Phai Lam Gi?

Phai Lam Gi?

Share

03/06/2026

Từ Phép Lạ Chữa Lành đến những năm tháng du học Rôma

Sau khi được chữa lành cách lạ lùng, cha Nguyễn Văn Thuận không ngừng tạ ơn Thiên Chúa và Đức Mẹ Maria.

Trong bức điện tín gửi về gia đình, ngài viết:
“Mẹ thân mến, đã có một phép lạ xảy ra. Bệnh con đã biến mất. Con chuẩn bị về nhà.” Có những lúc Thiên Chúa không trả lời bằng lời nói, nhưng bằng một biến cố làm thay đổi cả cuộc đời. Vị linh mục trẻ vừa thoát khỏi cửa tử không biết tương lai sẽ dẫn mình đi đâu. Nhưng từ giây phút ấy, cha Thuận hiểu rằng sự sống mình đã nhận lại không còn thuộc về riêng mình nữa.

Tháng 5 năm 1954, sau khi từ Sài Gòn trở về Huế, cha Thuận được Đức Giám mục Urrutia khuyên nên nghỉ ngơi một thời gian để hồi phục sức khỏe.

Sau một tháng được thân mẫu chăm sóc và bồi dưỡng, ngài khỏe hẳn. Khi lên Tòa Giám mục trình diện, Đức cha Urrutia cho biết ngài được bổ nhiệm làm phó xứ giáo xứ Phanxicô Xaviê ở trung tâm thành phố Huế, cộng tác với linh mục thừa sai Pierre Richard, thường gọi là Cố Phan. Đây chính là người thầy cũ ở Tiểu Chủng viện An Ninh và cũng là ân nhân đã tận tình giúp đỡ ngài trong thời gian chữa bệnh tại Sài Gòn.

Tại giáo xứ Phanxicô Xaviê, cha Thuận nhanh chóng dấn thân vào công việc mục vụ. Trước đó, giáo xứ chỉ có một thánh lễ tiếng Pháp vào sáng Chúa nhật. Từ khi ngài đến, giáo xứ có thêm một thánh lễ tiếng Việt vào buổi chiều.

Ngài hết lòng chăm lo cho sự phát triển của giáo xứ. Số giáo dân ngày càng gia tăng. Ngài cùng giáo dân chỉnh trang cung thánh, thực hiện các công trình phục vụ đời sống đức tin và xây dựng một hội trường phía sau nhà thờ để trẻ em và người lớn có nơi sinh hoạt.

Những năm tháng ấy không có những sự kiện lớn lao. Chỉ là những thánh lễ, những giờ phục vụ và những công việc âm thầm mỗi ngày.

Nhưng chính trong những công việc nhỏ bé ấy, Thiên Chúa đang chuẩn bị cho cha Thuận những trách nhiệm lớn hơn mà ngài chưa hề nghĩ tới.

Năm 1955, cha Thuận được Tòa Giám mục Huế bổ nhiệm làm tuyên úy Trường Trung học Bình Linh (Pellerin), thay thế cha Phêrô Trần Hữu Tôn. Đây là ngôi trường có nhiều gắn bó với gia đình ngài, nơi ông ngoại, thân phụ và chính ngài đã từng theo học.

Ngoài trách vụ tại trường Bình Linh, ngài còn kiêm nhiệm công việc tuyên úy tại Bệnh viện Trung ương Huế và Lao xá Thừa Thiên.

Năm 1956, Đức cha Urrutia gọi cha Thuận về Tòa Giám mục. Sau khi ghi nhận những kết quả tốt đẹp trong công việc mục vụ, Đức cha nói:

- Cha sẽ gửi con đi nơi khác sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết.
Cha Thuận hỏi:
- Thưa cha, cha sẽ gửi con đi đâu?
Đức cha mỉm cười:
- Đi Rôma.

Ngạc nhiên trước quyết định ấy, cha Thuận hỏi lại lý do. Đức cha tâm sự rằng ngài nhận thấy nơi vị linh mục trẻ này những phẩm chất cần thiết cho một nhà lãnh đạo tương lai của Giáo hội. Ngài muốn cha Thuận được học tại Rôma, hiểu biết đời sống và công việc của Vatican, hoàn thành chương trình học vấn cao hơn của Giáo hội, đồng thời có cơ hội khám phá thế giới.

Kết thúc cuộc gặp, Đức cha nhắc lại câu khẩu hiệu mà cha Thuận rất yêu thích: “Con là một anh lính bộ binh giỏi. Con sẽ đi đến nơi nào Giám mục của con bảo đến.”

Cha Thuận quá xúc động và bỡ ngỡ trước quyết định ấy. Nhiều bước ngoặt quan trọng trong đời người đến rất bất ngờ. Cha Thuận không tự tìm con đường ấy cho mình. Ngài chỉ đơn sơ vâng phục. Và nhiều khi, điều mở ra những chân trời mới không phải là một kế hoạch hoàn hảo, mà là lòng can đảm bước theo tiếng gọi của Thiên Chúa.

Du học tại Rôma

Sau nhiều thủ tục, cha Thuận lên đường sang Rôma và nhập học tại Phân khoa Giáo luật của Đại học Urbanô vào cuối năm 1956.

Ngài lưu trú tại Pontificio Collegio San Pietro, gần trường học. Những năm tháng tại Rôma là thời gian học tập đầy hứng khởi. Ngài được tiếp cận các thư viện phong phú, gặp gỡ những giáo sư uyên bác và chuyên tâm nghiên cứu.

Tại đây, ngài cũng quen biết nhiều người sau này giữ những vai trò quan trọng trong Giáo hội và xã hội, trong đó có linh mục Bernadin Gantin, người về sau trở thành Hồng y Bộ trưởng Thánh Bộ Giám mục tại Vatican.

Ngài còn kết thân với nhiều giáo dân nổi bật như De Habicht, Jean Larnaud và Giorgio La Pira. Giữa những năm tháng học hành nơi đất khách, điều cha Thuận tìm kiếm không chỉ là tri thức. Ngài còn tìm kiếm ánh sáng để hiểu điều Thiên Chúa mong muốn nơi cuộc đời mình.

Và ánh sáng ấy đã đến trong sự thinh lặng của một cuộc hành hương.

Đầu mùa hè năm 1957, cha Thuận đến Dublin và gặp ông Frank Duff, người sáng lập Legio Mariæ (Đạo Binh Đức Mẹ). Trong thời gian này, ngài đọc nhiều tài liệu về linh đạo Legio Mariæ và ngày càng mong muốn được hành hương Fatima.

Trên đường đến Fatima, tháng 8 năm 1957, ngài ghé hành hương Lộ Đức.

Khi quỳ trước hang đá nơi Đức Mẹ hiện ra với thánh nữ Bernadette năm 1858, ngài cảm nhận một sự hiện diện rất gần gũi của Đức Mẹ. Hôm ấy khách hành hương không đông. Cha Thuận quỳ lặng trước tượng Đức Mẹ, xúc động đến mức không nhớ một kinh nguyện nào, chỉ chăm chú nhìn lên Mẹ và cầu nguyện.

Suy nghĩ về cuộc đời của thánh nữ Bernadette, người đã chịu nhiều chống đối và đau khổ nhưng vẫn trung thành với sứ điệp Đức Mẹ trao phó, cha Thuận cảm thấy như những lời Đức Mẹ nói với Bernadette cũng đang được gửi đến chính mình:

“Mẹ không hứa ban cho con niềm hân hoan và sự an ủi ở trần gian này, nhưng hứa ban cho con những thử thách và đau khổ.”

Trong cầu nguyện, ngài dần cảm nhận rõ hơn lời mời gọi ấy. Dù chưa hiểu những thử thách đó sẽ là gì, cha Thuận vẫn hoàn toàn phó thác: “Nhân danh Chúa Giêsu và nhân danh Mẹ, con xin lãnh nhận những thử thách và sự khốn khó Chúa và Mẹ gửi đến cho con.”

Ngài ở lại cầu nguyện bên hang đá đến tận khuya. Khi thốt lên lời cầu nguyện ấy, cha Thuận chưa biết tương lai sẽ ra sao. Nhưng có những lời cầu nguyện chỉ mất vài giây để thưa lên, và phải dùng cả cuộc đời để sống trọn vẹn.

Sáng hôm sau, ngài tiếp tục lên đường đến Fatima. Tại đây, cha Thuận suy niệm sâu xa về sứ điệp Đức Mẹ đã trao cho ba trẻ mục đồng: cầu nguyện, ăn năn trở lại và thực hành việc sám hối. Ngài đặc biệt yêu mến ảnh Đức Mẹ Fatima. Từ đó về sau, ở bất cứ nơi nào sinh sống, ngài đều đặt ảnh Đức Mẹ Fatima ở vị trí trang trọng nhất.

Từ Lộ Đức đến Fatima, hành trình bên ngoài không dài. Nhưng trong tâm hồn cha Thuận, đó là một hành trình rất sâu. Từng bước chân hành hương giúp ngài hiểu hơn rằng Thiên Chúa luôn dẫn dắt con người, ngay cả khi họ chưa hiểu hết con đường Người đang mở ra trước mắt.

Mùa hè năm 1958, ngài trở lại Lộ Đức và một lần nữa lặp lại lời hứa năm trước: “Con xin vui lòng chấp nhận những thử thách và đau khổ Chúa và Mẹ gửi đến.”

Trở về Rôma, cha Thuận cùng Giáo hội hoàn vũ đau buồn trước sự qua đời của Đức Giáo hoàng Piô XII ngày 9 tháng 10 năm 1958, rồi vui mừng đón nhận tin Đức Giáo hoàng Gioan XXIII được bầu lên ngày 28 tháng 10 cùng năm.

Năm 1959, ngài nhận học vị Tiến sĩ Giáo luật hạng tối ưu (summa cm laude) với luận án: “Studium comparativum de organisatione capellanorum militum in mundo” nghiên cứu về tổ chức mục vụ tuyên úy quân đội trên thế giới.

Trước khi trở về Việt Nam, cha Thuận còn đi thăm một số quốc gia tại châu Âu và Bắc Mỹ, trong đó có Đức, Hoa Kỳ và Canada. Nhìn lại chặng đường từ ngày trở về sau cơn bệnh cho đến lúc hoàn tất việc học tại Rôma, người ta thấy một hành trình được dệt nên bởi nhiều ân huệ khác nhau: sự chữa lành, những người thầy tận tâm, những cơ hội học hỏi và những cuộc gặp gỡ quan trọng. Nhưng trên hết, đó là hành trình của một người luôn sẵn sàng bước đi khi Chúa gọi.

Từng công việc nhỏ ở Huế, từng năm tháng học tập tại Rôma, từng chuyến hành hương âm thầm đều đang chuẩn bị cho những chặng đường phía trước mà lúc ấy chính cha Thuận cũng chưa thể hình dung hết...

29/05/2026

Thật là một vinh hạnh tuyệt vời bởi ơn Chúa!
Trong thông điệp đầu tiên của Đức Giáo hoàng Lêô XIV - Magnifica Humanitas (nhân loại tuyệt diệu), ngài đã nêu tên Đấng Đáng Kính Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận như một chứng nhân của niềm hy vọng Tin Mừng và phẩm giá con người giữa những hoàn cảnh khắc nghiệt.

Cụ thể, trong chương Ba của Magnifica Humanitas, ở phần nói về giới hạn, trái tim và vẻ cao cả của con người, Đức Lêô XIV đặt Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận vào hàng những chứng nhân đã “hiện thân cho niềm hy vọng của Tin Mừng cũng như phẩm giá con người” giữa những điều kiện “khắc nghiệt, thường là phi nhân tính”. Văn kiện nói lịch sử nhân loại được nâng đỡ còn bởi những chứng nhân đáng tin cậy và sự trung tín hằng ngày, nhờ đó niềm hy vọng tiếp tục được gìn giữ trước các biến động của thời đại.

Trong hơn hai thập niên qua, hình ảnh Đức Hồng y Thuận đã nhiều lần xuất hiện trong các văn kiện giáo hoàng như biểu tượng của hy vọng, cầu nguyện, phẩm giá con người và khả năng sống Tin Mừng trong thử thách.

Hồi năm 2007, Đức Bênêđictô XVI nhắc đến ngài trong thông điệp Spe Salvi, văn kiện lớn về niềm hy vọng Kitô giáo. Ở số 32, Đức Bênêđictô nói Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, người bị giam 13 năm, trong đó có 9 năm biệt giam. Trong tình cảnh tưởng như tuyệt vọng, khả năng lắng nghe và thưa chuyện với Thiên Chúa đã trở thành sức mạnh giúp ngài trở nên “chứng nhân của hy vọng” cho nhiều người trên thế giới.

Cũng trong Spe Salvi, Đức Bênêđictô XVI nhắc lại kinh nghiệm cầu nguyện của Đức Hồng y Thuận. Có những thời gian dài ngài không thể cầu nguyện, nhưng đã bám chặt vào các kinh nguyện của Giáo hội như Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng và các lời kinh phụng vụ. Qua đó, Đức Bênêđictô trình bày đời sống cầu nguyện là nơi người tín hữu được nâng đỡ bởi lời cầu nguyện chung của Hội Thánh.

Năm 2018, trong tông huấn Gaudete et Exsultate về ơn gọi nên thánh trong thế giới hôm nay, Đức Phanxicô dùng gương Đức Hồng y Thuận để nói về sự thánh thiện trong đời thường. Khi bị giam tù, ngài không lãng phí thời gian để chỉ chờ ngày được trả tự do, nhưng chọn “sống giây phút hiện tại” và lấp đầy nó bằng tình yêu.

Một năm sau, trong tông huấn Christus Vivit gửi người trẻ và toàn thể Dân Chúa, Đức Phanxicô tiếp tục nhắc đến Đức Hồng y Thuận. Văn kiện đặt kinh nghiệm của ngài trong lời mời gọi người trẻ sống trọn hiện tại, không để tương lai làm mình tê liệt. Đức Hồng y được nêu như người đã chọn tận dụng từng cơ hội mỗi ngày và làm các việc bình thường với tình yêu lớn lao.

Trong Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2019, Đức Phanxicô nhắc đến “Các Mối Phúc của nhà chính trị” do Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đề nghị. Đức Giáo hoàng gọi ngài là “chứng nhân trung thành của Tin Mừng” và trích các tiêu chuẩn dành cho người làm chính trị: ý thức sâu sắc về vai trò của mình, đáng tin cậy, phục vụ công ích, nhất quán, xây dựng hiệp nhất, lắng nghe và không sợ hãi.

Đến Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo 2025, Đức Phanxicô một lần nữa nhắc đến ngài trong chủ đề “Những nhà truyền giáo của hy vọng giữa muôn dân”. Văn kiện trích tư tưởng của Đức Hồng y Thuận rằng “người hy vọng là người cầu nguyện”, đồng thời nói ngài đã được nâng đỡ trong niềm hy vọng suốt thời gian dài tù đày nhờ lời cầu nguyện trung thành và Bí tích Thánh Thể.

Từ Spe Salvi đến Magnifica Humanitas, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận được nhắc đến như một chứng nhân mang tầm phổ quát. Trong các văn kiện giáo hoàng, tên của ngài thường xuất hiện khi Giáo hội nói về hy vọng giữa tuyệt vọng, cầu nguyện trong cô đơn, sự thánh thiện giữa đời thường, trách nhiệm chính trị, sứ vụ truyền giáo và phẩm giá con người trước các thách đố mới của thời đại.​

Xin hiệp lòng tạ ơn Chúa, muôn ngàn đời Người vẫn trọn tình thương. Xin thuận theo thánh ý Người, sớm cho Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, là Đấng chúng con yêu mến, được tôn vinh trên bàn thờ cho cả và nhân loại tôn kính.

19/05/2026

Mọi người nhận ra "thầy Thuận" trong bức hình không? :)

Gia đình và tình cảm gia đình đối với Đấng Đáng Kính Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận là rất đặc biệt. Trong một cuộc phỏng vấn (2000), ngài đã nói:

“Đặc biệt tôi nhớ đến thân mẫu của tôi, năm nay đã 98 tuổi và đang ở tại Úc Đại Lợi. Tôi nhớ những lời thân mẫu của tôi, đối với tôi như những lời khuyến cáo trong cuộc đời linh mục.

Cách đây ba năm, tôi còn nhớ nghe thuật lại là cha Chu Quang Minh thuộc Dòng Tên ở Mỹ cùng đi với một cha ở Úc đến thăm bà cố tôi. Hai cha hỏi bà cố có muốn Đức cha Thuận làm Hồng y không. Bà cố trả lời rằng: ‘Thưa con, không muốn.’

Hai cha lấy làm lạ và hỏi lại:

– Tại sao bà cố không muốn Đức cha Thuận làm Hồng y?
– Thưa cha, con không muốn.
– Vì sao?
– Bởi vì khi con cho con của con vào chủng viện, con chỉ cầu xin Chúa cho con của con làm linh mục để tế lễ Chúa là con vui lòng rồi. Còn đã đi tu làm linh mục thì đâu phải ham muốn những chức quyền danh vọng gì.

Với tôi, những lời nói trên luôn luôn là những lời nhắc nhủ của bà mẹ dạy bảo con.

Cách đây mấy tháng, tôi đi giảng ở Đài Loan, tôi có ghé thăm bà cố tôi. Tôi hỏi:
– Hằng ngày mẹ có nhớ cầu nguyện cho con không?
Bà cố nói:
– Có chứ, ngày nào cũng nhớ cầu nguyện.
Tôi hỏi:
– Mẹ cầu xin cho con cái gì?
Bà cố chỉ trả lời một câu thôi:
– Cầu cho con biết làm bổn phận đẹp lòng Chúa.
Điều ấy là cái cảm tưởng mạnh mẽ của bà mẹ Việt Nam dạy con cái.”

Câu chuyện thân mẫu ngài “chỉ cầu xin Chúa cho con của con làm linh mục để tế lễ Chúa” làm cho chúng ta tưởng nhớ đến ước nguyện của ông ngoại ngài là cụ Ngô Đình Khả. Cho đến những giây phút cuối đời, cụ chỉ có một khát vọng: mong con được bước lên bàn thờ dâng Thánh lễ cầu cho cụ được nghỉ an đời đời.

Trong diễn văn chào mừng Đức cha Ngô Đình Thục đọc tại Trường Thiên Hựu ở Huế vào trưa ngày lễ tấn phong 04-5-1938, Đức cha Lemasle (Lễ) tâm tình với vị tân Giám mục:

"Combien heureux doit être votre vénérable père en vous voyant revêtu de la plénitude du Sacerdoce, lui qui, à ses derniers moments qui m’ont si édifié, éprouvait une bien douce consolation à la pensée que vous ne tarderiez pas à offrir le saint sacrifice pour son repos éternel."

(Vị phụ thân khả kính của ngài hẳn hạnh phúc biết bao nếu cụ được chứng kiến ngài mang phẩm phục Giám mục! Cụ cố, mà những giờ phút cuối đời của người đã để lại cho tôi một mẫu gương đạo đức rất tốt lành, chắc lúc đó đã cảm nhận được một niềm an ủi quá dịu ngọt khi nghĩ rằng không còn bao lâu nữa ngài sẽ dâng Thánh lễ cầu cho cụ được an nghỉ đời đời.)

Ngoài ra, trong một cuộc phỏng vấn diễn ra một tuần sau ngày Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II công bố tuyển chọn ngài vào Hồng y đoàn, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã nói với linh mục Trần Công Nghị như sau:

“Điều mà tôi học được nơi mẹ của tôi là bà đã chôn tất cả anh em mình. Lúc đó bà ngoại của tôi cũng chết nữa, nên bà chôn cả mẹ của mình, mà chỉ có một mình bà thôi vì tất cả anh em thì có người chết, có người ở xa. Nhưng bà vẫn bình tĩnh làm các việc đó. Dĩ nhiên là có sự đau khổ, nhưng bà vẫn vững vàng.

Một điều mà bà đã làm cho tôi quý trọng là bà không bao giờ than trách cá nhân một người nào. Không bao giờ bà nói hay là hờn oán cá nhân một người nào.

Có những dịp những người dính líu trong vụ đảo chánh tới nhà, nhưng bà vẫn tiếp đón niềm nở, trà nước vui vẻ như là không có việc gì xảy ra. Cho đến bây giờ bà sống 93 tuổi nhưng không khi nào tôi thấy bà nhắc lại những chuyện đó. Thành thử đó lại càng làm mẫu gương cho tôi về một người mẹ Việt Nam.

Ngoài chuyện đạo đức của bà, không nhắc ra đây, nhưng còn một điều mà bà làm cho tôi quý mến, đó là yêu mến đất nước.

Bà qua sống ở Sydney, bà đã mua hai cây: cây sung và cây thông. Rồi bà mua hai cái chậu thật to trồng hai cây đó để trước nhà. Bà đã uốn cong chúng lên và lấy thép buộc thành hình con rồng ở hai cây. Hai cây hình con rồng đó, mỗi ngày bà săn sóc cho nó lớn lên và nói để mà nhớ đến Đất Nước Việt Nam. Tôi thấy đó là hình ảnh của người mẹ Việt Nam.

Sau này khi bố tôi già đi, vào viện dưỡng lão, bà đi theo nhưng cũng khiêng hai cái cây đó vào viện dưỡng lão. Bây giờ bố tôi mất rồi, bà về ở với cô em tôi thì bà cũng khiêng hai cái cây đó về.

Cây sung đã chết, bây giờ bà đem cây khô đó vào để trong nhà. Còn cây thông vẫn sống, bà cũng nâng niu nó như thường. Bà cứ chỉ vào đó và nói: ‘Để mình nhớ Đất Nước Việt Nam.’

Tôi thấy một người mẹ Việt Nam dạy cho tôi yêu nước, lòng khoan dung và đoàn kết như vậy. Cho nên sau khi tôi ở tù về, có người hỏi sao vẫn vui vẻ và yêu thương mọi người được, thì tôi nói: bởi mẹ tôi đã dạy tôi.”

Đúng vậy, bài học yêu nước mà thân mẫu dạy ngài đã có tác dụng lớn lao trong tâm hồn Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Ngài luôn mang trong mình một tình yêu sâu đậm đối với quê hương Việt Nam, luôn “mang trên mình Chúa Giêsu và quê hương Việt Nam”.

Chi tiết nhỏ sau đây do chính ngài kể lại đã nói lên điều đó:

“Trên núi Vĩnh Phú, trong trại tù Vĩnh Quang, một hôm trời mưa lớn, tôi cưa gỗ trong nhà. Tôi xin anh chiến sĩ gác tôi:

– Tôi xin anh một đặc ân.
– Anh muốn gì? Tôi cố gắng giúp anh.
– Tôi muốn cưa một miếng gỗ theo hình Thánh giá.
– Anh không biết ở trại nghiêm cấm mọi hình thức tôn giáo sao?
– Tôi biết, nhưng chúng ta là bạn, và tôi hứa sẽ giấu rất kín.
– Vô cùng nguy hiểm cho cả hai anh em mình.
– Anh nhắm mắt đi cho tôi làm, tôi sẽ cẩn trọng hết sức.

Anh ta quay lưng, bỏ tôi lại một mình. Tôi đã thực hiện ngay ý định, rồi giấu Thánh giá gỗ ấy trong một cục xà phòng cho đến ngày tôi được tự do. Tôi thuê thợ bọc nó lại bằng mêtan.”

Miếng gỗ ấy có bao giờ nghĩ rằng mình sẽ trở nên Thánh giá của một vị Giám mục. Gỗ Thánh giá ấy lấy từ núi Vĩnh Phú, nơi có Đền Hùng thờ các Vua Hùng, tổ tiên chúng ta đã có công dựng nước.

“Đi đâu tôi cũng mang Thánh giá ấy, mang trên mình Chúa Giêsu và quê hương Việt Nam.”

Phai Lam Gi?

13/05/2026

Bức ảnh: Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận học ở đây: Nhà thờ Tiểu Chủng Viện An Ninh, Cửa Tùng, Quảng Trị.

Năm lên 13 tuổi, vào năm 1941, cậu Nguyễn Văn Thuận gia nhập Tiểu Chủng viện An Ninh.

Trong số các ân sư, có bốn vị đã ảnh hưởng rất sâu đậm trên các đức tính nhân bản và nếp sống tu đức của Đức Hồng y Thuận. Từ buổi ấu thơ, đến tuổi thanh niên, rồi khi trưởng thành, nhân cách và tâm hồn thánh thiện của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã dần được hình thành theo gương mẫu của bốn vị ân sư ấy.

Trước hết là Đức cha GB. Urrutia; kế đến là cha Giuse Maria Nguyễn Văn Thích; cha Marie Cressonnier (Cố Báu); và cha Anrê Bùi Quang Tịch.

Hôm nay, xin được nhớ đến linh mục Giuse Maria Nguyễn Văn Thích, một người con chí hiếu, một linh mục gương mẫu, một nhân tài sáng giá, một hiền nhân hiếm có mà Chúa ban cho Giáo hội Việt Nam.

Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã ghi lại với niềm trân trọng một kỷ niệm đẹp về cha Thích như sau:

“Khi tôi còn là chủng sinh tại Tiểu Chủng viện An Ninh của Giáo phận Huế, linh mục giáo sư Giuse Maria Nguyễn Văn Thích đã giúp tôi hiểu tầm quan trọng của việc luôn luôn đem theo Phúc Âm trong mình.

Cha Thích theo đạo Công giáo. Thân phụ của ngài là một vị Thượng thư, một nhà trí thức Nho giáo. Ngài luôn luôn đeo trước ngực cuốn Kinh Thánh Tân Ước nhỏ, giống như khi đem Mình Thánh Chúa cho bệnh nhân. Khi ngài rời chủng viện để lãnh nhận một nhiệm vụ khác, ngài đã để lại cho tôi kho tàng quý báu đó.”

Gương sáng của vị linh mục thánh thiện này luôn sống động trong tâm hồn tôi và đã giúp tôi rất nhiều trong thời gian ở tù, nhất là trong suốt thời kỳ bị biệt giam. Trong những năm ấy, tôi đã có thể tiến bước vì:

“Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
là ánh sáng chỉ đường con đi.”
(Tv 119,105)

Để kết lại câu chuyện về cha Thích, xin trích đọc đoạn hoài niệm của Gioan Baotixita Nguyễn Đăng Ngôn:

“… Nghề của tôi là nghề xe đạp thồ. Bến xe là tổ xe thồ cầu Phủ Cam. Phía bên này cầu là đường Phan Châu Trinh, còn bên kia cầu là đường Phan Đình Phùng. Ngồi bên này nhìn qua bên kia, cổng ra vào Nhà Chung thấy rất rõ.

Một buổi sáng nọ, từ trong cổng đi ra một vị linh mục. Nhìn qua là biết ngay đó là cha Thích. Thời đó có hai ông cha gầy giống nhau: cha giáo xứ Tiên Nộn và ngài. Cha Tiên Nộn có dáng đi thẳng đứng, còn ngài thì hơi nghiêng và bước đi chậm. Chiếc nón lá rộng vành, cái áo đen hai vạt — người ta hay gọi đó là áo cháo chè.

Tôi thấy ngài ra khỏi cổng như sắp sửa lên cầu, nên vội vàng dắt chiếc xe đạp chạy qua, nghĩa là chạy qua kiếm mối, vì thường các ngài đi đâu cũng cho tiền rất hậu; trong túi có mấy thì cho mấy.

Tới đầu múi cầu, tôi hỏi ngài:
- Thưa cha, cha muốn đi đâu, con đưa cha đi?

Ngài không nói đi đâu, mà bắt đầu nói chuyện. Nói rất lâu. Rồi hỏi qua lý lịch. Cuối cùng ngài hỏi:
- Sáng nay anh đã ăn chi chưa?

Tôi trả lời:
- Dạ có, mấy khúc sắn.

Ngài thọc tay vào túi áo, moi ra một gói giấy rồi nói:
- Phần ăn sáng của cha. Anh dùng thêm mà đạp xe cho mạnh.

Tâm tình một hồi, ngài trở lại Nhà Chung. Tôi hỏi tại sao cha không đi đâu cả. Ngài nói:
- Thôi, ngày khác đi.

Mấy hôm sau, cũng với trang phục như trước, ngài đi ra. Tôi lại vội chạy đón. Cũng một gói thức ăn, ngài moi trong túi ra cho tôi. Hỏi thăm vài ba câu, ngài nói ngài rất muốn đi bộ. Ngài qua cầu, đi theo đường Phan Châu Trinh về hướng An Cựu.

Đến gần 10 giờ sáng, trời rất nắng, thì thấy ngài đi trở về lại, đi rất chậm. Tới gần mới thấy ngài đi chân đất, đầu không đội nón. Tôi nhảy xuống xe đạp đón ngài. Tuyệt đối ngài không chịu leo lên xe. Tôi hỏi:

- Nón và dép của cha quên nhà nào rồi, để con chạy tới lấy cho. Đi chân đất đạp miểng chai là què chân, già rồi mà ngồi một chỗ thì cực lắm.

Ngài nói:

- Cha cho họ rồi. Chạy gạo nuôi con mà chạy chân đất, lỡ què thì cực cả nhà. Nón cũng cho mấy chị buôn bán rồi. Đi ngoài chợ cả ngày mà không có gì che đầu, họ đau thì gia đình họ khổ hơn mình.

Sau đó, tôi bỏ nghề xe đạp thồ, theo người ta đi lên núi tìm trầm. Mỗi chuyến đi từ mười lăm đến hai mươi ngày; về nhà nghỉ vài ba hôm rồi lại đi tiếp. Một thời gian sau hỏi thăm, tôi mới biết Chúa đã gọi ngài về khá lâu rồi.

… Tôi cảm thấy Thánh không còn xa nữa
Thánh rất gần ở giữa chúng ta
Thánh chan hòa tình yêu Chúa bao la
Yêu cuộc sống và yêu ta luôn mãi…”

Trích thơ Cát Trắng
Gioan Baotixita Nguyễn Đăng Ngôn
(Lễ Các Thánh Nam Nữ, 2011)

Phai Lam Gi?

08/05/2026

Bức ảnh "Thầy Nguyễn Văn Thuận bồng cô em gái út lizabeth Thu Hồng"

"Tuổi thơ Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận...

Như tất cả các thiếu nhi trong giáo xứ Phủ Cam, cậu Thuận bắt đầu học giáo lý vỡ lòng và học những vần a, b, c vào khoảng năm, sáu tuổi với các nữ tu Dòng Mến Thánh Giá Phủ Cam — những “O Sơ”, “O Kinh” hiền từ của tuổi thơ Huế. Cậu được rước lễ lần đầu ngày 08-12-1935 và lãnh nhận bí tích Thêm Sức ngày 21-12-1937.

Ngoài giờ học, cậu Thuận cũng hồn nhiên như bao đứa trẻ khác trong xóm đạo. Cậu hòa mình vào những trò chơi tuổi thơ, chạy nhảy cùng bạn bè dưới bầu trời bình yên của Huế xưa. Trong lá thư đề ngày 01-07-1989 gửi người bạn già Hoàng Minh Châu ở Huế, Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Thuận đã viết:

“Tôi không khi nào quên những kỷ niệm thuở xa xưa khi tụi mình đi câu cá dọc theo dòng nước từ Ngự Bình qua Giếng Khe, và đào đất sét trắng nắn trâu bò và tượng máng cỏ.”

Ông Hoàng Minh Châu sau này kể lại tình bạn thời thơ ấu ấy bằng một giọng đầy xúc động:

“Ngài rất thương yêu bạn bè. Cái gì cũng ưu tiên cho bạn. Mùa hè rủ nhau đi câu bắt cá ở suối khe, bắt được con cá nào cũng giao cho bạn trước, hái được quả chín nào cũng nhường bạn trước mình. Tất cả đời sống tuổi trẻ của ngài là như vậy…”

Sau những năm đầu học tại trường Tiểu học Têrêxa Phủ Cam của các nữ tu Dòng Mến Thánh Giá, cậu Thuận tiếp tục theo học tại trường Pellerin (Bình Linh) của các Sư huynh La San.

Năm 1941, khi vừa tròn mười ba tuổi, cậu Nguyễn Văn Thuận gia nhập Tiểu Chủng viện An Ninh tại Cửa Tùng, Quảng Trị.

Người trực tiếp giới thiệu cậu vào chủng viện là linh mục thừa sai André Chapuis — thường được gọi thân mật là Cố Châu — cha sở Phủ Cam từ năm 1936 đến năm 1944. Với tư cách cha sở, ngài “cho đi tu”, nghĩa là xác nhận với Bề trên chủng viện rằng: đây là một thiếu niên có tư cách tốt, gia đình tốt, đời sống đạo đức tốt, xứng đáng được nhận vào nhà Chúa. Tuy nhiên, vị bảo trợ đặc biệt của cậu Thuận khi ấy chính là Đức cha Ngô Đình Thục.

Cha André Chapuis là một vị thừa sai đạo đức và uyên bác, nổi tiếng về kiến thức văn hóa cũng như giáo sử Giáo phận Huế, được nhiều người đánh giá ngang tầm với cha Léopold Cadière — “Cố Cả”. Ngài có một trí nhớ phi thường, nhớ rất rõ từng con người, từng địa danh, từng biến cố với độ chính xác đáng kinh ngạc.

Nhờ đã đậu bằng Tiểu học Pháp – Việt (Certificat d’Études Primaires Franco-Indigènes) tại Huế vào mùa hè năm 1941, chú Thuận không phải vào lớp Tư như đa số chủng sinh mới nhập viện, mà được cha Bề trên Jean-Baptiste Urrutia nhận thẳng vào lớp Ba, cùng với các chú Nguyễn Phùng Tuệ, Nguyễn Văn Trông và Đỗ Thanh Vì.

Những năm ấy, do ảnh hưởng của Đệ nhị Thế chiến, đời sống tại Tiểu Chủng viện An Ninh khá kham khổ. Vật chất thiếu thốn, sinh hoạt đơn sơ, mọi sự đều phải dè sẻn. Nhưng điều đáng chú ý là: dù lớn lên trong một gia đình tương đối đầy đủ, chú Thuận vẫn vui vẻ đón nhận tất cả. Không than phiền. Không tỏ vẻ khác biệt. Trái lại, chú hòa đồng với anh em rất tự nhiên, sống đơn sơ như con cái của một gia đình nông dân thực thụ. Chính tại An Ninh, chú đã tìm thấy một niềm hạnh phúc sâu xa và bình an trọn vẹn của đời sống dâng hiến.

Điều làm chú sung sướng hơn cả không phải là điều kiện vật chất, nhưng là được sống gần những vị linh mục đạo đức, học rộng và tận tụy trong công việc giáo dục. Đó là cha Bề trên Jean-Baptiste Urrutia cùng các linh mục giáo sư như Anrê Bùi Quang Tịch, Giuse Maria Nguyễn Văn Thích, Marie Cressonnier (Cố Báu), Pierre Richard (Cố Phan), Phaolô Lê Văn Đẩu, Giuse Lê Văn Hộ, Phêrô Trần Hữu Tôn và Micae Nguyễn Văn Tường.

Trong số ấy, có bốn vị ân sư đã để lại những dấu ấn đặc biệt sâu đậm nơi nhân cách và đời sống thiêng liêng của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Từ tuổi thơ cho đến lúc trưởng thành, tâm hồn và phong thái của ngài dần được hình thành qua mẫu gương sống động của các vị thầy ấy.

Đặc biệt hơn cả là Đức cha Jean-Baptiste Urrutia. Trong suốt những năm làm chủng sinh rồi linh mục, cha Thuận luôn được Đức cha gần gũi, hướng dẫn và chăm sóc tận tình.

Từ nơi vị giám mục hiền hậu ấy, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận học được phong thái dịu dàng, niềm vui nội tâm, cách nói chuyện đơn sơ mà chân thành, khả năng phân định để tìm ra chân lý, và nhất là tinh thần tự hiến âm thầm cho Thiên Chúa mà không mong chờ bất cứ phần thưởng nào cho riêng mình.

Trong thời gian tu học tại Đại Chủng viện Phú Xuân, thầy Thuận còn kín múc được rất nhiều lợi ích thiêng liêng từ những bài huấn đức ngắn gọn nhưng sâu sắc mà Đức cha Urrutia dành cho các chủng sinh mỗi tuần.

Chính Đức cha Urrutia cũng là người đã tuyển chọn và tích cực khuyến khích linh mục trẻ Nguyễn Văn Thuận sang Rôma du học. Sau khi hoàn tất việc học trở về giáo phận, ngài tiếp tục đặt cha Thuận làm giáo sư chủng viện.

Mẫu gương tận hiến quên mình cùng những lời dạy âm thầm của Đức cha Urrutia sau này trở thành một trong những điểm tựa thiêng liêng quan trọng nhất, giúp Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đứng vững trong những năm tháng lao tù đầy thử thách".

(Trích Gia Đình Cựu Chủng Sinh Huế, Đấng Đáng Kính Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận 1928-2002)

Phai Lam Gi?

24/04/2026

Bức ảnh: Đức cha FX. Nguyễn Văn Thuận nằm trên võng ở nhà xứ Giáo xứ Cây Vông, thôn Đại Điền Tây, xã Diên Sơn, huyện Diên Khánh, Phú Khánh (thời gian bị quản thúc giữa tháng 8/1975- giữa tháng 3/1976).

Có những cuộc đời không cần giảng
tự nó đã là một bài giảng sống động.

“Một gương sáng rất tốt cho các giám mục noi theo.”
Đó không phải là một lời khen xã giao. Đó là một phán định có sức nặng thiêng liêng của Đức Hồng y Lazzaro You Heung-sik khi nói về Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, một con người mà chính cuộc đời đã trở thành Tin Mừng.

Không phải thành công theo sự đời. Không phải thành tựu trần gian. Cũng không phải những con số báo cáo mục vụ. Điều làm nên tầm vóc của ngài nằm ở một cấp độ sâu hơn: một đời sống đã đồng hình với điều mình rao giảng.

Theo lời hồng y Lazzaro, giữa những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận vẫn không ngừng loan báo đức tin cho đến khi ranh giới giữa “sống” và “loan báo” hoàn toàn biến mất.

Loan báo không còn là việc ngài làm.
Loan báo chính là ngài đang bị giới hạn.

Mẫu gương ấy trở nên sắc bén đến mức không thể né tránh: không phải loan báo bằng diễn ngôn, mà bằng sự hiện hữu; không phải bằng ảnh hưởng, mà bằng trung tín;
không phải trong ánh sáng của thuận lợi, mà trong bóng tối của thử thách tù đày đau đớn, nơi đức tin không còn là lý thuyết, mà là lựa chọn sống còn.

Đức Hồng y You Heung-sik nhìn về Giáo hội Việt Nam với một tình cảm đặc biệt. Nhắc lại cuộc gặp gỡ Ad Limina, ngài gọi đó là một “trải nghiệm rất đẹp”, không chỉ vì những gì ngài thấy, mà vì những gì ngài cảm nhận: một Giáo hội sống, và sống thật.

Ngài ghi nhận sức sống mạnh mẽ của các ơn gọi, cùng những nỗ lực không ngừng trong việc loan báo Tin Mừng. Nhưng rồi, ngài đặt lại toàn bộ vấn đề vào đúng trục của nó: điều quan trọng nhất không phải là làm nhiều, mà là sống thật.

Đây không chỉ là một nhận định mục vụ. Đây là một tiêu chuẩn mang tính phán xét. Tin Mừng không lan truyền bằng chiến lược. Tin Mừng lan truyền bằng những con người đã bị Tin Mừng chiếm lấy.

Và vì thế, Đấng Đáng Kính Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận không chỉ là niềm tự hào của Giáo hội Việt Nam. Ngài là một câu hỏi đặt thẳng vào lương tâm của mọi người rao giảng:

Bạn đang nói về Tin Mừng…
hay bạn thực sự đang sống nó?

Phai Lam Gi?

16/04/2026

Kính mừng Sinh nhật Đấng Đáng Kính Phanxicô Xaviê Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.

Sổ rửa tội ghi sinh nhật ngài là 17-4-1928 và 2 ngày sau, ngài lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy ngày 19 tháng 4 năm 1928 tại Nhà thờ Chính tòa Phủ Cam, với thánh hiệu Phanxicô Xaviê.

------------
Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận và các anh chị em của ngài được hưởng một nền giáo dục rất tốt lành ngay từ thuở ấu thơ.

Ông Tađêô Nguyễn Văn Ấm sinh ngày 07-7-1900, qua đời ngày 01-7-1993. Bà Elisabeth Ngô Đình Thị Hiệp sinh ngày 05-5-1903, qua đời ngày 27-01-2005. Hai ông bà đều sinh tại Huế và qua đời tại Úc. Hai ông bà kết hôn vào ngày 28-11-1925, do linh mục chánh xứ Phủ Cam, François Antoine Stoeffler (Cố Thể), chứng hôn.

Bà Elisabeth là một tiểu thư con quan đại thần, nhưng sống rất khiêm tốn, hòa đồng và giản dị. Ngay từ nhỏ, bà đã có một nếp sống thánh thiện: sớm tối kinh nguyện sốt sắng, cùng gia đình tham dự thánh lễ hằng ngày, và nhiệt thành tham gia các công việc đạo đức, bác ái.

Hai ông bà sinh được chín người con. Người con trai cả, Nguyễn Văn Xuân, mất vì dịch hạch vào tháng 10 năm 1927, khi mới hai tuổi. Người con thứ hai là Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Các người con tiếp theo gồm: cô Nguyễn Thị Niềm, ông Nguyễn Linh Tuyên, ông Nguyễn Văn Thanh, cô Nguyễn Thị Hàm Tiếu, cô Nguyễn Thị Ánh Tuyết, cô Nguyễn Thị Thủy Tiên, và người con út là cô Nguyễn Thị Thu Hồng.

Bà Thu Hồng, em gái của Đức Hồng y, kể lại rằng gia đình rất đau buồn khi người con trai đầu lòng qua đời. Vì thế, họ cầu nguyện xin Chúa ban cho một người con trai khác. Ngày 17 tháng 4 năm 1928, khi người con trai thứ hai chào đời, hai bên nội ngoại cùng họp bàn và quyết định đặt tên là “Thuận”, nghĩa là thuận theo thánh ý Chúa, dâng hiến cho Chúa.

Cậu bé Thuận được linh mục thừa sai François Antoine Stoeffler (Cố Thể) ban bí tích Thánh Tẩy ngày 19 tháng 4 năm 1928 tại Nhà thờ Chính tòa Phủ Cam, với thánh hiệu Phanxicô Xaviê. Cha đỡ đầu là ông Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Lễ, chú họ của cậu, đồng thời là chồng của người dì ruột.

Trong một buổi nói chuyện với giới trẻ Việt Nam tại Strasbourg, Đức Hồng y đã nhiều lần nhắc đến ân sủng được làm Kitô hữu qua phép rửa tội cách đó 70 năm. Ngài khẳng định rằng không có lễ mừng nào vui hơn dịp kỷ niệm này, vì đó là cơ hội để ngài tạ ơn vị linh mục đã ban bí tích rửa tội cho mình, đồng thời tri ân những bước chân anh hùng và máu đào tử đạo của các nhà truyền giáo tại Việt Nam.

Từ thuở ấu thơ, cậu Phanxicô Xaviê Thuận cùng các anh chị em được nuôi dưỡng trong một nền giáo dục gia đình đậm đà tinh thần Công giáo và truyền thống Việt Nam. Chính cha mẹ là ông Nguyễn Văn Ấm và bà Ngô Đình Thị Hiệp đã nêu gương sáng mỗi ngày qua lời ăn tiếng nói, cung cách sống và cách đối nhân xử thế: nghiêm túc nhưng luôn ôn tồn, nhẹ nhàng, và tràn đầy lòng mến Chúa yêu người.

Trong gia đình cũng như ngoài xã hội, hai ông bà sống như những người công chính đích thực theo tinh thần Tin Mừng. Mỗi tối, bà Isave dạy con cái đọc kinh, kể cho con nghe các câu chuyện Kinh Thánh, các gương anh hùng của các Thánh Tử đạo Việt Nam, và đặc biệt là những gương sáng của tổ tiên qua các thời kỳ cấm đạo. Hạnh tích của Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu cũng thường xuyên được bà nhắc lại như một mẫu gương sống đức tin.

Những giờ kinh tối trong gia đình đã để lại một dấu ấn sâu đậm và không thể phai mờ trong tâm hồn Đức Hồng y. Ngài từng nhớ lại:

“Cũng không thể quên được những kinh Việt ngữ, tiếng mẹ đẻ của tôi, mà cả nhà cùng cầu nguyện mỗi tối trong nhà nguyện gia đình. Tôi hình dung được trước mắt ông bà, ba má và các em tôi, và nghe giọng mỗi người đang cầu nguyện. Nhất là ba kinh Kính Mừng và kinh Hãy Nhớ mà Mẹ tôi tập tôi đọc sớm tối từ lúc mới biết nói.”

Khi nói về người mẹ thánh thiện của mình, Đức Hồng y đã ghi lại những lời đầy xúc động:

“Mẹ Elisabeth,
Người đã giáo dục con từ khi con còn ở trong bụng Mẹ.
Mỗi tối Mẹ dạy con những chuyện Kinh Thánh.
Mẹ kể cho con lịch sử các thánh tử đạo Việt Nam, nhất là về tổ tiên chúng ta.
Mẹ dạy con yêu mến Tổ quốc.
Mẹ giới thiệu cho con Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu như mẫu gương các nhân đức Kitô giáo.
Mẹ là người phụ nữ mạnh mẽ, đã chôn táng các anh em mình bị những kẻ phản bội sát hại, nhưng sau đó vẫn tha thứ và tiếp đón họ như thể không có gì xảy ra.
Khi con ở tù, Mẹ là nguồn an ủi và nâng đỡ lớn lao cho con.
Mẹ nói với mọi người: Xin hãy cầu nguyện để con tôi được trung thành với Giáo Hội và ở lại nơi Chúa muốn.”

Quả thật, bài học yêu nước mà thân mẫu đã gieo vào lòng ngài đã trở thành một sức mạnh nội tâm bền bỉ. Trong suốt cuộc đời, Đức Hồng y luôn mang trong mình một tình yêu sâu đậm đối với quê hương Việt Nam — một tình yêu được diễn tả cách cô đọng trong chính lời của ngài:

“Mang trên mình Chúa Giêsu và quê hương Việt Nam.”

(Ảnh và nội dung gia tộc do Bà Thu Hồng, em gái của Đức Hồng y, kể lại trong tiểu sử Đức FX. Nguyễn Văn Thuận).

Những mốc chính:

• 17/04/1928: Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sinh tại giáo xứ Phủ Cam, Huế.
• 1940: 13 tuổi, vào Tiểu Chủng viện An Ninh (Quảng Trị).
• 1947: Vào Chủng viện Kim Long, Huế.
• 11/06/1953: Chịu chức linh mục lúc 25 tuổi và được sai về giúp giáo xứ Thánh Phanxicô; sau đó được Đức cha JB Urrutia bổ nhiệm làm tuyên úy Bệnh viện Pellerin và các nhà giam của tỉnh.
• 1956: Được Đức cha JB Urrutia cử đi du học Rôma.
• 1959: Trở thành giáo sư của Chủng viện Huế và sau đó làm giám đốc.
• 1964: 36 tuổi, làm Tổng Đại diện của Giáo phận Huế.
• 13/04/1967: Được Đức Giáo hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Giám mục Nha Trang; ngài cũng là vị Giám mục người Việt Nam đầu tiên của giáo phận này.
• 24/06/1967: Thụ phong Giám mục, chọn châm ngôn từ Hiến chế Gaudium et Spes (“Vui mừng và Hy vọng”).
• 1967–1975: Chủ tịch Ủy ban Công lý & Hòa bình, Ủy ban Truyền thông Xã hội và Ủy ban Phát triển Việt Nam.
• 23/04/1975: Đức Phaolô VI bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám mục phó Sài Gòn với quyền kế vị.
• 15/08/1975: Bị câu lưu và áp giải ra Nha Trang. Ngài bị giam hơn 13 năm, trong đó có 9 năm biệt giam tại trại Vĩnh Quang; tại đây ngài viết “Đường Hy Vọng.”
• 23/11/1988: 60 tuổi, được trả tự do và buộc cư trú tại Tòa Tổng Giám mục Hà Nội.
• 06/04/1989: Được phép sang Sydney (Úc) thăm cha mẹ, qua Rôma rồi trở về Hà Nội; thời gian này sức khỏe suy giảm.
• 11/1991: Sang Rôma chữa bệnh; visa bị từ chối nên không thể trở về quê nhà.
• 24/11/1994: 66 tuổi, được bổ nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình.
• 24/06/1998: 70 tuổi, trở thành Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình và đi giảng thuyết nhiều nơi.
• Mùa Chay 2000: Nhận lời mời đặc biệt của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II giảng Tuần Tĩnh tâm Mùa Chay cho Giáo triều Rôma.
• 17/04/2001: Ca phẫu thuật áp chót tại Trung tâm Y khoa Thánh Elisabeth (Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ).
• 08/05/2002: Ca phẫu thuật cuối tại Trung tâm Nghiên cứu Khối u (Milan, Ý).
• 2002: Điều trị tại Bệnh viện Agostino Gemelli, sau đó chuyển sang Bệnh viện Piô XI.
• 16/09/2002: Lúc 6 giờ 30 tại Rôma, Thiên Chúa gọi Đức Hồng y Thuận về nhà Cha.

• 22/10/2010: Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận được chính thức mở án phong thánh tại Rome, từ đây ngài được gọi là Tôi Tớ Chúa (Servant of God).

• 04/05/2017: Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận được Pope Francis ký sắc lệnh công nhận “Heroic Virtues” (các nhân đức anh hùng), chính thức được tuyên phong Đấng Đáng Kính (Venerable).

..
Chân Phước (Blessed) (cần phép lạ)
Hiển Thánh (Saint) (cần thêm phép lạ)

Chúng ta hiệp lòng tăng cường cầu nguyện, nhờ lời chuyển cầu của Đấng Đáng Kính Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, nhân sinh nhật ở trần gian của ngài.

Want your school to be the top-listed School/college?

Website