21/08/2026
Thông báo lịch tựu trường
Trung tâm GDNN - GDTX khu vực 1, tỉnh Đồng Nai, thành lập lại: Theo Quyết định số 146/QĐ-UBND ngày 01/ 7/2025 của UBND tỉnh Đồng Nai.
Cơ sở tổ chức lại: Trên cơ sở tiếp nhận và tổ chức lại Trung tâm GDNN - GDTX huyện Cẩm Mỹ.
21/08/2026
Thông báo lịch tựu trường
17/08/2026
🇻🇳❤️Ngày 05/9, khai giảng đồng loạt trên toàn quốc: Không kéo dài phần lễ, ưu tiên các hoạt động gần gũi, thiết thực.
17/08/2026
Chuyên gia nhận định: “Đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là tuyến vận tải mới”
Theo ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là câu chuyện về một tuyến vận tải mới, mà còn đặt ra câu hỏi Việt Nam muốn phát triển như thế nào trong vài thập niên tới.
Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị triển khai đường sắt cao tốc Bắc - Nam, ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (đơn vị tham gia rà soát Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của dự án và các chương trình đường sắt cao tốc quốc tế), cho rằng Việt Nam cần trả lời câu hỏi mong muốn kết nối các đô thị lớn ra sao, mở ra những hành lang kinh tế mới như thế nào và hướng tới mô hình tăng trưởng hiệu quả, phát thải thấp hơn ra sao.
Tuy nhiên, các dự án quy mô lớn không thể thành công chỉ nhờ tham vọng. Dựa trên kinh nghiệm quốc tế trong các dự án như Đường sắt cao tốc California (California High-Speed Rail) và High Speed 1 tại Vương quốc Anh, Arup nhận thấy rằng đường sắt cao tốc chỉ phát huy hiệu quả khi được nhìn nhận như một chiến lược phát triển quốc gia dài hạn, thay vì một công trình mang tính biểu tượng.
Với Việt Nam, vấn đề không chỉ là có nên đầu tư đường sắt cao tốc hay không, mà là liệu những nền móng cần thiết đã được chuẩn bị từ hôm nay để dự án vận hành hiệu quả, khả thi về tài chính và tạo giá trị bền vững hay chưa.
Theo ông TC Chew, lý do để đầu tư đường sắt cao tốc không dừng ở việc rút ngắn thời gian di chuyển. Một tuyến kết nối Hà Nội với TPHCM, đi qua các trung tâm tỉnh thành trọng yếu, có thể mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm, thúc đẩy du lịch, giảm trở ngại trong di chuyển và hỗ trợ mô hình phát triển cân bằng hơn giữa các vùng.
Ông chia sẻ, thành công của tham vọng phát triển đường sắt tại Việt Nam sẽ phụ thuộc không chỉ vào tốc độ vận hành của tuyến đường sắt cao tốc, mà còn vào việc các đô thị được quy hoạch, kết nối và phát triển như thế nào dọc theo hành lang tuyến.
Nhìn từ góc độ này, bài toán vốn cũng cần được nhìn nhận rộng hơn. Chi phí đầu tư ban đầu chắc chắn rất lớn, nhưng giá trị dài hạn của đường sắt cao tốc không chỉ nằm ở doanh thu vé, mà còn ở khả năng nâng giá trị đất đai, thu hút đầu tư, tái định hình không gian quanh nhà ga và mở rộng tiếp cận việc làm, dịch vụ.
Vì vậy, theo ông TC Chew phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD – Transit-oriented development) cần được tính toán từ đầu, với các nhà ga được quy hoạch thành những trung tâm đô thị tích hợp, nơi nhà ở, thương mại, không gian công cộng và các phương thức di chuyển kết nối với nhau. Làm tốt, cách tiếp cận này có thể vừa cải thiện hiệu quả tài chính, vừa nâng chất lượng đô thị.
Một tuyến đường sắt cao tốc chỉ phát huy tốt khi toàn bộ hành trình được kết nối liền mạch. Vì vậy, quy hoạch quanh ga cần tính đến yếu tố liên thông từ đầu. Nếu hành khách xuống tàu phải đối mặt với ùn tắc, giao thông công cộng hạn chế hoặc chặng cuối kéo dài, lợi ích của tuyến đường sẽ bị suy giảm, ông TC Chew chỉ rõ.
Ông nhấn mạnh quy hoạch nhà ga cần gắn chặt với mạng lưới metro, xe buýt, sân bay và định hướng phát triển các khu vực lân cận, tạo ra một hành trình liền mạch từ điểm khởi hành đến điểm đến cuối cùng.
Để hiện thực hóa điều đó, năng lực tổ chức thực hiện quan trọng không kém tham vọng kỹ thuật. Các chương trình đường sắt quy mô lớn phụ thuộc vào chất lượng quản trị, phương thức mua sắm và khả năng triển khai, từ phân chia gói thầu, phân bổ rủi ro, quy trình phê duyệt và thứ tự triển khai. Vì vậy, chương trình cần mô hình triển khai rõ ràng, lộ trình phân kỳ thực tế và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương.
Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng lớn cũng tạo cơ hội nâng cao năng lực nội tại của quốc gia, từ củng cố năng lực kỹ thuật, năng lực về công nghệ và các hệ thống số, năng lực quản lý vận hành, kỹ năng thi công chuyên biệt và chuỗi cung ứng trong nước. Điều này đòi hỏi kế hoạch phát triển nhân lực dài hạn, sự hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp, cùng các hợp đồng thực sự tạo điều kiện cho chuyển giao tri thức.
Niềm tin của công chúng là điều kiện quan trọng để dự án quy mô lớn nhận được sự ủng hộ trong dài hạn. Vì vậy, ông TC Chew nhấn mạnh cần minh bạch về phương án tuyến, công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư, tổng mức đầu tư, tiến độ và những lợi ích kỳ vọng, giúp người dân hiểu tác động của dự án tới khả năng di chuyển, tiếp cận và cơ hội kinh tế.
17/08/2026
Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế
Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về kinh tế Nhà nước kể từ năm 1986. Nghị quyết là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Theo đó, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, qua đó làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, như đất đai, tài nguyên, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, khẳng định kinh tế nhà nước vừa trực tiếp sản xuất, kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược, thiết yếu để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, điều tiết và dẫn dắt nền kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó: Mục tiêu tổng quát gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực then chốt, chiến lược; Hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.
Mục tiêu cụ thể về đất đai, tài nguyên: Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Về tài sản kết cấu hạ tầng: Bên cạnh việc phát triển đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết yêu cầu phải tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế.
Về ngân sách, dự trữ quốc gia: Bám sát các mục tiêu đến năm 2030 tại văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết số 79 yêu cầu thực hiện các chỉ tiêu: Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách. Về doanh nghiệp nhà nước: Bên cạnh việc tiếp tục phải hoàn thành các mục tiêu của Đảng về cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết 79 đề ra một số chỉ tiêu định lượng cần đạt được đến năm 2030: Phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.
Để thực hiện thành công các mục tiêu và tầm nhìn về phát triển kinh tế Nhà nước Nghị quyết đề ra các nhóm giải pháp chung.
Thứ nhất, đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; nâng cao trách nhiệm, hành động quyết liệt, hiệu quả với tinh thần "nói ít, làm nhiều, làm đến cùng" nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nhà nước.
Thứ hai là hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Thứ ba là bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, trọng tâm là tiếp cận các nguồn lực công bằng, minh bạch; đẩy mạnh hợp tác công - tư; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; giảm giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Thứ tư là chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 71, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch.
Thứ năm là xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong hoạch định chính sách, kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công.
Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể từng lĩnh vực
Nghị quyết cũng nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Một là, đối với đất đai và tài nguyên: Để khắc phục những hạn chế hiện nay, Nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; kinh tế biển; nguồn lợi vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp; không gian ngầm; tài nguyên số và tài nguyên viễn thông.
Hai là, đối với tài sản kết cấu hạ tầng: trên cơ sở xác định rõ những vấn đề cần khắc phục về thể chế cho phát triển hạ tầng, Nghị quyết yêu cầu thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ chính: Xây dựng chiến lược, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; đảm bảo tính đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả tối đa các loại hình kết cấu hạtầng. Cùng với đó, bổ sung khung pháp lý để huy động nguồn lực ngoài ngân sách để phát triển tài sản kết cấu hạ tầng, bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.
Ba là, đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống.
Bốn là, đối với doanh nghiệp nhà nước: Nghị quyết đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; Cải thiện quản trị doanh nghiệp; Cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Năm là, đối với các tổ chức tín dụng nhà nước: Tiếp tục triển khai các giải pháp về áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, tăng vốn điều lệ cho ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước.
Sáu là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Đẩy mạnh tinh gọn bộ máy và hiện đại hóa cơ chế quản lý phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; cơ chế tài chính giảm từ cấp phát trực tiếp sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng. Cùng với đó, đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ có khả năng cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.
17/08/2026
Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc gia
Phát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn, đúng đắn, làm trục xương sống cho sự phát triển đất nước. Để chủ trương ấy thành công và bền vững, cần kiên định tự chủ công nghệ, bảo đảm chủ quyền công nghệ như một bộ phận của chủ quyền quốc gia, thông qua quản trị công nghệ hiệu quả, thực chất trong toàn bộ dự án.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra mười hai định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, và nhấn mạnh “tự chủ chiến lược” như một định hướng nền tảng. Trong dòng chảy ấy, chủ trương phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao quốc gia là nhu cầu cấp thiết, có ý nghĩa làm trục xương sống cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Có thể khẳng định, đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, kịp thời và mang tầm nhìn chiến lược. Ngày 30-11-2024, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, với chiều dài khoảng 1.541km, đường đôi khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế 350km/giờ, tải trọng 22,5 tấn/trục, tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1,713 triệu tỷ đồng, dự kiến hoàn thành năm 2035.
Ngay trong mục tiêu nền tảng, Nghị quyết đã đặt yêu cầu gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh ngang hàng hiệu quả kinh tế-một tư duy sâu sắc về vai trò chiến lược của hạ tầng giao thông đối với vận mệnh quốc gia. Chủ trương ấy không đứng đơn lẻ, mà nằm trong một hệ thống chính sách nhất quán, thể hiện sự lãnh đạo bài bản của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở định hướng của Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23-1-2026 của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, hệ thống đó cũng kế thừa và bổ sung từ Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về tuyến Bắc-Nam và Nghị quyết số 187/2025/QH15 về tuyến Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đưa công nghệ đường sắt tốc độ cao vào danh mục mười nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Tầm nhìn không dừng ở một tuyến, mà hướng tới cả một mạng lưới hiện đại, đồng bộ. Từ chuỗi các nghị quyết, căn cứ pháp lý được thông qua và ban hành đã khẳng định nỗ lực triển khai quyết liệt những chủ trương lớn, đúng đắn ấy.
Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả trong thực tiễn và đảm bảo các mục tiêu chiến lược đề ra, cần xem xét mạng lưới đường sắt tốc độ cao trong bối cảnh chủ quyền, an ninh quốc gia, đặc biệt cần quan tâm đến các vấn đề về chủ quyền công nghệ.
Trong thời đại số, chủ quyền quốc gia không chỉ là chủ quyền về lãnh thổ, biển đảo, vùng trời, mà còn bao hàm chủ quyền công nghệ - quyền và năng lực tự quyết của đất nước đối với những công nghệ chiến lược, không bị lệ thuộc đến mức bị chi phối từ bên ngoài. Với một hạ tầng huyết mạch như đường sắt tốc độ cao, làm chủ công nghệ chính là một phương diện thiết yếu của bảo vệ chủ quyền. Tự chủ công nghệ là phương thức; chủ quyền công nghệ là mục tiêu và là trạng thái cần đạt tới. Kiên định tự chủ công nghệ, do đó, không phải khẩu hiệu, mà là yêu cầu sống còn để bảo đảm đất nước nắm vững vận mệnh của chính mình.
Bảo đảm chủ quyền công nghệ có thể thông qua con đường: Tiếp cận và triển khai một cách bài bản, khoa học công tác dự báo công nghệ và quản trị công nghệ. Dự báo công nghệ là năng lực nhìn xa có cơ sở khoa học - nhận diện quỹ đạo phát triển của từng phân hệ, lường trước rủi ro phụ thuộc, chuẩn bị cho nhiều kịch bản trước khi lựa chọn. Quản trị công nghệ là năng lực làm chủ - biến dự báo thành các điều khoản chuyển giao chặt chẽ, khả thi về kinh tế và lợi ích các bên tham gia, đồng thời kiên định về mục tiêu chiến lược, hình thành được quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, chương trình đào tạo nhân lực và lộ trình nội địa hóa cụ thể. Với một dự án vận hành nhiều thập kỷ, mỗi quyết định công nghệ hôm nay ràng buộc hiệu năng, an toàn và mức tự chủ của đất nước về sau. Vì vậy phải quản trị bằng phương pháp khoa học, thực chất, xuyên suốt toàn bộ dự án.
Đường sắt tốc độ cao là hạ tầng chiến lược, lưỡng dụng, chạy dọc sống lưng đất nước; vì thế các dự án gắn bó hữu cơ với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.
Trong thời đại số, hệ thống thông tin - tín hiệu và điều khiển là bộ não của toàn tuyến, cần được bảo vệ tuyệt đối trước các nguy cơ an ninh khác nhau. Một hệ thống mà đất nước không nắm được khả năng kiểm tra, giám sát độc lập sẽ tiềm ẩn rủi ro chủ quyền. Do đó, quản trị công nghệ phải đặt lên hàng đầu, yêu cầu làm chủ khả năng giám sát hệ thống tín hiệu, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và chủ quyền dữ liệu vận hành. Chủ trương của Chính phủ về xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho đường sắt, tích hợp yêu cầu an toàn và an ninh ngay từ đầu, vì thế là hết sức đúng đắn và cần triển khai khẩn trương.
Thực tiễn đang chứng minh tính đúng đắn của chủ trương. Ngày 19-12-2025, tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành-Cần Giờ tại Thành phố Hồ Chí Minh được khởi công, dài hơn 54km, khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ. Ngày 12-4-2026, tuyến Cổ Loa-Hạ Long nối Hà Nội với Quảng Ninh chính thức khởi công, dài khoảng 120km, điện khí hóa toàn tuyến, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ, dự kiến sử dụng đoàn tàu thế hệ mới và hệ thống tín hiệu của đối tác quốc tế gắn với thỏa thuận chuyển giao công nghệ. Việc doanh nghiệp trong nước mạnh dạn đầu tư những công trình tầm vóc như vậy thể hiện đúng tinh thần Đại hội XIV về phát huy nội lực và huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển.
Điều có ý nghĩa nhất về công nghệ là: Các tuyến này, cùng trục Bắc-Nam, đều theo khổ tiêu chuẩn 1.435mm và tốc độ tối đa 350km/giờ, song Việt Nam kỳ vọng có thể dùng những giải pháp và nhà cung cấp khác nhau. Khi đất nước hình thành cả một mạng lưới do nhiều chủ đầu tư, nhiều đối tác từ các quốc gia khác nhau triển khai, bài toán liên thông, tích hợp đồng bộ và an toàn trên toàn hệ thống trở nên cấp thiết. Hiệu năng và an ninh của toàn mạng lưới không phụ thuộc vào riêng một tuyến, mà vào năng lực dự báo và quản trị công nghệ ở tầm quốc gia. Đa dạng hóa có thể áp dụng ở tầng xây dựng hạ tầng, cung cấp toa xe, thiết bị phụ trợ; nhưng tầng kiến trúc lõi, hệ thống thông tin - tín hiệu điều khiển của trục xương sống Bắc - Nam bắt buộc phải tuân thủ một chuẩn thống nhất tuyệt đối ở tầm quốc gia để bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và an toàn vận hành. Nếu Nhà nước chủ động làm chủ kiến trúc hệ thống và bộ tiêu chuẩn giao diện chung từ sớm, có mô hình và phương pháp quản trị công nghệ khoa học, thì sự đa dạng nhà cung cấp lại trở thành lợi thế giúp tránh phụ thuộc, vừa bảo đảm liên thông, vừa giữ vững chủ quyền công nghệ.
Khi hai tuyến Bến Thành-Cần Giờ và Cổ Loa-Hạ Long đã đồng loạt khởi động, việc khẩn trương đưa trục xương sống Bắc-Nam vào triển khai đúng tiến độ, với mục tiêu khởi công vào tháng 12-2026, càng trở nên cấp thiết. Đây không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, mà còn tạo hiệu ứng cộng hưởng, hình thành một thị trường và một ngành công nghiệp đường sắt nội địa đủ lớn để việc làm chủ công nghệ trở nên khả thi về quy mô. Càng triển khai sớm, đồng bộ và bài bản, đất nước càng sớm tích lũy năng lực và càng giảm thiểu rủi ro phụ thuộc. Tinh thần kiên định tự chủ công nghệ phải được quán triệt: Chuyển giao công nghệ là điều kiện tiên quyết khi chọn đối tác, gắn với mục tiêu tăng dần tỷ lệ nội địa hóa, tiến tới tự chủ chiến lược.
Thước đo cuối cùng của thành công không chỉ là những chuyến tàu chạy đúng giờ trong năm đầu, mà là việc sau mười, hai mươi năm, đất nước tự sản xuất được bao nhiêu bộ phận, tự bảo trì và bảo đảm an ninh được bao nhiêu cấu phần trong các đại dự án, tự kết nối liên thông được cả mạng lưới đến đâu. Khi ấy, nguồn vốn đầu tư khổng lồ không chỉ tạo nên những tuyến đường, mà còn kiến tạo một năng lực công nghệ quốc gia mới, đúng tinh thần phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả và tự chủ mà Đại hội XIV đã đề ra.
Phát huy khí thế và niềm tin từ thành công của Đại hội XIV, với tinh thần “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, có thể khẳng định và tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự đồng thuận của nhân dân và bằng việc coi trọng đúng mức, vận dụng khoa học công tác dự báo, quản trị công nghệ, dự án đường sắt tốc độ cao sẽ được triển khai thành công, hiệu quả, bền vững và an toàn. Đó vừa là trục xương sống cho phát triển, vừa là biểu tượng của khát vọng tự lực, tự cường và ý chí làm chủ công nghệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn toàn tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối chủ trương lớn, đúng đắn ấy.
Nguồn: Báo QĐND
Tác giả: TRẦN VŨ TUẤN PHAN, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ
16/08/2026
16/08/2026
16/08/2026
Hướng tới nền tảng số mang bản sắc Việt
Các mạng xã hội như Facebook, YouTube, TikTok, Instagram… không chỉ thay đổi cách người dân tiếp cận thông tin, học tập, giao lưu và kết nối mà còn trở thành kênh quảng bá hình ảnh đất nước, con người và bản sắc văn hóa.
Tuy nhiên, hoạt động chia sẻ nội dung, tương tác cộng đồng và kết nối người dùng Việt Nam chủ yếu đang diễn ra trên các nền tảng mạng xã hội do nước ngoài vận hành.
Nhìn ra thế giới, hầu hết các quốc gia có nền kinh tế số phát triển đều sở hữu những nền tảng mạng xã hội, Trung Quốc có WeChat, Douyin, Weibo, Xiaohongshu; Mỹ có Facebook, YouTube, Instagram… Dù các nền tảng toàn cầu ngày càng mở rộng phạm vi ảnh hưởng, những quốc gia này vẫn đầu tư mạnh cho các nền tảng nội địa nhằm thu hút người dùng trong nước, kết nối cộng đồng, phân phối nội dung và hình thành hệ sinh thái số mang bản sắc riêng.
Trong khi đó, Việt Nam chưa có một nền tảng mạng xã hội đủ sức thu hút đông đảo người dùng và tích hợp nhiều tiện ích trong cùng một hệ sinh thái, phần lớn cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng vẫn sử dụng các nền tảng xuyên biên giới để chia sẻ nội dung và tương tác. Sự phụ thuộc này khiến Việt Nam khó làm chủ dữ liệu văn hóa, bị chi phối khả năng tiếp cận người dùng thông qua thuật toán riêng, tạo nguy cơ lệ thuộc dữ liệu và lan truyền các giá trị ngoại lai.
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện hạ tầng văn hóa số, Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam xác định xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số là một trong bốn nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần có những nền tảng mạng xã hội do doanh nghiệp trong nước phát triển và làm chủ. Theo các chuyên gia về công nghệ số và truyền thông, làm chủ nền tảng là điều kiện quan trọng để làm chủ không gian số, chủ động phân phối nội dung, kết nối cộng đồng và lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam.
Thực tế, năm 2019, doanh nghiệp Việt Nam đã ra mắt ứng dụng mạng xã hội Lotus với định hướng lấy nội dung làm trung tâm, hướng đến người dùng trong nước, kết nối các cơ quan báo chí, nhà sáng tạo nội dung, chuyên gia và người có ảnh hưởng nhằm xây dựng môi trường thông tin chất lượng.
Cùng với Gapo, dù không thành công như kỳ vọng, những dự án này đã thể hiện khát vọng xây dựng mạng xã hội “Make in Vietnam”, làm chủ công nghệ và không gian số của doanh nghiệp Việt Nam. Từ những thử nghiệm này có thể thấy, để hình thành một nền tảng có khả năng cạnh tranh cần chiến lược dài hạn, nguồn lực đủ mạnh và sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu người dùng.
Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 9/7/2026 về hạ tầng văn hóa số, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp công nghệ đầu tư phát triển các nền tảng số phục vụ lĩnh vực văn hóa. Doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, phát triển công nghệ số, sản phẩm công nghệ số cùng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa số được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ khi đáp ứng các tiêu chí tương ứng theo quy định của pháp luật.
Đây cũng là thời điểm thuận lợi để doanh nghiệp công nghệ, các nhóm khởi nghiệp và đội ngũ kỹ sư Việt Nam đầu tư xây dựng các nền tảng mạng xã hội do người Việt làm chủ, lấy nhu cầu của người dùng trong nước và các giá trị văn hóa Việt Nam làm trung tâm.
Những nền tảng này vừa tạo không gian chia sẻ nội dung, kết nối cộng đồng và lan tỏa các giá trị văn hóa, vừa có thể trở thành kênh phân phối nội dung số, hỗ trợ các ngành công nghiệp văn hóa tiếp cận công chúng trên môi trường số. Sự đồng hành giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo sẽ tạo động lực hình thành hệ sinh thái số mang bản sắc Việt Nam, đáp ứng nhu cầu của người dùng trong nước.
Mỗi nền tảng do doanh nghiệp trong nước đầu tư sẽ góp thêm một “không gian Việt” trên môi trường số, để người Việt kết nối, sáng tạo, chia sẻ nội dung và lan tỏa các giá trị văn hóa, góp phần bảo đảm chủ quyền văn hóa trong kỷ nguyên số, hình thành hệ sinh thái số mang bản sắc Việt Nam.
PHƯƠNG LINH
Các chương trình mang đậm bản sắc văn hóa luôn thu hút đông đảo người xem trên nền tảng số. (Ảnh: KHÁNH AN)
🎓 RẠNG RỠ KHOẢNH KHẮC TỐT NGHIỆP – HÀNH TRÌNH MỚI BẮT ĐẦU! 🎓
Trôi qua bao ngày tháng miệt mài bên từng nét chữ Hán, những buổi luyện nghe nói, những bài thi căng thẳng... Cuối cùng, chiếc bằng tốt nghiệp trên tay chính là phần thưởng ngọt ngào nhất cho sự nỗ lực không ngừng nghỉ của tất cả các bạn tân khoa.
Chi tiết tại: https://gdnn-gdtxcammy.edu.vn/tin-tuc-su-kien/le-tot-nghiep-trung-cap-tieng-trung-khep-lai-giang-duong-mo-tuong-lai-rong-mo.html
10/08/2026
| Monday | 07:00 - 16:00 |
| Tuesday | 07:00 - 16:00 |
| Wednesday | 07:00 - 16:00 |
| Thursday | 07:00 - 16:00 |
| Friday | 07:00 - 16:00 |