Trường TH &THCS Ngọc Vừng

Trường TH &THCS Ngọc Vừng Tự hào xã đảo anh hùng, nơi vinh dự được đón Bác Hồ về thăm quân và dân trên đảo năm 1962

🌟 VINH DỰ – TỰ HÀO TRƯỜNG TH&THCS NGỌC VỪNG 🌟🎉 Chiều ngày 20/8/2026, Trường TH&THCS Ngọc Vừng đã tham dự Hội nghị Tổng k...
20/08/2026

🌟 VINH DỰ – TỰ HÀO TRƯỜNG TH&THCS NGỌC VỪNG 🌟

🎉 Chiều ngày 20/8/2026, Trường TH&THCS Ngọc Vừng đã tham dự Hội nghị Tổng kết năm học 2025-2026 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm học 2026-2027 tại Trung tâm Văn hóa đặc khu Vân Đồn.

Tại Hội nghị, những nỗ lực và thành tích của tập thể nhà trường, cán bộ, giáo viên, nhân viên trong năm học vừa qua đã được ghi nhận, biểu dương và khen thưởng.

🏆 Đối với tập thể:
UBND đặc khu Vân Đồn tặng Giấy khen cho tập thể Trường TH&THCS Ngọc Vừng vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác và phong trào thi đua năm học 2025-2026.

🏅 Đối với cá nhân:

🌸 Sở Giáo dục và Đào tạo tặng Giấy khen:
👨‍🏫 Thầy giáo Nguyễn Trọng Tùng – Giáo viên.

🌸 UBND đặc khu Vân Đồn tặng Giấy khen:
👩‍💼 Cô giáo Phạm Thị Thanh Hảo – Hiệu trưởng;
👩‍💼 Cô giáo Hoàng Thị Thu Hồng – Phó Hiệu trưởng;
👩‍💼 Cô giáo Lê Thị Loan – Nhân viên.

❤️ Nhà trường xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo và ghi nhận của Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND đặc khu Vân Đồn; sự đồng hành của các cấp, các ngành, cha mẹ học sinh và toàn thể cộng đồng đối với sự nghiệp giáo dục của nhà trường.




20/08/2026
💐Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày truyền thống Công an nhân dân. Trường TH&THCS Ngọc Vừng Kính chúc các đồng chí trong lực l...
19/08/2026

💐Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày truyền thống Công an nhân dân. Trường TH&THCS Ngọc Vừng Kính chúc các đồng chí trong lực lượng CAND luôn mạnh khỏe, bản lĩnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, giữ vững tinh thần “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, góp phần bảo vệ bình yên của Tổ quốc và cuộc sống hạnh phúc của Nhân dân.💐💐💐

Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mớiTrong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh ...
17/08/2026

Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mới

Trong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh xác định đầu tư kết cấu hạ tầng là một trong ba đột phá chiến lược, tạo nền tảng mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Những tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về giải phóng mặt bằng (GPMB), thủ tục đầu tư và nguồn lực triển khai, tỉnh vẫn tập trung tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các dự án giao thông, cảng biển và hạ tầng kinh tế trọng điểm, qua đó tạo thêm dư địa để thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 13% trong năm 2026.

Trong nhiều năm qua, Quảng Ninh dành ưu tiên cao cho phát triển kết cấu hạ tầng, coi đây không chỉ là điều kiện nâng cao khả năng kết nối vùng, thu hút đầu tư mà còn là yếu tố quan trọng để hình thành các động lực tăng trưởng mới. Kết quả đầu tư những tháng đầu năm 2026 tiếp tục cho thấy định hướng này. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 61.300 tỷ đồng, tăng 16,4%, qua đó tạo nền tảng để tỉnh phấn đấu hoàn thành mục tiêu cả năm tăng 13%. Điểm đáng chú ý là nguồn lực đang được tập trung vào các công trình có tính chất động lực, có khả năng tạo tác động lan tỏa đối với phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn. Nhiều dự án giao thông, cảng biển, logistics và hạ tầng kinh tế trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ, đồng thời các vướng mắc về thủ tục, GPMB, vật liệu và nguồn lực đầu tư được tập trung tháo gỡ.

Trong nhóm dự án ngoài ngân sách, Bến cảng tổng hợp Vạn Ninh (giai đoạn 1) đang được tỉnh đặc biệt quan tâm. Thời gian qua, các sở, ngành, Ban Quản lý Khu kinh tế và UBND phường Móng Cái 2 liên tục kiểm tra hiện trường, hướng dẫn chủ đầu tư hoàn thiện các thủ tục, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn liên quan đến nguồn vật liệu san lấp và tiến độ thi công. Ban Quản lý Khu kinh tế đã yêu cầu chủ đầu tư rà soát tổng thể tiến độ, xây dựng kế hoạch chi tiết và cam kết hoàn thành toàn bộ dự án trong tháng 12/2026.

Cùng với Vạn Ninh, Bến cảng tổng hợp Con Ong - Hòn Nét được xác định là dự án có ý nghĩa quan trọng trong định hướng phát triển hệ thống cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Theo Quyết định số 860/QĐ-BXD ngày 19/6/2025 của Bộ Xây dựng, khu bến được quy hoạch phát triển thành khu bến cảng tổng hợp, container và hàng rời, gồm 2 cầu cảng, công suất khoảng 4,5-6 triệu tấn/năm vào năm 2030, hướng tới hình thành cảng trung chuyển quốc tế phía Bắc. Tuy nhiên, do yêu cầu về quy mô đầu tư, hạ tầng kết nối và nguồn lực rất lớn, đến nay dự án chưa lựa chọn được nhà đầu tư. Trước thực tế này, Quảng Ninh đang chủ động tìm kiếm các giải pháp nâng cao tính hấp dẫn của dự án, trong đó phối hợp với Viện Hàng hải Đông Bắc (Hoa Kỳ) nghiên cứu định hướng phát triển hạ tầng cảng biển; đồng thời đề xuất Bộ Xây dựng hỗ trợ đầu tư nạo vét luồng Cẩm Phả vào khu vực cảng Hòn Nét - Con Ong.

Việc tháo gỡ từng điểm nghẽn, chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng kết nối và điều kiện khai thác được kỳ vọng sẽ tạo thêm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư chiến lược, từng bước phát huy lợi thế về vị trí cửa ngõ, cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Qua đó, những công trình hạ tầng trọng điểm không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển hiện tại mà còn góp phần mở rộng không gian kinh tế, tạo thêm động lực tăng trưởng cho tỉnh trong giai đoạn 2026-2030.

Song hành với việc đầu tư vào các công trình hạ tầng lớn, Quảng Ninh đang chú trọng nâng cấp, hoàn thiện hệ thống luồng hàng hải, qua đó nâng cao năng lực khai thác cảng biển và kết nối logistics. Các dự án nâng cấp tuyến luồng sông Chanh, duy tu luồng Cẩm Phả và luồng Hòn G*i - Cái Lân đã được Bộ Xây dựng đưa vào danh mục rà soát kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Hiện Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đang triển khai các thủ tục để thực hiện nạo vét, duy tu các tuyến luồng trong năm 2026 và đầu năm 2027.

Đáng chú ý, các dự án hạ tầng đang được triển khai có sự gắn kết chặt chẽ với hệ thống quy hoạch chiến lược được tỉnh công bố ngày 30/6/2026, gồm: Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh; Quy hoạch Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh tổ chức lại không gian phát triển, mở rộng các khu vực đô thị, công nghiệp, logistics và kinh tế biển theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Đặc biệt, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh đã đề xuất bổ sung tuyến cao tốc kết nối cao tốc Hải Phòng - Hạ Long với đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội. Nếu được đầu tư, tuyến kết nối này sẽ mở thêm hướng liên kết giữa Quảng Ninh với vùng thủ đô và các trung tâm kinh tế lớn phía Bắc, qua đó tạo điều kiện mở rộng không gian phát triển công nghiệp, logistics, thương mại và đô thị.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, mỗi công trình hạ tầng hoàn thành không chỉ giải quyết nhu cầu giao thông, vận tải trước mắt mà còn tạo ra những không gian phát triển mới. Cao tốc mở rộng khả năng kết nối và thu hút đầu tư; cảng biển nâng cao năng lực xuất nhập khẩu; các khu công nghiệp tạo thêm mặt bằng cho sản xuất; trong khi hệ thống logistics đồng bộ giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực.

Trên nền tảng đó, thời gian tới, Quảng Ninh tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các công trình động lực; tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong giải quyết thủ tục đầu tư, GPMB; nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư trong thực hiện cam kết tiến độ. Đối với những vấn đề vượt thẩm quyền, tỉnh chủ động làm việc với các bộ, ngành Trung ương để kịp thời tháo gỡ. Cùng với đó, đẩy mạnh xúc tiến, thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào lĩnh vực hạ tầng, cảng biển và logistics, từng bước biến lợi thế về vị trí, kết nối và kinh tế biển thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng cho Quảng Ninh phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.





Chuyên gia nhận định: “Đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là tuyến vận tải mới”Theo ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup k...
17/08/2026

Chuyên gia nhận định: “Đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là tuyến vận tải mới”

Theo ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là câu chuyện về một tuyến vận tải mới, mà còn đặt ra câu hỏi Việt Nam muốn phát triển như thế nào trong vài thập niên tới.
Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị triển khai đường sắt cao tốc Bắc - Nam, ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (đơn vị tham gia rà soát Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của dự án và các chương trình đường sắt cao tốc quốc tế), cho rằng Việt Nam cần trả lời câu hỏi mong muốn kết nối các đô thị lớn ra sao, mở ra những hành lang kinh tế mới như thế nào và hướng tới mô hình tăng trưởng hiệu quả, phát thải thấp hơn ra sao.

Tuy nhiên, các dự án quy mô lớn không thể thành công chỉ nhờ tham vọng. Dựa trên kinh nghiệm quốc tế trong các dự án như Đường sắt cao tốc California (California High-Speed Rail) và High Speed 1 tại Vương quốc Anh, Arup nhận thấy rằng đường sắt cao tốc chỉ phát huy hiệu quả khi được nhìn nhận như một chiến lược phát triển quốc gia dài hạn, thay vì một công trình mang tính biểu tượng.

Với Việt Nam, vấn đề không chỉ là có nên đầu tư đường sắt cao tốc hay không, mà là liệu những nền móng cần thiết đã được chuẩn bị từ hôm nay để dự án vận hành hiệu quả, khả thi về tài chính và tạo giá trị bền vững hay chưa.

Theo ông TC Chew, lý do để đầu tư đường sắt cao tốc không dừng ở việc rút ngắn thời gian di chuyển. Một tuyến kết nối Hà Nội với TPHCM, đi qua các trung tâm tỉnh thành trọng yếu, có thể mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm, thúc đẩy du lịch, giảm trở ngại trong di chuyển và hỗ trợ mô hình phát triển cân bằng hơn giữa các vùng.

Ông chia sẻ, thành công của tham vọng phát triển đường sắt tại Việt Nam sẽ phụ thuộc không chỉ vào tốc độ vận hành của tuyến đường sắt cao tốc, mà còn vào việc các đô thị được quy hoạch, kết nối và phát triển như thế nào dọc theo hành lang tuyến.

Nhìn từ góc độ này, bài toán vốn cũng cần được nhìn nhận rộng hơn. Chi phí đầu tư ban đầu chắc chắn rất lớn, nhưng giá trị dài hạn của đường sắt cao tốc không chỉ nằm ở doanh thu vé, mà còn ở khả năng nâng giá trị đất đai, thu hút đầu tư, tái định hình không gian quanh nhà ga và mở rộng tiếp cận việc làm, dịch vụ.

Vì vậy, theo ông TC Chew phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD – Transit-oriented development) cần được tính toán từ đầu, với các nhà ga được quy hoạch thành những trung tâm đô thị tích hợp, nơi nhà ở, thương mại, không gian công cộng và các phương thức di chuyển kết nối với nhau. Làm tốt, cách tiếp cận này có thể vừa cải thiện hiệu quả tài chính, vừa nâng chất lượng đô thị.

Một tuyến đường sắt cao tốc chỉ phát huy tốt khi toàn bộ hành trình được kết nối liền mạch. Vì vậy, quy hoạch quanh ga cần tính đến yếu tố liên thông từ đầu. Nếu hành khách xuống tàu phải đối mặt với ùn tắc, giao thông công cộng hạn chế hoặc chặng cuối kéo dài, lợi ích của tuyến đường sẽ bị suy giảm, ông TC Chew chỉ rõ.

Ông nhấn mạnh quy hoạch nhà ga cần gắn chặt với mạng lưới metro, xe buýt, sân bay và định hướng phát triển các khu vực lân cận, tạo ra một hành trình liền mạch từ điểm khởi hành đến điểm đến cuối cùng.

Để hiện thực hóa điều đó, năng lực tổ chức thực hiện quan trọng không kém tham vọng kỹ thuật. Các chương trình đường sắt quy mô lớn phụ thuộc vào chất lượng quản trị, phương thức mua sắm và khả năng triển khai, từ phân chia gói thầu, phân bổ rủi ro, quy trình phê duyệt và thứ tự triển khai. Vì vậy, chương trình cần mô hình triển khai rõ ràng, lộ trình phân kỳ thực tế và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương.

Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng lớn cũng tạo cơ hội nâng cao năng lực nội tại của quốc gia, từ củng cố năng lực kỹ thuật, năng lực về công nghệ và các hệ thống số, năng lực quản lý vận hành, kỹ năng thi công chuyên biệt và chuỗi cung ứng trong nước. Điều này đòi hỏi kế hoạch phát triển nhân lực dài hạn, sự hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp, cùng các hợp đồng thực sự tạo điều kiện cho chuyển giao tri thức.

Niềm tin của công chúng là điều kiện quan trọng để dự án quy mô lớn nhận được sự ủng hộ trong dài hạn. Vì vậy, ông TC Chew nhấn mạnh cần minh bạch về phương án tuyến, công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư, tổng mức đầu tư, tiến độ và những lợi ích kỳ vọng, giúp người dân hiểu tác động của dự án tới khả năng di chuyển, tiếp cận và cơ hội kinh tế.





Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc giaPhát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn...
17/08/2026

Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc gia

Phát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn, đúng đắn, làm trục xương sống cho sự phát triển đất nước. Để chủ trương ấy thành công và bền vững, cần kiên định tự chủ công nghệ, bảo đảm chủ quyền công nghệ như một bộ phận của chủ quyền quốc gia, thông qua quản trị công nghệ hiệu quả, thực chất trong toàn bộ dự án.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra mười hai định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, và nhấn mạnh “tự chủ chiến lược” như một định hướng nền tảng. Trong dòng chảy ấy, chủ trương phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao quốc gia là nhu cầu cấp thiết, có ý nghĩa làm trục xương sống cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Có thể khẳng định, đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, kịp thời và mang tầm nhìn chiến lược. Ngày 30-11-2024, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, với chiều dài khoảng 1.541km, đường đôi khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế 350km/giờ, tải trọng 22,5 tấn/trục, tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1,713 triệu tỷ đồng, dự kiến hoàn thành năm 2035.

Ngay trong mục tiêu nền tảng, Nghị quyết đã đặt yêu cầu gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh ngang hàng hiệu quả kinh tế-một tư duy sâu sắc về vai trò chiến lược của hạ tầng giao thông đối với vận mệnh quốc gia. Chủ trương ấy không đứng đơn lẻ, mà nằm trong một hệ thống chính sách nhất quán, thể hiện sự lãnh đạo bài bản của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở định hướng của Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23-1-2026 của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, hệ thống đó cũng kế thừa và bổ sung từ Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về tuyến Bắc-Nam và Nghị quyết số 187/2025/QH15 về tuyến Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đưa công nghệ đường sắt tốc độ cao vào danh mục mười nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Tầm nhìn không dừng ở một tuyến, mà hướng tới cả một mạng lưới hiện đại, đồng bộ. Từ chuỗi các nghị quyết, căn cứ pháp lý được thông qua và ban hành đã khẳng định nỗ lực triển khai quyết liệt những chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả trong thực tiễn và đảm bảo các mục tiêu chiến lược đề ra, cần xem xét mạng lưới đường sắt tốc độ cao trong bối cảnh chủ quyền, an ninh quốc gia, đặc biệt cần quan tâm đến các vấn đề về chủ quyền công nghệ.

Trong thời đại số, chủ quyền quốc gia không chỉ là chủ quyền về lãnh thổ, biển đảo, vùng trời, mà còn bao hàm chủ quyền công nghệ - quyền và năng lực tự quyết của đất nước đối với những công nghệ chiến lược, không bị lệ thuộc đến mức bị chi phối từ bên ngoài. Với một hạ tầng huyết mạch như đường sắt tốc độ cao, làm chủ công nghệ chính là một phương diện thiết yếu của bảo vệ chủ quyền. Tự chủ công nghệ là phương thức; chủ quyền công nghệ là mục tiêu và là trạng thái cần đạt tới. Kiên định tự chủ công nghệ, do đó, không phải khẩu hiệu, mà là yêu cầu sống còn để bảo đảm đất nước nắm vững vận mệnh của chính mình.

Bảo đảm chủ quyền công nghệ có thể thông qua con đường: Tiếp cận và triển khai một cách bài bản, khoa học công tác dự báo công nghệ và quản trị công nghệ. Dự báo công nghệ là năng lực nhìn xa có cơ sở khoa học - nhận diện quỹ đạo phát triển của từng phân hệ, lường trước rủi ro phụ thuộc, chuẩn bị cho nhiều kịch bản trước khi lựa chọn. Quản trị công nghệ là năng lực làm chủ - biến dự báo thành các điều khoản chuyển giao chặt chẽ, khả thi về kinh tế và lợi ích các bên tham gia, đồng thời kiên định về mục tiêu chiến lược, hình thành được quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, chương trình đào tạo nhân lực và lộ trình nội địa hóa cụ thể. Với một dự án vận hành nhiều thập kỷ, mỗi quyết định công nghệ hôm nay ràng buộc hiệu năng, an toàn và mức tự chủ của đất nước về sau. Vì vậy phải quản trị bằng phương pháp khoa học, thực chất, xuyên suốt toàn bộ dự án.

Đường sắt tốc độ cao là hạ tầng chiến lược, lưỡng dụng, chạy dọc sống lưng đất nước; vì thế các dự án gắn bó hữu cơ với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.

Trong thời đại số, hệ thống thông tin - tín hiệu và điều khiển là bộ não của toàn tuyến, cần được bảo vệ tuyệt đối trước các nguy cơ an ninh khác nhau. Một hệ thống mà đất nước không nắm được khả năng kiểm tra, giám sát độc lập sẽ tiềm ẩn rủi ro chủ quyền. Do đó, quản trị công nghệ phải đặt lên hàng đầu, yêu cầu làm chủ khả năng giám sát hệ thống tín hiệu, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và chủ quyền dữ liệu vận hành. Chủ trương của Chính phủ về xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho đường sắt, tích hợp yêu cầu an toàn và an ninh ngay từ đầu, vì thế là hết sức đúng đắn và cần triển khai khẩn trương.

Thực tiễn đang chứng minh tính đúng đắn của chủ trương. Ngày 19-12-2025, tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành-Cần Giờ tại Thành phố Hồ Chí Minh được khởi công, dài hơn 54km, khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ. Ngày 12-4-2026, tuyến Cổ Loa-Hạ Long nối Hà Nội với Quảng Ninh chính thức khởi công, dài khoảng 120km, điện khí hóa toàn tuyến, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ, dự kiến sử dụng đoàn tàu thế hệ mới và hệ thống tín hiệu của đối tác quốc tế gắn với thỏa thuận chuyển giao công nghệ. Việc doanh nghiệp trong nước mạnh dạn đầu tư những công trình tầm vóc như vậy thể hiện đúng tinh thần Đại hội XIV về phát huy nội lực và huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển.

Điều có ý nghĩa nhất về công nghệ là: Các tuyến này, cùng trục Bắc-Nam, đều theo khổ tiêu chuẩn 1.435mm và tốc độ tối đa 350km/giờ, song Việt Nam kỳ vọng có thể dùng những giải pháp và nhà cung cấp khác nhau. Khi đất nước hình thành cả một mạng lưới do nhiều chủ đầu tư, nhiều đối tác từ các quốc gia khác nhau triển khai, bài toán liên thông, tích hợp đồng bộ và an toàn trên toàn hệ thống trở nên cấp thiết. Hiệu năng và an ninh của toàn mạng lưới không phụ thuộc vào riêng một tuyến, mà vào năng lực dự báo và quản trị công nghệ ở tầm quốc gia. Đa dạng hóa có thể áp dụng ở tầng xây dựng hạ tầng, cung cấp toa xe, thiết bị phụ trợ; nhưng tầng kiến trúc lõi, hệ thống thông tin - tín hiệu điều khiển của trục xương sống Bắc - Nam bắt buộc phải tuân thủ một chuẩn thống nhất tuyệt đối ở tầm quốc gia để bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và an toàn vận hành. Nếu Nhà nước chủ động làm chủ kiến trúc hệ thống và bộ tiêu chuẩn giao diện chung từ sớm, có mô hình và phương pháp quản trị công nghệ khoa học, thì sự đa dạng nhà cung cấp lại trở thành lợi thế giúp tránh phụ thuộc, vừa bảo đảm liên thông, vừa giữ vững chủ quyền công nghệ.

Khi hai tuyến Bến Thành-Cần Giờ và Cổ Loa-Hạ Long đã đồng loạt khởi động, việc khẩn trương đưa trục xương sống Bắc-Nam vào triển khai đúng tiến độ, với mục tiêu khởi công vào tháng 12-2026, càng trở nên cấp thiết. Đây không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, mà còn tạo hiệu ứng cộng hưởng, hình thành một thị trường và một ngành công nghiệp đường sắt nội địa đủ lớn để việc làm chủ công nghệ trở nên khả thi về quy mô. Càng triển khai sớm, đồng bộ và bài bản, đất nước càng sớm tích lũy năng lực và càng giảm thiểu rủi ro phụ thuộc. Tinh thần kiên định tự chủ công nghệ phải được quán triệt: Chuyển giao công nghệ là điều kiện tiên quyết khi chọn đối tác, gắn với mục tiêu tăng dần tỷ lệ nội địa hóa, tiến tới tự chủ chiến lược.

Thước đo cuối cùng của thành công không chỉ là những chuyến tàu chạy đúng giờ trong năm đầu, mà là việc sau mười, hai mươi năm, đất nước tự sản xuất được bao nhiêu bộ phận, tự bảo trì và bảo đảm an ninh được bao nhiêu cấu phần trong các đại dự án, tự kết nối liên thông được cả mạng lưới đến đâu. Khi ấy, nguồn vốn đầu tư khổng lồ không chỉ tạo nên những tuyến đường, mà còn kiến tạo một năng lực công nghệ quốc gia mới, đúng tinh thần phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả và tự chủ mà Đại hội XIV đã đề ra.

Phát huy khí thế và niềm tin từ thành công của Đại hội XIV, với tinh thần “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, có thể khẳng định và tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự đồng thuận của nhân dân và bằng việc coi trọng đúng mức, vận dụng khoa học công tác dự báo, quản trị công nghệ, dự án đường sắt tốc độ cao sẽ được triển khai thành công, hiệu quả, bền vững và an toàn. Đó vừa là trục xương sống cho phát triển, vừa là biểu tượng của khát vọng tự lực, tự cường và ý chí làm chủ công nghệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn toàn tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Nguồn: Báo QĐND
Tác giả: TRẦN VŨ TUẤN PHAN, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ







Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tếNghị quyết số 79-NQ/TW...
17/08/2026

Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế

Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về kinh tế Nhà nước kể từ năm 1986. Nghị quyết là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Theo đó, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, qua đó làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, như đất đai, tài nguyên, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, khẳng định kinh tế nhà nước vừa trực tiếp sản xuất, kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược, thiết yếu để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, điều tiết và dẫn dắt nền kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó: Mục tiêu tổng quát gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực then chốt, chiến lược; Hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.

Mục tiêu cụ thể về đất đai, tài nguyên: Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Về tài sản kết cấu hạ tầng: Bên cạnh việc phát triển đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết yêu cầu phải tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế.

Về ngân sách, dự trữ quốc gia: Bám sát các mục tiêu đến năm 2030 tại văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết số 79 yêu cầu thực hiện các chỉ tiêu: Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách. Về doanh nghiệp nhà nước: Bên cạnh việc tiếp tục phải hoàn thành các mục tiêu của Đảng về cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết 79 đề ra một số chỉ tiêu định lượng cần đạt được đến năm 2030: Phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.

Để thực hiện thành công các mục tiêu và tầm nhìn về phát triển kinh tế Nhà nước Nghị quyết đề ra các nhóm giải pháp chung.

Thứ nhất, đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; nâng cao trách nhiệm, hành động quyết liệt, hiệu quả với tinh thần "nói ít, làm nhiều, làm đến cùng" nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nhà nước.

Thứ hai là hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thứ ba là bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, trọng tâm là tiếp cận các nguồn lực công bằng, minh bạch; đẩy mạnh hợp tác công - tư; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; giảm giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Thứ tư là chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 71, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch.

Thứ năm là xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong hoạch định chính sách, kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công.

Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể từng lĩnh vực

Nghị quyết cũng nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Một là, đối với đất đai và tài nguyên: Để khắc phục những hạn chế hiện nay, Nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; kinh tế biển; nguồn lợi vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp; không gian ngầm; tài nguyên số và tài nguyên viễn thông.

Hai là, đối với tài sản kết cấu hạ tầng: trên cơ sở xác định rõ những vấn đề cần khắc phục về thể chế cho phát triển hạ tầng, Nghị quyết yêu cầu thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ chính: Xây dựng chiến lược, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; đảm bảo tính đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả tối đa các loại hình kết cấu hạtầng. Cùng với đó, bổ sung khung pháp lý để huy động nguồn lực ngoài ngân sách để phát triển tài sản kết cấu hạ tầng, bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.

Ba là, đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống.

Bốn là, đối với doanh nghiệp nhà nước: Nghị quyết đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; Cải thiện quản trị doanh nghiệp; Cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Năm là, đối với các tổ chức tín dụng nhà nước: Tiếp tục triển khai các giải pháp về áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, tăng vốn điều lệ cho ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước.

Sáu là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Đẩy mạnh tinh gọn bộ máy và hiện đại hóa cơ chế quản lý phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; cơ chế tài chính giảm từ cấp phát trực tiếp sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng. Cùng với đó, đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ có khả năng cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.






https://www.facebook.com/share/p/19UjxUMB4w/?mibextid=wwXIfr
16/08/2026

https://www.facebook.com/share/p/19UjxUMB4w/?mibextid=wwXIfr

Giữ vững trận địa tư tưởng trên không gian số - Kỳ 3: “Thế trận lòng dân” - thành trì bền vững nhất trên không gian mạng

Tác giả: PGS, TS BÙI HOÀI SƠN, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội

Không có bức tường lửa nào có thể thay thế được niềm tin xã hội, cũng không có thuật toán nào đủ mạnh để bảo vệ một cộng đồng thiếu năng lực tự phân biệt đúng - sai. Khi Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng, vấn đề cốt lõi không chỉ là công nghệ hay lực lượng chuyên trách. Đó là việc hình thành một xã hội số có bản lĩnh, có văn hóa, có khả năng đối thoại và cùng chia sẻ trách nhiệm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải là một điểm tựa của niềm tin

Nếu coi không gian mạng là một mặt trận đặc biệt của thời đại số thì cán bộ, đảng viên không thể đứng ngoài mặt trận ấy. Quy định số 85-QĐ/TW ngày 7-10-2022 của Ban Bí thư về việc cán bộ, đảng viên thiết lập và sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân trên Internet, mạng xã hội đã đặt ra yêu cầu về trách nhiệm, kỷ luật và nêu gương trong môi trường số. Nhưng tôi cho rằng điều cần nhấn mạnh không phải là biến mỗi cán bộ, đảng viên thành một người chuyên “tranh luận trên mạng”. Vai trò tiên phong trước hết phải được thể hiện ở tư cách một công dân số gương mẫu: Tôn trọng sự thật, không chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng, ứng xử văn minh, bảo vệ bí mật, dữ liệu, và có khả năng giải thích chính sách bằng ngôn ngữ gần gũi với người dân.

Trong nhiều cuộc tranh luận trên mạng, cách phản bác đôi khi lại làm cho đối đầu sâu thêm vì sử dụng giọng điệu áp đặt, nhãn dán hoặc miệt thị. Điều đó không phù hợp với yêu cầu thuyết phục. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh trong chỉ đạo về công tác tư tưởng ngày 15-6-2026 rằng công nghệ, dữ liệu và AI rất quan trọng nhưng không thể thay thế bản lĩnh chính trị, nền tảng lý luận, đạo đức cách mạng, năng lực đối thoại, trách nhiệm nêu gương và sức thuyết phục của cán bộ, đảng viên. Đây chính là điểm cốt lõi. Trong môi trường số, người dân không chỉ đọc nội dung cán bộ viết; họ còn quan sát cách cán bộ tranh luận, cách cán bộ tiếp nhận phê bình và sự nhất quán giữa lời nói trên mạng với hành động ngoài đời.

Một cán bộ có thể đăng nhiều thông tin tích cực, nhưng nếu trong thực tế lại chậm giải quyết hồ sơ, né tránh trách nhiệm hoặc vô cảm trước kiến nghị của người dân thì rất khó tạo ra niềm tin. Ngược lại, một lời xin lỗi đúng lúc, một việc khó được giải quyết đến cùng, một chính sách được giải thích thẳng thắn, một sai sót được công khai sửa chữa chính là những “thông điệp” có sức mạnh lớn trên không gian mạng. Bởi vậy, nêu gương số không thể tách khỏi nêu gương trong đời sống thực. Bảo vệ uy tín của Đảng trước hết phải bằng chất lượng công vụ, liêm chính, trách nhiệm và sự gần dân.

Tôi cũng cho rằng cần khuyến khích cán bộ, đảng viên có chuyên môn tham gia tích cực hơn vào không gian số theo đúng sở trường. Một bác sĩ có thể giúp cộng đồng phân biệt tin giả về sức khỏe; một nhà giáo có thể hướng dẫn kỹ năng học tập và an toàn số; một cán bộ pháp luật có thể giải thích quy định mới; một cán bộ cơ sở có thể trả lời những câu hỏi rất cụ thể về thủ tục, chế độ, quyền lợi. Khi mỗi người trở thành một “địa chỉ nhỏ” nhưng đáng tin, hệ sinh thái thông tin sẽ có thêm hàng triệu điểm tựa. Đó là cách lan tỏa thông tin đúng tự nhiên hơn rất nhiều so với những chiến dịch tuyên truyền chỉ diễn ra theo đợt.

Nhưng cùng với khuyến khích phải là đào tạo. Cán bộ, đảng viên cần được trang bị kỹ năng xác minh nguồn, nhận diện deepfake, an toàn dữ liệu, xử lý khủng hoảng thông tin và văn hóa tranh luận. Công tác tư tưởng trong thời đại số không thể chỉ đo bằng số bài đăng, lượt chia sẻ hay số lớp tập huấn. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu, hiệu quả phải được nhìn vào chuyển biến trong nhận thức, hành động, kỷ luật thực thi, khả năng định hướng dư luận, đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân. Cách đo ấy đưa công tác tư tưởng trở về với mục tiêu cuối cùng: Tạo ra sức mạnh xã hội chứ không phải tạo ra thật nhiều sản phẩm truyền thông.

Xây “màng lọc số” từ văn hóa và giáo dục

Một “thế trận lòng dân” bền vững không thể chỉ dựa trên lực lượng chuyên trách và đội ngũ cán bộ. Chủ thể rộng lớn nhất vẫn là nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ - những người đang sống phần lớn thời gian trong môi trường số. Gen Z và Alpha là những “bản địa số”, nhưng thành thạo thiết bị không đồng nghĩa với miễn nhiễm trước thao túng. Trái lại, tốc độ tiếp nhận thông tin cao, thói quen xem video ngắn, tâm lý sợ bỏ lỡ xu hướng và cơ chế đề xuất cá nhân hóa có thể khiến người trẻ dễ rơi vào “buồng vang”, nơi họ chỉ gặp những quan điểm giống với điều mình đã tin trước đó.

Vì vậy, giáo dục chính trị, tư tưởng cho người trẻ phải thay đổi mạnh về phương pháp. Không thể chỉ đưa nguyên nội dung cũ lên nền tảng mới rồi gọi đó là chuyển đổi số. Người trẻ cần được đối thoại, được đặt câu hỏi, được tranh luận và được tự tìm bằng chứng. Lịch sử có thể được kể bằng phim ngắn, podcast, trò chơi, bản đồ số, không gian thực tế ảo; vấn đề chính sách có thể được tiếp cận qua mô phỏng nghị trường, tranh biện, dự án cộng đồng hoặc sáng tạo nội dung. Khi người trẻ tự mình tìm kiếm, kiểm chứng và trình bày một câu chuyện về đất nước, ký ức chiến tranh, chủ quyền, văn hóa hay một chính sách đang tác động đến đời sống, tri thức ấy sẽ trở thành trải nghiệm cá nhân chứ không chỉ là thông tin được truyền đạt.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển văn hóa và yêu cầu “xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, làm trong sạch môi trường văn hóa số”. Tôi cho rằng đây là một định hướng có quan hệ trực tiếp với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng. Một xã hội có văn hóa đối thoại, tôn trọng sự thật, đề cao lòng nhân ái, trung thực và trách nhiệm sẽ có sức đề kháng tốt hơn trước thông tin kích động và chia rẽ. Ngược lại, nếu đời sống số bị chi phối bởi thói quen nhục mạ, “đấu tố”, tung tin chưa kiểm chứng, coi xúc phạm người khác là giải trí, thì dù có xử lý bao nhiêu tài khoản vi phạm, môi trường ấy vẫn tiếp tục sản sinh độc hại.

Do đó, cần coi năng lực thông tin và truyền thông là một năng lực công dân cơ bản. Trẻ em và thanh niên phải được học cách kiểm tra nguồn, phân biệt sự kiện với bình luận, nhận diện hình ảnh do AI tạo ra, hiểu cơ chế hoạt động của thuật toán, nhận biết nội dung đang cố kích thích giận dữ hoặc sợ hãi để buộc mình chia sẻ. Tôi thường hình dung mỗi người trẻ cần có một “màng lọc số” với 4 câu hỏi rất đơn giản: Nguồn ở đâu; bằng chứng nào; còn cách giải thích nào khác; việc chia sẻ nội dung này có thể gây hậu quả gì. Nếu những câu hỏi ấy trở thành thói quen, rất nhiều chiến dịch thao túng sẽ mất tác dụng ngay từ người dùng cuối.

Quan trọng hơn, chúng ta phải đưa người trẻ từ vị trí người “được giáo dục” thành chủ thể sáng tạo văn hóa và truyền thông tích cực. Hãy để họ làm video về lịch sử địa phương, xây các dự án kiểm chứng tin giả, số hóa ký ức của cựu chiến binh, kể câu chuyện về người lính, về biên giới, biển đảo, về những đổi thay ở quê hương, về những người bình dị đang cống hiến. Người trẻ có ngôn ngữ, nhịp điệu và cách kể riêng của thế hệ mình. Khi những giá trị yêu nước, trách nhiệm, nhân ái, tự cường được kể bằng tiếng nói của chính họ, sức lan tỏa sẽ tự nhiên hơn, thuyết phục hơn và khó bị xem là giáo điều.

Cũng phải thừa nhận rằng giáo dục tư tưởng chỉ có sức sống khi các giá trị được nói tới hiện diện trong thực tiễn. Người trẻ rất nhạy với sự không nhất quán. Nếu chúng ta nói về liêm chính nhưng họ thấy tiêu cực không được xử lý; nói về công bằng nhưng họ gặp sự thiếu công bằng; nói về lắng nghe nhưng ý kiến chính đáng bị bỏ qua, thì mọi nội dung truyền thông đều suy giảm sức thuyết phục. Vì vậy, “màng lọc số” không chỉ được tạo ra bởi trường học. Nó được bồi đắp từ cách gia đình đối thoại, nhà trường tôn trọng người học, cơ quan công quyền ứng xử với dân và xã hội đối xử với sự thật.

Từ “thành trì số” đến sức mạnh bên trong của xã hội

Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng không phải ngẫu nhiên. Trong lịch sử bảo vệ Tổ quốc, “thế trận lòng dân” luôn là nền tảng sâu xa của mọi thế trận khác. Trong thời đại số cũng vậy. Công nghệ có thể giúp phát hiện sớm một chiến dịch tung tin; pháp luật có thể xử lý hành vi vi phạm; nền tảng có thể gỡ bỏ nội dung; báo chí có thể kiểm chứng. Nhưng nếu người dân không còn tin vào nguồn chính thống, nếu họ cảm thấy mình không được lắng nghe, nếu xã hội thiếu khả năng đối thoại thì những giải pháp kỹ thuật chỉ có thể xử lý phần ngọn.

Ngày 15-6-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh một nhiệm vụ lâu dài là xây dựng hệ sinh thái thông tin tích cực và phát huy vai trò của nhân dân; nhân dân không chỉ tiếp nhận thông tin mà còn là chủ thể xây dựng niềm tin, bảo vệ nền tảng tư tưởng và hình thành thế trận lòng dân trên không gian mạng. Tôi cho rằng đây là cách tiếp cận rất quan trọng. Nó chuyển người dân từ đối tượng cần “tuyên truyền” thành chủ thể có năng lực, có tiếng nói và có trách nhiệm. Chỉ khi người dân được tham gia, được biết, được kiểm chứng, được phản hồi và được bảo vệ trước lừa đảo, thao túng, xâm hại dữ liệu, họ mới thật sự trở thành một phần của sức mạnh bảo vệ không gian số quốc gia.

Từ góc nhìn ấy, một “thành trì số” Việt Nam cần ít nhất năm lớp gắn chặt với nhau. Lớp thứ nhất là thể chế minh bạch, đủ sức xử lý hành vi gây hại nhưng đồng thời bảo vệ quyền biểu đạt hợp pháp và khuyến khích đổi mới sáng tạo. Lớp thứ hai là hạ tầng công nghệ, dữ liệu và năng lực tự chủ đủ mạnh để xác thực, giám sát rủi ro và không lệ thuộc hoàn toàn vào nền tảng bên ngoài. Lớp thứ ba là một hệ sinh thái báo chí, truyền thông và nội dung số có chất lượng, đủ sức cạnh tranh với dòng nội dung giật gân. Lớp thứ tư là cộng đồng công dân có kỹ năng số, biết tự bảo vệ mình và chịu trách nhiệm với hành vi chia sẻ. Lớp thứ năm, sâu nhất, là văn hóa, đạo đức và niềm tin xã hội.

Năm lớp ấy không thể hoạt động riêng rẽ. Một cơ quan chức năng phát hiện deepfake nhưng nền tảng phản ứng chậm thì thông tin giả vẫn lan rộng; nền tảng gỡ nhanh nhưng báo chí không kịp xác minh thì công chúng vẫn hoang mang; báo chí giải thích tốt nhưng cơ quan có trách nhiệm né tránh câu hỏi thì niềm tin vẫn suy giảm; người dân có kỹ năng số nhưng chính sách thiếu minh bạch thì tin đồn vẫn có đất sống. Vì vậy, mắt xích cần củng cố mạnh nhất hiện nay là năng lực phối hợp dựa trên dữ liệu, trách nhiệm rõ ràng và niềm tin. Cần có quy trình phản ứng nhanh liên ngành, hệ thống cảnh báo sớm, đầu mối xác minh, chuẩn dữ liệu chung và cơ chế hợp tác thường xuyên với các nền tảng.

Bản sắc Việt Nam của “thành trì số” cũng không thể được hiểu là khép cửa hoặc chỉ chấp nhận một kiểu tiếng nói. Bản sắc nằm ở khả năng hội nhập mà không hòa tan; tranh luận nhưng không chia rẽ; cởi mở với cái mới nhưng giữ được lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, nhân ái, nghĩa tình và trách nhiệm. Một không gian mạng Việt Nam lành mạnh phải đủ rộng cho sáng tạo, đủ mở cho phản biện, đủ nghiêm với lừa dối và kích động, đồng thời đủ nhân văn để bảo vệ danh dự, quyền riêng tư và phẩm giá con người. Đó cũng là cách chúng ta chuyển những giá trị văn hóa truyền thống thành sức mạnh của xã hội số hiện đại.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, suy cho cùng, không phải là dựng một bức tường ngăn người dân tiếp xúc với thông tin khác biệt. Trong một thế giới mở, điều đó vừa không thể, vừa không nên. Điều cần thiết là xây dựng sức mạnh bên trong để xã hội đủ khả năng nhận biết, phân tích và lựa chọn; để cán bộ đủ uy tín thuyết phục; để báo chí đủ tin cậy dẫn dắt; để pháp luật đủ minh bạch bảo vệ; để công nghệ đủ mạnh hỗ trợ; và để mỗi người dân cảm thấy mình là chủ thể của đất nước, có trách nhiệm với sự thật và lợi ích chung.

Khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt yêu cầu nâng cao niềm tin xã hội, đối thoại và thuyết phục, nắm tình hình bằng dữ liệu, dự báo và cảnh báo từ sớm, từ xa, đó cũng là lời gợi mở cho một phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng phù hợp với kỷ nguyên số: Kiên định về nền tảng nhưng hiện đại về phương thức; sắc bén nhưng không cực đoan; quyết liệt nhưng luôn dựa trên sự thật và tính nhân văn. Không có bức tường lửa nào thay thế được lòng dân. Và khi lòng dân đã vững, mỗi công dân có bản lĩnh số, mỗi cán bộ có uy tín, mỗi tòa soạn là một địa chỉ tin cậy, mỗi nền tảng phải có trách nhiệm, thì chúng ta không chỉ có khả năng chống đỡ trước thông tin xấu độc. Chúng ta có thể chủ động kiến tạo một không gian số Việt Nam văn minh, an toàn, sáng tạo và giàu sức mạnh nội sinh - một không gian xứng đáng với khát vọng phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Báo QĐND

Ảnh minh họa / tuyengiao.vn


Address

Thôn Bình Hải _ Đặc Khu Vân Đồn
Vân Đồn

Opening Hours

Monday 07:00 - 16:30
Tuesday 07:00 - 16:30
Wednesday 07:00 - 16:30
Thursday 07:00 - 16:30
Friday 07:00 - 16:30

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trường TH &THCS Ngọc Vừng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to Trường TH &THCS Ngọc Vừng:

Shortcuts

Share

Category