31/03/2023
Ghi chú về câu chữ “把”
Câu chữ 把 là một vấn đề khó trong giảng dạy tiếng Hán. Về cấu trúc ngữ pháp, nó không khó học. Nhưng nghĩa và cách dùng thì khó nắm bắt. Dạy học câu chữ 把, nếu chỉ dạy về cấu trúc ngữ pháp thì dễ. Nhưng dạy để sinh viên hiểu được, dùng được, thì khó.
Khoảng 2 năm trước, cho học sinh thực tập người Trung Quốc làm một bản điều tra về câu chữ 把. Bản điều tra làm xong, tôi vẫn chưa vừa ý lắm, nên chưa dùng đến. Từ đó đến nay chưa có cơ hội để điều tra thêm. Thực lòng vẫn muốn làm một nghiên cứu toàn diện về câu chữ 把, nhưng vì trước mắt có nhiều dự định khác, để lâu nó cũng trôi đi, chi bằng đem các suy nghĩ của mình ghi lại ở đây, đăng công khai, ai có duyên đọc được mà thấy có ích thì tôi cũng mừng.
1. Cấu trúc của câu chữ 把:
Chủ ngữ + {没,能...}+把+tân ngữ 1 + Động từ + X
Lưu ý thứ nhất ở câu chữ 把, đằng sau động từ luôn luôn phải có một cái gì đó “X”, gọi là “thành phần khác”, nếu thiếu là câu không trọn vẹn. X có thể là:
(1) 了、着、过. Ví dụ: (1)是我把他打了,你能把我怎么样?
(2) Các loại bổ ngữ. Ví dụ: (2) 请把课文翻译越南语;你把“福”字贴吧
(3) Tân ngữ 2. Ví dụ: (3) 你把钱给我。
2. Cách dùng và ý nghĩa của câu chữ 把
Ta chia làm hai trường hợp: A-Trường hợp bắt buộc dùng câu chữ 把 và B-Trường hợp có thể dùng hoặc không dùng câu chữ 把.
Với trường hợp A thì khá dễ, vì không có lựa chọn khác. Trường hợp B mới là khó. Vì trong tiếng Việt không có kết cấu nào tương đương với kết cấu câu chữ 把, nên sv gặp khó khăn để cảm nhận sự khác biệt tinh tế giữa một câu bình thường và câu chữ 把, sinh viên khi nói hay viết có xu hướng không dùng đến câu chữ 把.
Trường hợp A: bắt buộc phải dùng câu chữ 把 do bị ràng buộc về ngữ pháp
(4) 我要把这篇课文翻译成越南语。
(5) 你把这“福”字贴在门上吧,“福”字记得要倒着贴啊。
(6) 她把房间打扫得干干净净。
Với những câu như ví dụ trên đây, do ràng buộc về mặt kết cấu giữa động từ và bổ ngữ của nó, tân ngữ 1 (课文,“福”字,房间) không thể xuất hiện sau động từ, nên buộc phải dùng giới từ 把 điều lên phía trước. Với trường hợp này, câu chữ 把 không mang ý nghĩa nào đặc biệt, nó tương tự như các câu bình thường khác.
Trong các sách dạy ngữ pháp mà tôi đã từng tham khảo, không phân ra hai loại A, B như trên, nhất mực nói câu chữ 把 có nghĩa a. b. c. đặc biệt nào đó. Cách trình bày như vậy, đã từng làm tôi rất hoang mang, không biết là trong câu “你把这“福”字贴在门上吧” thì nhấn mạnh ý “处置” ấy là thế nào.
Trường hợp B: Có thể dùng hoặc không dùng câu chữ 把, khi đó, câu chữ 把 thường có ý vị đặc biệt. Ví dụ các trường hợp thế này:
(7) a.请给我你的护照 b.请把你的护照给我 (Xin đưa tôi hộ chiếu của anh)
(😎 a. 借给我车吧 b. 把车借给我吧 (cho tớ mượn xe nhé)
(9) a.合上书 b. 把书合上 (gấp sách lại)
(10) a.我一定要学好汉语 b.我一定要把汉语学好
Về nội dung thông tin, hai câu a. và b. là tương tự nhau. Nhưng về nội dung tình thái, thì giữa a. và b. có sự khác biệt. Sự khác biệt đó là gì, thì chưa được miêu tả rõ ràng. Cách tốt nhất là đọc nhiều, rồi dần dần cảm nhận. Cách giảng dạy của tôi trong trường hợp này, là đưa ra ví dụ tương tự trong tiếng Việt để sinh viên có thể hình dung được sự khác biệt đó.
Trong tiếng Việt, tùy vào mục đích phát ngôn, đôi khi danh từ A (ở vị trí tân ngữ) được đảo lên phía trước.
(11) a. Anh để điện thoại của em ở đâu rồi b. Điện thoại của em, anh để ở đâu rồi?
(12) a.Anh đã rửa bát chưa ? b.Bát trong chậu, anh đã rửa chưa?
(13) a. Anh chưa đưa em tiền lương tháng này đâu nhé.
b. Tiền lương tháng này, anh chưa đưa em đâu nhé.
Việc đảo danh từ A lên trước, tạo thành tiêu điểm đối thoại, nhấn mạnh nội dung trao đổi là về tiêu điểm đó. Trong tiếng Việt, danh từ A chỉ có hai vị trí, hoặc là ở sau động từ làm tân ngữ (như các câu a.) hoặc là dịch chuyển lên đầu câu (như các câu b.). Trong tiếng Trung Quốc, A còn được chuyển lên trước động từ, nhưng sau chủ ngữ bằng giới từ 把. Mục đích của việc chuyển dịch vẫn là , tăng cường tiêu điểm đối thoại, về mức độ, theo tôi không nhấn mạnh như việc chuyển lên đầu câu:
你还没给我这个月的工资 < 你还没把这个月的工资给我 < 这个月的工资,你还没给我。
Khi tiêu điểm được chuyển lên trước, tính chất yêu cầu hoặc mục đích trở nên đậm nét hơn. Ví dụ, câu 借给我车吧 so với câu 把车借给我吧 thì ở câu sau tính yêu cầu được diễn đạt cụ thể hơn, đậm nét hơn. Còn trường hợp 我一定要学好汉语 và 我一定要把汉语学好, thì thậm chí có thể dịch thành hai câu khác nhau trong tiếng Việt.
我一定要学好汉语 > Tôi nhất định phải học giỏi tiếng Hán.
我一定要把汉语学好 > Tôi nhất định phải học tiếng Hán 我一定要把汉语学好 > Tôi nhất định phải học tiếng Hán cho giỏi
Giữa “học giỏi” và “học cho giỏi”, câu sau tính mục đích rõ ràng hơn hẳn.
Một ví dụ khác:
(14) 看来今天要熬夜了,天亮之前要把论文写完。> Đêm nay lại phải thức rồi, trước sáng mai phải viết cho xong bài luận này.
3. Câu chữ 把 dịch sang tiếng Việt như thế nào
Khi dịch câu chữ 把 sang tiếng Việt, cũng phải phân biệt trường hợp A và B như trên đây. Với trường hợp A, thì cứ dịch bình thường. Với trường hợp B thì phải chú ý thẩm định yếu tố tình thái của câu, nếu chuyển dịch được thì chuyển (có thể áp dụng biện pháp đảo ngữ, cấu trúc chỉ mục đích như “ăn cho no, học cho giỏi”), nếu không chuyển dịch được, thì chấp nhận bị đánh mất một phần ý nghĩa tình thái của câu
Nguồn : google
Nguyen Dai Co Viet