riêng và của khí công nói chung giúp đả khai kinh lạc, nên có tác dụng khỏi bệnh. Đông y còn nói về bệnh liên quan đến thất tình lục dục, tức là các cảm xúc thái quá. VD Giận quá hại gan, vui quá hại tim, buồn quá hại phổi, lo lắng quá hại dạ dày, sợ quá hại thận. Khi tu tâm theo nguyên lý Chân Thiện Nhẫn, người ta có xu hướng bình hòa hơn nên cũng giảm các nguy cơ bệnh tật. Nói chung chữa bệnh có nhiều phương pháp, với các nguyên lý, cách tiếp cận khác nhau. Ví dụ châm cứu đã có từ hàng ngàn năm qua, nhưng tây y hiện nay dù rất hiện đại nhưng cũng chưa có hiểu biết về đường kinh lạc. Bởi vì khoa học hiện đại mới hiểu biết đến các hạt như proton, quark, neutrino, nhưng “khí” trong kinh lạc là vật chất vi tế hơn nữa, do vậy không thể dùng hiểu biết của khoa học hiện đại để lý giải nguyên lý, phương pháp châm cứu. Thực ra, cấu tạo của thân thể người vô cùng phức tạp, và sự liên quan giữa thân thể và tinh thần là rất chặt chẽ. Các phương pháp chữa bệnh đều có lý lẽ, nguyên lý và đều không mâu thuẫn với nhau. Những gì mà con người hiểu biết được hôm nay đều là điều mà hôm qua chưa thể lý giải. Hàng trăm triệu người đã trải nghiệm nâng cao sức khoẻ, khỏi bệnh, thậm chí nhiều trường hợp khỏi bệnh nan y đã là minh chứng cho tính khoa học của tu luyện Pháp Luân Công.

Ở mức độ sâu xa hơn của tu luyện, khi một người bắt đầu luyện công, đặc biệt là tu sửa tâm tính theo nguyên lý Chân Thiện Nhẫn, thì thường diễn ra một cơ chế rất đặc thù. Ngôn ngữ tu luyện gọi là “Tịnh hóa”, nó giúp loại bỏ dần các bệnh tật và giúp tinh thần cũng nhẹ nhõm hơn. Nếu chỉ dựa vào cơ chế khí công, như khai thông kinh lạc để đạt đến mức độ khỏi bệnh, thì cho dù rất công phu cũng chỉ có thể khỏi các bệnh đơn giản. Thực chất chính là như vậy, đây cũng là một trong những bí mật của tu luyện, ngôn ngữ hiện đại thường gọi là “khoa học tâm linh”. Nếu chúng ta để ý thì trong các câu chuyện xưa, những hòa thượng và đạo sĩ tu luyện trong quá khứ không bao giờ thấy họ bị bệnh, bởi vì tu luyện nghiêm túc thì thân thể sẽ đạt đến trạng thái không còn bệnh.

6. Vậy Thái cực quyền, Yoga đâu cần nguyên lý đâu mà vẫn tốt, hay tu bên nhiều tôn giáo đâu có cần động tác đâu? Thái cực và Yoga do thất truyền nguyên lý tu tâm, nên hiện chỉ còn là các môn khí công thể dục nhằm mục đích nâng cao sức khỏe, nhưng ngay cả để đạt hiệu quả chữ bệnh nâng cao sức khỏe cũng cần luyện tập rất công phu

Nhiều môn tôn giáo thường chỉ chú trọng tu tâm chứ không có phần luyện thân, đó là do đặc điểm của mỗi pháp môn quy định. Pháp Luân Đại Pháp vừa tu tâm, vừa luyện thân, gọi là tính mệnh song tu.

Ở một góc độ khác, người ta thường nói về “tu tại gia, tu tại chợ”, tu luyện Pháp Luân Công chính là tu trong cuộc sống và công việc, chứ không cần địa điểm đặc định như tôn giáo. “Tu” là chỉnh sửa các tâm xấu, Pháp Luân Công lựa chọn môi trường thực tế, khi người ta va chạm sẽ dễ nhận ra các tâm xấu của mình để tu sửa. Khi các tâm xấu ít đi, dần dần người ta cũng có thể tĩnh lại, cũng gọi là “định” lại. Trong khi chuyên tu trong tôn giáo thường chọn con đường thoát tục, tức là tránh va chạm với cuộc sống, từ đó đạt tới tĩnh tâm, và cũng đạt tới “định”.

7. Tập Pháp Luân Công có thủ tục tham gia như thế nào, có tổ chức không? Nếu muốn tập Pháp Luân Công thì bắt đầu như thế nào? Học phí và các loại phí như thế nào? Pháp Luân Công không có tổ chức mà là môn tu luyện tự do, tự giác. Ở một số quốc gia, Pháp Luân Công có thành lập tổ chức theo yêu cầu của pháp luật sở tại, nhưng cá nhân đại diện cho tổ chức đó cũng không có bất cứ quyền lực gì với bất kì ai. Ngay cả Sư Phụ của Pháp Luân Công cũng chỉ giảng ra nguyên lý, không bao giờ nói mình có quyền gì với học viên. Nói chung việc tu luyện Pháp Luân Công không cần tổ chức, không có nghi lễ, cũng không ghi danh, ai muốn tập thì tập, không muốn tập cũng không cần báo cáo với ai. Một người hoàn toàn có thế tự đọc sách và học các bài công pháp qua trang web sau, hoặc có thể liên hệ với những người tập có kinh nghiệm và các thông tin về điểm luyện công gần nhất trên internet. Trang web chính thức của Pháp Luân Công là http://vi.falundafa.org/index.html

Tu luyện Pháp Luân Công không có phí, bởi vì đó là để tu luyện. Một trong những điều cấm kị nhất của Pháp Luân Công là thu phí, ai hướng dẫn người khác mà thu phí thì tu luyện sẽ vô ích. Riêng về sách và các Bài giảng của Pháp Luân Công, mọi người có thể tự in hoặc nhờ người khác in ra để đọc, chỉ lưu ý là nên giữ gìn cẩn thận bởi vì đó là sách để tu luyện.

8. Tại sao Pháp Luân Công bị đàn áp tại Trung Quốc? Cuộc đàn áp Pháp Luân Công tại Trung Quốc bắt đầu từ tháng 7 năm 1999 với 3 lý do chủ yếu:

– Một là chính quyền ĐCSTQ từ khi ra đời đến nay chưa bao giờ ngừng các cuộc đàn áp dân chúng Trung Quốc. Đó là một phần trong phương thức duy trì quyền lực của họ, thông qua việc tạo ra bầu không khí khủng bố và sợ hãi của công chúng đối với ĐCSTQ. Do vậy Pháp Luân Công cũng chỉ là một nhóm người trong rất nhiều các nhóm người tại Trung Quốc bị ĐCSTQ bức hại. Thực ra tất cả các nhóm người tại Trung Quốc đều bị bức hại, ngay cả hiện nay việc bức hại vẫn đang diễn ra khốc liệt với phật tử Phật giáo Tây Tạng, người Hồi Duy Ngô Nhĩ, người theo Công giáo tự gia, các nhà báo, luật sư độc lập và người bất đồng chính kiến. Mọi người quan tâm có thể tìm hiểu xem những nhóm người nào đã bị bức hại bởi ĐCSTQ qua bài viết: https://tansinh.net/nhan-qua/nhung-ai-da-bi-buc-hai-boi-dang-cong-san-trung-quoc/

– Hai là tất cả các nhóm người tại Trung Quốc đều phải bị ĐCSTQ kiểm soát thông qua các tổ chức. ĐCSTQ muốn kiểm soát Pháp Luân Công bằng cách kiểm soát tổ chức và bổ nhiệm người đứng đầu, nhưng Pháp Luân Công cũng không có tổ chức theo kiểu có quyền lực với bất kì ai, nên cũng không thể thông qua đó để kiểm soát điều gì. Khi không có gì để kiểm soát thì cảm giác lo sợ về sự mất quyền lực đã khiến ĐCSTQ lựa chọn bức hại.

– Ba là yếu tố cá nhân lãnh đạo Giang Trạch Dân, quyền lực tập trung tuyệt đối làm ông ta có tâm lý tật đố nặng nề. Người sáng lập Pháp Luân Công với tư cách là một người dân bình thường, nhưng lại có hàng trăm triệu học viên kính trọng, trong đó có nhiều đảng viên, lãnh đạo…. Mặc dù Lý Sự Phụ đã chủ động ra nước ngoài sinh sống từ năm 1996 và rất ít về nước. Khi về cũng chỉ gặp gỡ học viên trong một phạm vi hẹp vào dịp chia sẻ kinh nghiệm tu luyện. Mặc dù vậy, thói quen lo sợ nhóm người nào đó ảnh hưởng tới quyền lực đã tích tụ tâm lý lo sợ của Giang Trạch Dân. Sau nhiều cuộc điều tra bí mật cũng như chính thức của nhiều cơ quan, cá nhân lãnh đạo ĐCSTQ nhưng đều không nhận thấy Pháp Luân Công có điều gì sai trái hay chống đối chính quyền. Như kết luận của nguyên chủ tịch quốc hội Kiều Thạch là “Pháp Luân Công đối với nhân dân, đối với đất nước chỉ có trăm điều lợi mà không có một điều hại”. Thực ra lúc đó không có vị lãnh đạo nào trong thường trực bộ chính trị ĐCSTQ ủng hộ đàn áp Pháp Luân Công, nhưng tâm lý tật đố và hoang tưởng về quyền lực tuyệt đối, Giang Trạch Dân cuối cùng đã cưỡng chế ra lệnh đàn áp. Có thể nói rằng yếu tố cá nhân ông Giang đã kết hợp với đặc điểm bản chất ĐCSTQ đã dẫn đến cuộc đàn áp tàn khốc này. Chỉ cần nhìn vào thực tế là, trong hơn 100 quốc gia có người tập Pháp Luân Công thì có chính quyền ĐCSTQ ngăn cấm và bức hại. Như vậy đã thấy sự bức hại ấy là bất thường, hơn nữa sự bức hại ấy cũng đã đi đến tột cùng về mức độ tà ác là mổ cướp nội tạng của con người. Do vậy ở góc độ khác, đây cũng là tình thế để mỗi người có sự lựa chọn phân biệt chính – tà, thiện – ác.

��� CHI TIẾT XEM TẠI: https://tansinh.net/van-co-co-duyen/su-that-ve-phap-luan-cong-30-cau-hoi-va-chia-se-cua-mot-hoc-vien/

🍀🍀🍀 Ý nghĩa thâm sâu của văn hóa Thần truyềnNgười xưa cho rằng Đạo sinh ra vũ trụ, Đạo sinh ra trời đất, Đạo là nguồn gố...
22/03/2022

🍀🍀🍀 Ý nghĩa thâm sâu của văn hóa Thần truyền

Người xưa cho rằng Đạo sinh ra vũ trụ, Đạo sinh ra trời đất, Đạo là nguồn gốc của vạn vật, là nhân (nguyên nhân) của vạn nhân. Văn hóa truyền thống là do Thần truyền cho con người, là thành tựu bởi Đạo, và lấy Đạo làm gốc rễ. Các Thánh hiền cổ đại thừa Thiên mệnh mà đến thế gian giáo hóa muôn dân, khiến mọi người trọng đức hướng Đạo. Nội dung chủ yếu của văn hóa truyền thống bao gồm rất nhiều tầng diện như tín ngưỡng chính thống, quan niệm đạo đức, đường hướng của giá trị, chế độ lễ nghĩa, phương thức sống, phong tục tập quán, văn hóa nghệ thuật. Ở phương Đông, hình thức của Đạo cắm rễ ở đạo lý của 3 gia phái là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, mang nội hàm rộng lớn tinh thâm.

🌸 Lai lịch và khởi nguồn của văn hóa Thần truyền

Từ “Văn hóa” xuất hiện sớm nhất trong “Dịch thư”: “Quan sát thiên văn để xét sự đổi thời, quan tâm nhân văn để giáo hóa thiên hạ”. Thiên văn, địa văn, nhân văn, đây là khái niệm có trọng lượng lớn trong văn hóa truyền thống. Thiên – Địa – Nhân được gọi là Tam Tài.

Về thiên tượng, câu mở đầu sách “Hoàng Đế thư” viết rằng: “Quan sát Đạo của trời, nắm được sự vận hành của trời, đó là tận thiện tận mỹ rồi”. Ý nghĩa là: có thể phân biệt rõ các “tượng” mà thiên văn thể hiện ra để quy phạm đạo đức xã hội, hành vi con người hợp với thiên tượng, như thế là điều tốt đẹp nhất.

Sách “Thuyết văn giải tự” cũng viết: “Cái hiển thị của Đạo gọi là văn”, “Hóa là dạy thực hành”. Thuận theo hiển tượng mà trời hiển thị ra để giáo hóa thiên hạ, đó chính là hàm nghĩa của văn hóa.

Từ “Nhân văn” ở đây xuất hiện cùng với “Thiên văn”, là chỉ quy tắc vận hành của xã hội nhân loại, đạo lý và quy phạm của thế giới nhân gian. Những điều của con người như vậy đều nên phải tuân theo quy luật của Thiên Đạo, phép tắc của vũ trụ.

Trong lịch sử, những Thánh hiền quân tử đạo đức cao thượng là những người cảm ngộ và thực hành chân lý, họ hành xử thuận theo Thiên ý, tu thân chứng Đạo, thiện hóa dân chúng. Phục Hy diễn dịch Bát quái; Thần Nông nếm bách thảo; Nghiêu, Thuấn, Vũ dùng đức trị sửa thế nhân, dẫn dắt người dân thờ Trời; Văn Vương có tài tiên đoán như Thần; Kinh Dịch ghi chép, luận thuật về quy luật trời đất, âm dương, vũ trụ, xã hội và nhân sinh ra đời; Lão Tử kế thừa văn hóa Thượng cổ để lại Đạo đức kinh; Khổng Tử kế thừa văn hóa Nho gia trị thế an bang; Phật Thích Ca Mâu Ni chứng ngộ truyền Pháp… Tín ngưỡng Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo đã kiến lập một thể hệ đạo đức vô cùng ổn định cho người Á Đông nói chung. Thể hệ đạo đức này là nền móng mà xã hội dựa vào đó để tồn tại, an định và hài hòa.

🌸 Nội dung và giá trị chủ yếu của văn hóa truyền thống

Nghĩa lý của Tam giáo: Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo là cốt lõi của văn hóa truyền thống, nó không chỉ có tác dụng đối với diện mạo tinh thần của con người, mà còn sinh ra quan niệm và khí tiết chung của cộng đồng, dân tộc, quốc gia. Nét đặc trưng dân tộc biểu hiện ra trong văn hóa truyền thống là kính Trời kính Thần, trọng lễ hiểu nghĩa, sùng đức báo ân…

Đơn cử như bộ “Nhị thập tứ sử” đồ sộ chẳng hạn. Nhìn từ bao quát mà nói, đây là một bộ liệt truyện tiết nghĩa “Phú quý không thể mê hoặc được, bần tiện không làm thay đổi được, uy vũ không thể khuất phục được”, nó đã được viết bằng khí tiết và tín niệm.

Đạo gia giảng Chân, Phật gia giảng Thiện, Nho gia giảng Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín… trong đó chứa đầy sự tìm tòi và cảm ngộ đối với chân lý vũ trụ và ý nghĩa đích thực của cuộc đời. Trong đó đã trả lời câu hỏi con người từ đâu đến, rồi đi về đâu, cuộc đời có phải còn có ý nghĩa cao cả hơn và có giá trị vĩnh hằng hay không. Đồng thời các chính tín này cũng cho con người biết đạo làm người ra sao, thăng hoa cảnh giới đạo đức như thế nào, cho đến đạt tiêu chuẩn của Phật Đạo Thần, đã chỉ ra phương hướng tâm linh cho con người.

Đạo đức quan của văn hóa truyền thống là chỗ dựa để tâm linh vươn lên và là chuẩn mực quy phạm hành vi con người, nó chứa đựng suối nguồn tinh thần bất tận cho người đời sau, hơn nữa nó trực tiếp thúc đẩy sự hình thành phát triển và nâng cao cảnh giới của các loại hình nghệ thuật truyền thống như văn học, âm nhạc, hội họa, thư pháp… Nội hàm thâm sâu của nó cần con người trong chính tín thăng hoa cảnh giới đạo đức để từng bước từng bước cảm nhận và thể nghiệm.

Sức mạnh của tín ngưỡng đạo đức có thể khiến thế giới không có phân tranh, chỉ có sự bình hòa thâm trầm. Đối diện với thế sự hỗn loạn và cảnh khốn cùng, nó cũng có thể khiến con người có được một miền Tịnh Thổ của tâm linh, có thể khiến con người giữ được sự bình lặng của tâm hồn. Trước sự chia rẽ giữa lợi ích và đạo đức, chúng ta còn có một ranh giới tiêu chuẩn đạo đức, do đó chúng ta không bị mê mất tự ngã, trong bất kỳ lúc nào cũng không trái với ý nguyện và lương tâm mình, vĩnh viễn không suy bại, vĩnh viễn có thể nhìn thấy hy vọng.

Bởi thế, người ta nếu có thể thuận ứng theo lẽ trời, làm đến cùng thì có thể làm đến bậc Thánh nhân, hiền nhân, thành Tiên thành Phật, chứng ngộ Đại Đạo, tế thế độ nhân. Còn khi mất đi nền văn minh đạo đức thì những thứ hư vọng tà tịch sẽ thừa sơ hở lẻn vào, khiến con người bước sang con đường hủy diệt.

🌸 Tính chất đặc trưng của văn hóa truyền thống

Nền văn hóa nói trên, trải qua toàn bộ lịch sử văn minh nhân loại, biểu hiện ra sức dung hợp và sức sống cực lớn. Tính bao dung to lớn của nó thể hiện trên quan niệm bao dung rộng lớn, hình thành nên khí chất và truyền thống đặc biệt “kiêm thu tính súc” (thu nạp dung nạp những thứ khác nhau), “hữu dung nãi đại” (bao dung nên trở nên vĩ đại), “hòa nhi bất đồng” (hài hòa nhưng không hòa đồng), “cầu đồng tồn dị” (tìm kiếm những cái tương đồng và bảo lưu những khác biệt).

Tinh thần “đức dày chở vật” và triết lý “hòa” hàm chứa trong văn hóa truyền thống được thể hiện đầy đủ trong tinh thần của tư tưởng “vô vi” của Đạo gia, “nhân nghĩa” của Nho gia, “từ bi” của Phật gia. Như Lão Tử đã nói: “Thứ mềm mại nhất thiên hạ thì có thể sai khiến thứ rắn chắc nhất thiên hạ”. Bởi vậy mấy có câu: “Không từ chối những hòn đất nhỏ nên trở thành núi cao; không từ bỏ những dòng nước nhỏ nên trở thành biển cả”. Nền văn hóa này có tính dung hợp không gì không bao hàm, và tính thẩm thấu không nơi nào không tới, sinh trưởng phát triển không ngừng.

Người phương Đông cổ xưa kính ngưỡng nhất có lẽ chính là thời kỳ thịnh Đường. Đây là thời kỳ mà triều chính trong sạch sáng sủa, nền kinh tế phát triển phồn vinh thịnh vượng, nền văn hóa văn minh, trong các phương diện như đời sống xã hội, văn hóa nghệ thuật… đều xuất hiện những cảnh tượng thịnh vượng chưa từng có. Điều này có liên quan mật thiết với khí độ bao dung hết thảy của văn hóa Đại Đường. Sự phát triển và hoằng dương của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo đồng thời đạt đến thời kỳ cực thịnh, khiến xã hội duy trì được tiêu chuẩn đạo đức khá cao, đạt được huy hoàng mà cả thế giới đều thán phục, đồng thời ảnh hưởng đến các nước phương Đông và nhiều nước khác trên thế giới.

🌸 Tinh túy của văn hóa truyền thống

🟡 1. Vũ trụ quan “Thiên – Nhân hợp nhất”

Thiên – Nhân hợp nhất là trung tâm của tinh thần văn hóa Thần truyền, luôn có địa vị chủ đạo trong văn hóa truyền thống, có ảnh hưởng sâu xa đến các lĩnh vực như luân lý đạo đức, quan niệm giá trị, ý thức thẩm mỹ, v.v.

Sách “Dịch thư” có nói: Thiên – Địa – Nhân là “Tam Tài” của vũ trụ. “Dịch thư” còn viết: “Sinh trưởng phát triển gọi là Dịch”, “Đức lớn của Trời Đất gọi là sinh”, con người cần phải kế thừa cái Thiện của Trời Đất, thành tựu cái Tính của Trời Đất, mở rộng sự sinh trưởng của Trời Đất, “Biết hết thảy vạn vật, dùng Đạo giúp khắp thiên hạ”, để đạt đến “Thiên – Nhân hợp đức”.

Văn hóa truyền thống là kính sợ Thiên mệnh, cho rằng Trời đã tạo ra con người và vạn vật, đồng thời trao cho đức hạnh và tính thiện, đặt ra phép tắc cho con người. Thiên – Nhân tương ứng, Thiên – Nhân tương thông, Thiên – Nhân nhất thể.

Khi tổng kết quy luật nhân sinh, Khổng Tử nói: “Ta 15 tuổi lập chí học Đạo, 30 tuổi thì xác lập được nền tảng đối nhân xử thế vững chắc, 40 tuổi thì không còn nghi hoặc điều gì, 50 tuổi thì biết được Thiên mệnh…”. Mạnh Tử nói: “Bảo tồn bản tâm thanh khiết, nuôi dưỡng bản tính Thiên phú, đó chính là phương pháp thờ phụng Trời”.

Phật gia và Đạo gia đều giảng Thiên lý tuần toàn, tin vào sinh tử luân hồi, thiện ác hữu báo. Trong sách “Sử lý”, phần “Nhạc thư” có viết: “Trời và người tương thông, giống như quan hệ giữa hình với bóng. Người làm việc tốt thì Trời dùng phúc báo đáp; người làm việc xấu thì Trời dùng họa báo đáp. Giống như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, là đạo lý rất tự nhiên. Vì vậy nói rằng, suy Đạo Trời để minh tỏ việc con người”.

Thời xưa, thiên tử coi trọng nhất là việc tế lễ. Tế lễ là để kính Thần, ca tụng đức hóa dục của Trời Đất. Con người phục tùng Thiên mệnh, là một hành vi đạo đức, Trời sẽ ban thưởng cho con người, nếu không thì Trời sẽ giáng hình phạt xuống cho con người. Thánh nhân vui với việc thực hành Đạo, vốn không phải là để cầu phúc. Vì cầu phúc mới hành thiện thì trong tâm đã là tư lợi rồi. Do đó chỉ nên dốc hết tâm lực của mình, thuận theo Trời, không được có một chút tâm kỳ vọng, cầu mong nào. Hành thiện trừ bỏ cái ác, cái xấu là việc trong bổn phận con người, chỉ cần bản thân có thể làm tròn việc con người, thành tâm, không gián đoạn, thì cuối cùng có thể cảm động Trời.

🟡 2. “Đạo trung dung”, “Trí trung hòa”

Sách “Trung dung” viết rằng: “Trung là gốc lớn của thiên hạ; hòa là đạt Đạo của thiên hạ. Trí trung hòa là vị trí của Trời Đất, vạn vật sinh trưởng”. Nho gia cho rằng: hết thảy những mâu thuẫn, xung đột giữa vật với mình, người với mình, lý trí và ham dục, quan hệ giữa người với người, đều nên dùng tiêu chuẩn của “Đạo trung dung”, “Trí trung hòa” để điều chỉnh, để đạt đến chí thành, chí thiện, thông hiểu đạo lý Trời Đất hóa dục vạn vật, như vậy Trời Đất vạn vật thứ gì có chỗ của thứ ấy, đạt đến cảnh giới hài hoà.

Khổng Tử nói: “Quân tử trung dung, tiểu nhân trái ngược trung dung. Sở dĩ quân tử trung dung là vì quân tử lúc nào cũng làm được trung chính thích hợp, không quá cũng không chưa tới. Sở dĩ tiểu nhân trái ngược trung dung là vì tiểu nhân trắng trợn bừa bãi, chuyên làm việc cực đoan”.

Chu Hy nói: “Trung là chính Đạo của thiên hạ, dung là định lý của thiên hạ”, Trung ở đây chính là chính xác không thiên lệch, Dung chính là bình thường không loạn.

Sách “Luận ngữ” viết: “Tác dụng của lễ là coi trọng hài hòa, đó là cái đẹp của Đạo của tiên vương”. Hòa có nghĩa là điều hòa, hài hòa. Tiên vương chế lễ làm nhạc để điều tiết quy phạm hành vi con người, để giáo hóa thiên hạ, đó chính là “bình thiên hạ”. Cổ nhân coi trọng “hòa vi quý”, tôn sùng Đạo trung dung, thực hiện lý tưởng “bình thiên hạ” là dựa vào nhân chính và tu đức, là điều gọi là “người ở xa không phục tùng thì tu sửa văn đức bản thân để đối đãi”. Tống Diệp Thích nói trong “Trung dung” rằng: “Người xưa lấy trung hòa dùng cho mình, thì Trời Đất tự ở vị trí, vạn vật tự sinh trưởng. Điều mà ta thuận theo là vua tôi Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn Vương, Vũ Vương. Làm như thế thì cái ngụy giả không nảy sinh được”.

Người xưa coi trọng hài hòa với trời đất, tự nhiên. Về vấn đề quan hệ nhân luân, giữa quần thể và bản thân, Tuân Tử khi luận thuật đã đề xuất khái niệm “Quần Đạo”. Ông cho rằng: Sở dĩ con người có quần thể là do có phân chia chức phận và có đạo nghĩa, không bởi tư dục mà làm tổn hại người khác và quần thể; giữa người với người cần quan tâm lẫn nhau, đôn hậu khoan dung. Phép tắc và chuẩn mực của Nho gia khi xử lý mối quan hệ giữa cá nhân với người khác, chủ yếu có Nhân, Lễ, Hòa, Nghĩa, Tín. Nho gia đề xướng Nhân: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Điều mình không muốn thì chớ làm cho người), “Kiến lợi tư nghĩa” (Thấy cái lợi phải nghĩ đến nghĩa), “Nhân vô tín bất lập” (Con người mà không có chữ tín thì không thể xác lập được chỗ đứng xã hội)…

🟡 3. Giá trị quan, nhân sinh quan

Trong “Kinh thi – Đại nhã – Chưng dân” có viết:

Trời sinh dân chúng
Có vật có phép
Dân giữ thường Đạo
Thích đức thiện mỹ.

Xuất phát từ vũ trụ quan Thiên – Nhân hợp nhất, quan niệm làm người của văn hóa truyền thống chủ trương bắt đầu làm từ việc hoàn thiện cá nhân, “từ thiên tử cho đến thứ dân, tất cả đều lấy việc tu thân làm gốc”, cho rằng con người thông qua việc tu thân có thể đạt đến cảnh giới Thiên – Nhân hợp nhất, có thể trực tiếp cảm ứng tương thông với Đại Đạo, cảm ứng với Thần. Nho gia giảng “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Khổng Tử đề xuất dùng Thận độc (cẩn thận ngay cả khi ở một mình) để tự đánh giá hành vi, suy nghĩ của bản thân. Con người cần có chí hướng lớn lao cao xa, tạo dựng nhân cách cao thượng “tòng tâm sở dục” (tùy theo ý muốn của cái tâm), quang minh lỗi lạc, mà lại “bất du củ” (không vượt ra ngoài phép tắc) (Luận ngữ – Vi chính). Chu Hy cũng đề xuất: người quân tử cần phải có thái độ đoan chính “tâm chính, ý thành”. Đạo gia giảng phản bổn quy chân, tu thành Chân nhân. Phật gia tu thiện, đạt đến cảnh giới của Phật.

Văn hóa truyền thống coi trọng tinh thần nhân ái, người quân tử nhân đức thuận Thiên tri mệnh, an bần lạc Đạo, đối với bản thân thì yêu cầu nghiêm khắc và toàn diện, đối với người khác thì khoan dung và giản ước. Văn hóa truyền thống yêu cầu mọi người phải nghĩ cho người khác, đối xử tốt và giúp đỡ người khác. Như Lão Tử đề xuất: “Thượng thiện nhược thủy” (Cái thiện cao nhất giống như nước), đề xướng hành vi tuân theo Đạo, hành động theo lý, dẫn dắt theo thế, hợp với tự nhiên, khiêm tốn, yên tĩnh, ở chỗ thấp, khoan dung như biển cả. Khổng Tử đề xuất “Nhân đức là yêu thương người”, “yêu thương rộng khắp”, cho rằng nên yêu thương hết thảy mọi người, không phân biệt xa gần, thân sơ. Sách “Mạnh Tử – Công Tôn Sửu thượng” viết: “Người quân tử không việc gì lớn hơn là thiện với người khác”, ý nghĩa là đức hạnh tối cao của người quân tử là ở chỗ “chí thiện”.

Trong văn hóa truyền thống, tinh thần và ý thức Đạo thống của Nho gia giúp khắp thiên hạ, của Phật gia đại từ đại bi, đã ảnh hưởng sâu sắc đến người phương Đông hết đời này đến đời khác. Mọi người coi việc truy cầu chân lý và đạo đức là quan trọng hơn hết thảy, luôn luôn kiên trì nguyên tắc của mình, trong bất kỳ tình huống nào cũng quyết không dao động. Trang Tử nói: “Đạt đến tận cùng của con người tức là Thần vậy. Đầm lớn đốt mà không nóng, sông lớn đông mà không lạnh, sét nhanh phá núi, gió nổi rung biển mà không kinh”.

Hàng trăm hàng nghìn năm nay, đức hạnh tốt đẹp của vô số chí sĩ nhân đức đã được truyền tụng rộng rãi: Đào Uyên Minh không khom lưng vì 5 đấu gạo; Gia Cát Lượng tiên tri biết trước sự việc; Nhạc Phi tinh trung báo quốc; Lục Du lo cho nước lo cho dân… có thể nói là nhiều không kể xiết. Những người này siêu vượt được mất cá nhân, không vui vì được, không buồn vì mất, hoặc một thân chính khí, hoặc hai tay gió mát, hoặc thỉnh mệnh cho dân, hoặc tinh trung báo quốc. Chính khí hạo nhiên của họ rực rỡ sử sách, chiếu sáng ngàn thu.

Văn hóa là do Thần truyền, con người là do Thần tạo ra, trung tâm của tín ngưỡng và chính tín truyền thống là dạy con người hướng thiện, tôn chỉ là làm theo quy luật vũ trụ, đạt đến sự hài hòa giữa con người và vũ trụ. Mục đích và ý nghĩa của văn hóa Thần truyền là ở chỗ dẫn dắt mọi người dùng tiêu chuẩn đạo đức đánh giá hết thảy sự vật, dùng thái độ chính xác để nhận thức những vấn đề có tính nguyên tắc như Thiện và Ác, Chính và Tà, khích lệ con người truy cầu chân lý, khiến sinh mệnh tự ngã chân chính có tương lai tốt đẹp. Quy phạm đạo đức chính thống và sự rộng lớn tinh sâu của văn hóa truyền thống cũng hàm chứa sứ mệnh Thần Thánh lớn lao cao xa hơn mà lịch sử đã trao cho nó.

✍Đăng lại có chỉnh sửa từ “Phục hưng văn hóa Thần truyền, cảm ngộ ý nghĩa văn hóa”
Đăng trên Minghui.org
Tác giả: Trí Chân

3 cách để phòng dịch theo thầy thuốc Hồ Nãi Văn.Hồ Nãi Văn là một thầy thuốc Trung y nổi tiếng tại Đài Loan. Đứng trước ...
17/03/2022

3 cách để phòng dịch theo thầy thuốc Hồ Nãi Văn.

Hồ Nãi Văn là một thầy thuốc Trung y nổi tiếng tại Đài Loan. Đứng trước tình hình dịch bệnh, với kinh nghiệm của mình, ông đã đưa ra những lời khuyên rất bổ ích và gẫn gũi. Y học hoàn nguyên xin tóm tắt và gửi tới mọi người.
***
1. Túi thơm phòng dịch (Tịch ôn hương nang).
Thành phần gồm 6 loại Đông dược: Ngô thù du, Sài hồ, Khương hoạt, Đại hoàng, Thương truật, Tế tân.
Các vị liều bằng nhau, nghiền nhỏ cho vào túi vải đem theo bên người, thỉnh thoảng hít một hơi, có thể đeo thêm vào khẩu trang, cho vào gối ngủ, treo trong phòng... hương thơm từ túi có khả năng nâng cao sức đề kháng của cơ thể, giúp chống lại bệnh độc.
Năm 2008, thầy thuốc Hồ Nãi Văn đã làm thí nghiệm và nhận thấy túi thơm này có khả năng nâng cao miễn dịch của cơ thể.
***
2. Ấn huyệt.
Huyệt Hợp cốc có tác dụng sơ tán phong tà, thanh tiết phế khí, thanh nhiệt giải độc.
Huyệt Khúc trì có tác dụng kháng quá mẫn, sơ tà độc, khư phong thấp, điều khí huyết.
Huyệt Túc tam lý có tác dụng dưỡng Tỳ Vị, điều khí huyết, bổ hư nhược.
Ngoài ra còn có thể ấn thêm huyệt Thái uyên, Xích trạch.
***
3. Phòng ốc.
Nhà ở hoặc phòng làm việc có thể sử dụng một số hương liệu tự nhiên như Hoắc hương, Đinh hương, Đàn hương, Giáng chân hương. Những hương liệu này có khả năng loại trừ những thứ khí không tốt gây bệnh cho con người.
Chú ý: Cần dùng những thứ hương liệu tự nhiên. Dùng hương liệu nhân tạo không những không có tác dụng phòng dịch mà còn có thể dẫn đến các vấn đề bệnh hô hấp.
***
Lưu ý: Nội kinh có viết: "Chính khí tồn nội, tà bất khả can" (Chính khí còn đầy đủ ở trong, tà khí không thể nào mạo phạm). Chính khí theo thầy thuốc Hồ Nãi Văn đối với cơ thể chính là khả năng miễn dịch, đối với bộ não thì chính là những ý niệm tốt. Khi chính khí mạnh thì tất cả bệnh độc, tà khí, các nguyên nhân gây bệnh đều không thể xâm nhập.
Đọc thêm bài viết về một số phương pháp nâng cao chính khí để phòng dịch của Y học hoàn nguyên: https://m.facebook.com/yhochoannguyen/photos/a.120772969451567/124258832436314/?type=3

Nhạc Phong.
Theo kênh youtube Hồ Nãi Văn khai giảng - danh y đàm dưỡng sinh.
Link clip: https://youtu.be/N-jeLBpoR3Q
Ảnh chụp từ clip.

✍️Tổng thống Donald Trump gặpYuhua Zhang, một học viên Pháp Luân Công sống sót sau cuộc đàn áp tại Trung Quốc, tại Nhà T...
17/03/2022

✍️Tổng thống Donald Trump gặpYuhua Zhang, một học viên Pháp Luân Công sống sót sau cuộc đàn áp tại Trung Quốc, tại Nhà Trắng vào ngày 17 tháng 7 năm 2019.

Yuhua Zhang, 59 tuổi, bị cầm tù và bị tra tấn nhiều lần ở Trung Quốc trong 7 năm rưỡi vì từ chối từ bỏ đức tin trước khi trốn sang Hoa Kỳ vào năm 2015.

Pháp Luân Công, một môn tập thiền truyền thống của Trung Quốc, đã bị chế độ cộng sản Trung Quốc đàn áp dã man trong 20 năm. Trung tâm Thông tin Pháp Luân Đại Pháp Minhhue.net ước tính, hàng trăm ngàn tín đồ bị giam giữ trong các nhà tù, trại lao động và trung tâm tẩy não, nơi nhiều người đã bị tra tấn trong nỗ lực buộc họ từ bỏ đức tin.

Sự tham dự của Zhang tại sự kiện này đánh dấu lần đầu tiên một học viên Pháp Luân Công gặp gỡ với nhân viên văn phòng cao nhất của quốc gia trong một cuộc gặp chính thức.

- Xem video Tổng thống Trump gặp gỡ với học viên Pháp Luân Công và những người sống sót khác trong cuộc đàn áp tín ngưỡng ở Trung Quốc: https://youtu.be/gDRWo00F66k

Tổng thống Donald Trump bắt tay với Yuhua Zhang, một học viên Pháp Luân Công sống sót sau cuộc đàn áp tại Trung Quốc, tại Nhà Trắng vào ngày 17 tháng 7 năm 2019 (Ảnh chụp màn hình video quay tại Nhà trắng)

🌸🌸Sau khi bị tra tấn trong 8 năm ở trong tù, một cựu giảng viên mỹ thuật lại bị kết án [MINH HUỆ] Sau khi bị bỏ tù và tr...
12/03/2022

🌸🌸Sau khi bị tra tấn trong 8 năm ở trong tù, một cựu giảng viên mỹ thuật lại bị kết án

[MINH HUỆ] Sau khi bị bỏ tù và tra tấn trong 8 năm, một cư dân ở thành phố Mộc Lĩnh, tỉnh Hắc Long Giang, lại một lần nữa bị kết án 6,5 năm tù và bị phạt 20.000 nhân dân tệ vì từ chối từ bỏ tín ngưỡng của mình vào Pháp Luân Công, một môn tu luyện bị chính quyền cộng sản Trung Quốc đàn áp từ năm 1999.

Ông Tôn Thế Vĩ, 69 tuổi, từng là một giảng viên mỹ thuật tại trường Đại học Sư phạm thành phố Mộc Lĩnh. Ông đã cho xuất bản nhiều cuốn sách giáo khoa và đào tạo cho các giáo viên. Một số sinh viên của ông đã được nhận vào học tại Viện Mỹ thuật Trung ương, một trong những trường đại học mỹ thuật tốt nhất ở Trung Quốc.

Trước khi theo tập Pháp Luân Công, ông Tôn đã phải vật lộn với nhiều loại bệnh tật, bao gồm viêm loét dạ dày nặng, viêm thận có máu trong phân, viên khớp, bệnh tim và bệnh trĩ. Gia đình ông đã tiêu hết một khoản tiền lớn để chữa trị cho ông, nhưng không có bác sĩ hay cách chữa trị nào chữa được. Ông cao 1,8 m nhưng chỉ nặng chưa đến 50 kg.

Vào ngày 22 tháng 7 năm 1997, ông Tôn nghe nói về Pháp Luân Công và theo tập để cải thiện sức khỏe. Trong khoảng 1 tháng rưỡi, tất cả các bệnh tật của ông đã biến mất. Ông thực sự cảm thấy hạnh phúc vì hết bệnh tật và rất biết ơn Pháp Luân Công.

Sống theo các tiêu chuẩn đạo đức của Pháp Luân Công là Chân Thiện Nhẫn, ông Tôn đã trở thành một người tốt hơn. Vì ông giảng dạy tốt nên hiệu trưởng trường ông đã đích thân yêu cầu tăng lương cho ông. Sau đó, ông được công nhận là “Giảng viên của năm” ở thành phố Mộc Lĩnh. Ông Tôn cũng từ chối bỏ túi tiền của nhà trường như một số đồng nghiệp làm. Có lần khi ông mua một số tư liệu in ấn cho trường, người bán hàng đã đề nghị viết hóa đơn với số tiền cao hơn để ông có thể có lợi khi ông nhận được tiền thanh toán của trường nhưng ông Tôn đã từ chối.

Bị giam ở trại lao động cưỡng bức trong 1 năm, bị tra tấn trong tù trong 8 năm

Ông Tôn đã bị bắt và đưa đến trại tạm giam Mộc Lĩnh vào tháng 5 năm 2001. Sau đó, ông bị đưa đến trại lao động cưỡng bức Mẫu Đơn Giang để thi hành án 1 năm.
Vào ngày 23 tháng 9 năm 2005, ông Tôn bị các cảnh sát từ đồn cảnh sát số 1 thành phố Mộc Lĩnh bắt tại nhà riêng. Ông bị tạm giam tại trại tạm giam thành phố Mộc Lĩnh. Trong khi bị tạm giam, ông đã bị thẩm vấn và khóa vào một cái ghế tựa bằng kim loại và bị còng tay vào ghế ở đằng sau lưng. Họ đã đổ nước lạnh lên đầu ông và đấm ông. Vì ông Tôn từ chối trả lời các câu hỏi của họ, họ đã cố gắng đánh văng răng của ông để bắt ông nói, khiến cho ông bị mất một cái răng cửa. Họ cũng cưỡng chế bắt ông uống một số loại thuốc không rõ tên. Ông bị đưa trở lại trại tạm giam sau khi ở bên bờ vực của cái chết.

Ông Tôn bị kết án 8 năm bởi Tòa án Mộc Lĩnh và bị đưa đến trại tù Mẫu Đơn Giang ngày 7 tháng 6 năm 2006. Khi ông đang rời khỏi trại tạm giam, một lính canh đã đánh ông, khiến cho ông bị mất thính giác trong hơn 3 tháng.

Tại đơn vị đào tạo của trại tù Mẫu Đơn Giang, nhiều tù nhân cùng với một nhân viên đã quyết định khám xét tất cả mọi người. Họ yêu cầu tất cả các tù nhân dốc đầu xuống dưới giường và chổng mông lên. Ông Tôn kháng lại việc bức hại đó và từ chối làm theo. Sau đó ông đã bị những tù nhân này đánh đập tàn bạo. Miệng và mũi ông đã bị chảy máu và mặt ông đầy vết thâm tím.

🌸Miêu tả tra tấn: Đánh đập

Ông Tôn bị đưa vào Trại tù Giai Mộc Tư ngày 7 tháng 7 năm 2006, nơi ông bị các tù nhân đánh đập tàn bạo, bị biệt giam, và bị bức thực và bắt uống các loại thuốc không rõ tên. Ông cũng bị cấm nhắm mắt, cấm luyện công, không được nói chuyện với các học viên Pháp Luân Công khác, cũng không được rời khỏi xà-lim hoặc mua các thứ ở cửa hàng tạp hóa của trại tù, nói chuyện về Pháp Luân Công với những tù nhân khác, gửi thư và gặp mặt gia đình.
Có lần, ông đang nói chuyện về Pháp Luân Công với một lính canh thì một lính canh khác đã tát ông hơn 30 cái. Mặt ông bị sưng lên và răng ông bị lung lay. Mũi và miệng ông chảy máu. Một chiếc răng của ông bị gãy và những chiếc răng còn lại bị đau khi ông ăn ngay cả tới tận bây giờ.

Vào tháng 8 năm 2006, ông Tôn nói chuyện với một tù nhân khác về Pháp Luân Công và bị những tù nhân khác đánh đập. Mặt ông lại bị sưng lên, răng bị lung lay và mũi miệng chảy máu. Kể từ đó, ông bị khó thở. Vì ông từ chối viết “báo cáo tư tưởng” nên ông lại bị đánh đập.
Ông Tôn bị tố cáo vì luyện các bài công pháp của Pháp Luân Công ngày 22 tháng 5 năm 2007. Các lính canh đã đưa ông đến phòng của họ và chửi bới ông. Ông bị lột quần áo ấm và bị biệt giam riêng trong một xà-lim trong 15 ngày. Ông tuyệt thực để phản đối trong 13 ngày và bị bức thực nhiều lần. Vào lúc ông được phóng thích khỏi xà-lim biệt giam, ông bị đau lưng và chỉ hồi phục sau 6 tháng.

🌸Dựng lại cảnh tra tấn: Bức thực

Vào tháng 7 năm 2008, ông Tôn đi ra ngoài để hít thở chút không khí trong lành với những tù nhân khác sau bữa tối và một lính canh đã phát hiện ra ông. Anh ta hỏi ông Tôn là ai đã cho phép ông ra ngoài và ra lệnh cho ông Tôn đi lên phòng anh ta ở trên gác. Anh ta tát ông Tôn hai cái và bảo ông biến đi.

Vào năm 2009, ông Tôn đang đọc một cuốn sách Pháp Luân Công ở sảnh và một tù nhân đã tịch thu cuốn sách rồi đưa cho các lính canh. Ông Tôn bị trói vào giường và bị bắt viết giấy cam đoan. Khi ông từ chối, tù nhân đó đã đấm ông và nhét một điếu thuốc đang cháy vào mũi ông. Việc tra tấn đã kéo dài 2 giờ đồng hồ. Khi ông được thả, ông bị đi lại khó khăn và chỉ hồi phục vào ngày hôm sau đó.

Trong khoảng thời gian đó, trại tù bắt tất cả các học viên phải khám sức khỏe. Gần 95% học viên bị chẩn đoán là bị huyết áp cao, bao gồm cả ông Tôn. Họ bị bắt phải uống thuốc. Khi họ từ chối, các tù nhân đã bức thực họ. Tuy nhiên, ông Tôn luôn giấu thuốc ở dưới lưỡi và nhổ nó ra sau đó. Việc tra tấn này đã tiếp diễn trong gần 2 tháng.

Vào tháng 9 năm 2012, một tù nhân chuẩn bị được phóng thích hỏi xin ông Tôn một cuốn sách Pháp Luân Công, nói rằng anh ta muốn đọc. Ông Tôn đã cho anh ta mượn cuốn sách Pháp Luân Công chép tay của mình. Tuy nhiên, tù nhân này đã tố cáo ông và đưa sách cho một lính canh, rồi người này đã đánh đập ông Tôn. Mặt ông lại bị sưng lên, và cuốn sách đã bị lính canh đó phá hủy. Có một vài lần nữa các cuốn sách Pháp Luân Công chép tay của ông Tôn bị tịch thu và bi hủy bởi các lính canh.

Khi ông Tôn bị cầm tù, vợ ông đã kiếm sống bằng cách bán hàng và con trai lớn của họ giúp chăm sóc mẹ ông. Cụ bà đếm từng ngày khi nào ông Tôn sẽ được phóng thích, bằng cách xé tờ giấy thành nhiều mảnh. Áp lực tinh thần đã ảnh hưởng đến sức khỏe của cụ. Cụ đã phát bệnh ung thư dạ dày và bị mù cả hai mắt. Cụ đã qua đời vào năm 2012, một năm trước khi ông Tôn được phóng thích.

Sau khi ông Tôn trở về nhà ngày 22 tháng 9 năm 2013, ông đã rất buồn khi biết rằng ông đã bị trường cho thôi việc. Những năm phục vụ của ông đã bị xóa bỏ và ông bị mất tất cả lương hưu. Ông đi đến trường và sở giáo dục nhiều lần để tìm kiếm sự công bằng nhưng không có tác dụng.

🌸Lại bị kết án 6,5 năm tù

Vào chiều ngày 24 tháng 4 năm 2020, một học viên Pháp Luân Công địa phương, bà Tào Thục Phương, phát hiện ra rằng cửa sổ nhà bà bị hỏng. Ông Tôn và một người bạn của ông là ông Cao Bằng Quang đề nghị giúp lắp một cái cửa sổ mới cho bà. Hai ông gặp em của ông Cao là bà Cao Vĩnh Lệ ở nhà bà Tào. Anh em nhà ông Cao cũng là các học viên Pháp Luân Công.

Sau khi ông Tôn và ông Cao lắp xong cửa sổ, họ cùng rời nhà bà Tào với bà Cao. Khi ba người đang ra khỏi cổng khu nhà căn hộ nhà bà Tào thì một số cảnh sát bất ngờ xuất hiện. Họ bắt ông Tôn, ông Cao và bà Cao. Bà Tào sau đó cũng bị bắt.
Viện kiểm sát thành phố Hải Lâm đã phê duyệt việc bắt họ vào ngày 27 tháng 5 năm 2020, và chuyển trường hợp của họ sang Tòa án thành phố Hải Lâm.

Những học viên này đã bị Tòa án Hải Lâm kết án vào ngày 20 tháng 7 năm 2021. Ông Tôn và ông Cao đều bị án 6,5 năm tù và bị phạt 20.000 tệ, và bà Cao bị kết án 6 năm 10 tháng tù. Ba học viên đã kháng án lên Tòa trung thẩm Mẫu Đơn Giang, và tòa này đã quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm mà họ phải chịu vào ngày 8 tháng 9. Ông Tôn bị đưa đến Trại tù Mẫu Đơn Giang ngày 28 tháng 10 năm 2021, và bị chuyển đến Khu 10 của Trại tù Thái Lai ngày 29 tháng 12.

Việc ông Tôn bị bắt lần gần đây nhất đã đem đến nỗi buồn vô hạn cho gia đình ông. Vợ ông đã bị ngất xỉu nhiều lần. Một số răng cửa của bà bị gẫy. Bà cũng đang bị ung thư vú giai đoạn cuối và bên ngực phải của bà chảy ra máu và mủ.

Bà thường nói với mọi người rằng bà cảm thấy khổ tâm vì chồng bà đã bị oan và bị bắt giam chỉ vì cố gắng làm một người tốt. Nếu như ông đã vi phạm luật pháp và làm việc xấu thì bà cũng không có vấn đề gì với việc bắt giam ông. “Gia đình chúng tôi là một gia đình truyền thống coi trọng đạo đức và sự liêm chính. Chúng tôi là những người trung thực luôn đối xử tốt với người khác. Với ảnh hưởng của chồng tôi, tôi không bao giờ lừa khách hàng của mình trong khi bán hàng trên đường phố và mọi người rất tin tưởng tôi,” bà giải thích, “Tôi hy vọng rằng chính quyền có thể cân nhắc tình huống này và phóng thích sớm cho chồng tôi”.

Con trai lớn của hai vợ chồng ông bà đã lên kế hoạch đi ra nước ngoài để đoàn tụ với vợ mình, nhưng anh đã phải thay đổi kế hoạch và ở lại Trung Quốc để chăm sóc mẹ mình.

Bài viết của một phóng viên Minh Huệ tại tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc

Nguồn: https://vn.minghui.org/news/227899-sau-khi-bi-tra-tan-trong-8-nam-o-trong-tu-mot-cuu-giang-vien-my-thuat-lai-bi-ket-an.html

🌺🌺🌺HỎI - ĐÁP CHÂN THÀNH (Bác Nguyễn Đình Thanh - Nguyên Trưởng Ban Biên Tập & Thư Ký Toà Soạn Đài Truyền Hình Việt Nam C...
27/02/2022

🌺🌺🌺HỎI - ĐÁP CHÂN THÀNH (Bác Nguyễn Đình Thanh - Nguyên Trưởng Ban Biên Tập & Thư Ký Toà Soạn Đài Truyền Hình Việt Nam Chia Sẻ Về Việc Tu Luyện Pháp Luân Công)

🍃Hỏi: Ông ơi, sao ông bà không phải cắt tóc, không phải mặc áo cà sa, không phải lên chùa... mà lại gọi là tu luyện ạ?

- Đáp: Trước đây ông cũng hiểu như cháu. Đó là chỉ những người đi tu hoặc tu hành thì người ta mặc áo nâu sòng, áo vàng, áo đen...

Nhưng ông bà tu luyện ở đây thì chữ tu có nghĩa là "tu sửa". Sửa cái gì? Đây là chỉ sự sửa mình, sửa những cái sai trong tâm thức của mình, trong ý nghĩ của mình, trong việc làm của mình... để mình trở thành người tốt và tốt hơn. Theo chữ tu này thì phải bỏ đi nhiều thói hư tật xấu, như là kèn cựa, ganh tỵ với người khác, hẹp hòi... , Làm và thậm chí là cả ý nghĩ không tốt cho người khác cũng không nên. Kể ra thì rất dài vì những cái tâm này phải sửa, đổi, thực hành là rất nhiều rất lớn, phải tu sửa mình trong cả một thời gian dài, rất dài. Có như thế mình mới trở thành người tốt và tốt hơn nữa.

🍃Hỏi: Như vậy ông bà có tiến bộ không ạ?

- Đáp: Có tiến bộ chứ. Hằng ngày ông bà đều nhớ, đều thực hành những việc như những bài giảng đã dạy cho mình. Ví dụ khi làm một việc gì đó thì luôn nghĩ rằng việc này có hại cho người khác không? Việc này người khác có chịu đựng được không? Việc này có làm thương tổn người khác không v..v... Như vậy, những gì không tốt mình đều phải tránh và như thế là mình và người khác đều có quan hệ tốt.

Ông lấy ví dụ về bà nhé. Từ khi bà tu luyện đến nay đã sang năm thứ sáu. Nhiều những tật xấu đã được sửa đổi, có nhiều tiến bộ. Trước đây bà rất hay tự ái, góp ý rất khó tiếp thu, cũng có phần hẹp hòi. Nhưng qua từng bài học, qua từng thời gian, qua từng sự trao đổi thì bà đã có nhiều tiến bộ. Đến nay không còn tự ái, không còn khó tiếp thu mà tâm tính đã mềm đi rất nhiều, nghe người khác nhiều hơn và cố gắng làm những việc tốt hơn. Ví dụ Bà cầm hai cái cây định chọn một để mua về trồng thì có một người khác đến cũng muốn mua. Bà bảo, tôi nhường cho bà cây đẹp hơn nhé! Đó là một việc làm của người tu luyện có tiếp thu được điều tốt.

Những việc góp ý với ông, với con cái cũng nhẹ nhàng hơn, dễ dàng đi tới thống nhất chứ không khăng khăng theo riêng ý của mình như trước. Có thể nói, bà đã thành một người khác có tâm tính tốt hơn!

🍃Hỏi: Còn về chữ luyện thì sao ạ?
- Đáp: Luyện ở đây là nói về phần luyện tập cho thân thể tốt hơn lên. Có năm bài công pháp để rèn luyện từ tay, chân, mình, đầu óc cho đến cả tim mạch, kinh lạc ở trong người.

Có nguyên lý rằng : thông thì bất thống. Thông tức là thông suốt, thống tức là đau. Thống là do bất thông. Cho nên khi luyện tập năm bài công pháp ấy cũng như khi tâm hồn mình được trong sáng, được thanh sạch thì các kinh mạch đều thông suốt thì sẽ không có sự ách tắc, tức là đã thông thì bất thống!

Tim mạch bình thường, kinh lạc thông suốt, ăn, ngủ đều đặn thì con người sẽ vui lên, khỏe lên. Bệnh tật ở bên ngoài khó lòng xâm nhập được vào mình.

Ví dụ bà bị cao huyết áp, bị đau đốt sống cổ đốt sống lưng, bị mất ngủ kinh niên, bị hen phế quản mạn tính. Mỗi năm thường bị một hai lần viêm phế quản nặng. Mà viêm đến nỗi uống thuốc gì cũng không khỏi, kháng sinh rất cao cũng không khỏi mà phải tiêm thuốc kháng sinh vào tĩnh mạch. Tiêm phải đến ngày thứ chín thứ 10 và đến thứ 14 thì mới có thể khỏi được.

Nhưng đến nay sau hơn năm năm bà không còn bị viêm như thế nữa. Thời tiết thay đổi cũng không sao. Đến nay, do không bị đau cho nên không phải uống thuốc nữa không phải đi bệnh viện nữa. Năm năm vừa rồi ông bà nhường hết tiêu chuẩn ở Hữu nghị cho các bạn khác.

Còn một điều mừng nữa là bà đã có một bài thơ về mất ngủ suốt đêm, nghe hết cả người chung quanh ngáy, nghe hết cả chó sủa, meo kêu...hihi
Nhưng đến nay hễ có rỗi 10 phút, 15 phút, 30 phút là bà bảo hết đến bao nhiêu thì gọi bà dậy. Thế là bà nằm xuống chỉ một phút sau đã thấy khó rồi. Đã xả hết những gì không tốt ra khỏi đầu cho nên bà nằm xuống ngủ là ngủ ngay và ngủ rất say. Ngủ say được thì cũng là liều thuốc bổ tốt cho con người.

Chính vì thế mà ông bà cố gắng tu luyện một cách bền bỉ một cách nghiêm túc và thu được những kết quả không thể nào nói hết!

Facebook: Đình Thanh Nguyễn

☘️Bạn hữu duyên có thể tìm hiểu thêm về môn tu luyện tại website: https://vi.falundafa.org/

Adresse

Oms

Notifications

Soyez le premier à savoir et laissez-nous vous envoyer un courriel lorsque Giác Ngộ publie des nouvelles et des promotions. Votre adresse e-mail ne sera pas utilisée à d'autres fins, et vous pouvez vous désabonner à tout moment.

Raccourcis

Partager