Cuộc tình tay ba của triết gia

Cuộc tình tay ba của triết gia Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Cuộc tình tay ba của triết gia, Education Website, D9,Thừa đất 560,tờ bản đồ 13,Hẻm Tân Phước Khánh 15,Tổ 3,Kp, Tân Uyên.

Phương pháp kế thừa tri thức nhân loại là đặc sắc của Chủ nghĩa Mác; nhờ phương pháp đó, Chủ nghĩa Mác đã không ngừng đổ...
20/01/2023

Phương pháp kế thừa tri thức nhân loại là đặc sắc của Chủ nghĩa Mác; nhờ phương pháp đó, Chủ nghĩa Mác đã không ngừng đổi mới, phát triển bằng cách tiếp thu có chọn lọc, có phê phán tất cả sản phẩm trí tuệ loài người đã sáng tạo ra.
Dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ và Đảng ta, phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác nói riêng, Chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung mãi mãi là kim chỉ nam cho hành động của cách mạng, đã, đang và sẽ tiếp tục đem lại những thắng lợi vẻ vang trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bài 1: Phương pháp kế thừa tri thức nhân loại - Nét đặc sắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin

Nghiên cứu toàn diện và sâu sắc đồng thời tiếp thu có phê phán, chọn lọc toàn bộ tri thức nhân loại đã sáng tạo ra nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng là đặc điểm nổi bật trong phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác.

Trước Mác, các nhà tư tưởng hoặc là kế thừa một cách rập khuôn, giáo điều hoặc là phủ định sạch trơn, do vậy lịch sử tư tưởng nhân loại trước Mác đều có những hạn chế nhất định. Mác và Ăng-ghen đã vượt lên tất cả những hạn chế của lịch sử tư tưởng trước đó bằng cách kế thừa toàn bộ tinh hoa tri thức nhân loại, đồng thời phê phán, phủ định những hạn chế của những tư tưởng đó và sáng tạo ra chủ nghĩa mới mang bản chất khoa học và cách mạng, đó là Chủ nghĩa Mác.

Phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Các Mác - Giá trị lịch sử và thực tiễn sinh động ở Việt Nam
Ảnh minh họa: dangcongsan.vn
Trước Mác, Hê-ghen và Phoi-ơ-bắc đại diện cho hai trường phái triết học đối lập nhau: Hê-ghen là đại biểu cho trường phái duy tâm nhưng “hạt nhân hợp lý” trong triết học của ông là phương pháp biện chứng cách mạng (phép biện chứng); Phoi-ơ-bắc đại diện cho trường phái duy vật nhưng hạn chế trong triết học của ông là phương pháp siêu hình (phép siêu hình). Mác đứng trên lập trường duy vật cách mạng của Phoi-ơ-bắc nhưng phê phán phép siêu hình của ông ta; Mác cũng phủ định lập trường duy tâm của Hê-ghen nhưng tiếp thu “hạt nhân hợp lý” trong triết học của ông là phép biện chứng cách mạng. Nhờ đó, triết học Mác có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng: Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng còn phép biện chứng là phép biện chứng duy vật, nó hoàn toàn khác về chất so với chủ nghĩa duy tâm biện chứng của Hê-ghen và chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phoi-ơ-bắc. Hơn nữa, trước Mác, các nhà triết học chủ yếu là giải thích thế giới, triết học Mác không chỉ giải thích thế giới mà sứ mệnh cao cả hơn là cải tạo thế giới.

Học thuyết về kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học cũng tương tự như vậy. Mác đã kế thừa có phê phán những tư tưởng kinh tế chính trị học cổ điển Anh và tư tưởng chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp... Trên cơ sở đó, ông đã tìm ra quy luật giá trị thặng dư và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Trong diễn văn tại Đại hội III toàn Nga của Đoàn Thanh niên Cộng sản Nga diễn ra ngày 2-10-1920, Lênin đã truyền thụ phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác cho thế hệ trẻ và mong muốn thế hệ trẻ sẽ là người kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang đó. Trong khuôn khổ bài này, tôi xin nêu hai biểu hiện đặc sắc trong phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác:

Một là, Mác đã nghiên cứu toàn diện và sâu sắc toàn bộ tri thức nhân loại đã sáng tạo ra. Lênin khẳng định: “Tất cả những cái mà xã hội loài người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại một cách có phê phán, không hề bỏ sót một điểm nào”. Muốn trở thành người cộng sản, nhất là đối với thanh niên, thế hệ trẻ thì phải không ngừng học tập, nghiên cứu để có tri thức toàn diện, phong phú và sâu sắc. Lênin nhấn mạnh: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”.

Theo chỉ dẫn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nghiên cứu, đã kế thừa toàn bộ tri thức nhân loại sáng tạo ra, trên cơ sở đó lựa chọn con đường phát triển đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đó là con đường cách mạng vô sản nhằm giải phóng dân tộc và tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Sự lựa chọn đó đã dứt khoát từ năm 1930 và kiên định thực hiện, kể cả khi hệ thống CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, đặt CNXH trước sự phê phán gay gắt chưa từng thấy, từ nhiều hướng. Trong muôn vàn khó khăn đó, tại Đại hội VII, Đảng ta đã quyết nghị và thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991): Khẳng định ý chí sắt đá, không gì lay chuyển nổi mục tiêu CNXH mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn, toàn Đảng, toàn dân ta quyết tâm theo đuổi đến cùng con đường dẫn tới mục tiêu ấy. Nhân dân ta, dưới ngọn cờ của Đảng, phát huy cao độ truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc, đã chiến đấu hy sinh ròng rã mấy chục năm trời, hoàn thành về cơ bản những nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đã chuyển sang thực hiện những nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH, không có lý gì nay lại rẽ sang con đường khác ngược với mục tiêu đã lựa chọn.

Hai là, trên cơ sở phê phán những khuyết điểm, hạn chế, Mác đã tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa tri thức nhân loại. Đây là đặc sắc trong phương pháp kế thừa tri thức nhân loại của Mác. Lênin nhấn mạnh: “Tất cả những cái mà xã hội loài người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại, đã phân tích, phê phán và đã căn cứ phong trào công nhân để kiểm tra lại”. Thật vậy, Mác đã phê phán những hạn chế, khuyết điểm mà tri thức nhân loại đã sáng tạo ra, nhất là những tiền đề lý luận trực tiếp lúc bấy giờ là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và CNXH không tưởng Pháp để xây dựng nên học thuyết mới hoàn chỉnh với ba bộ phận cấu thành gồm triết học, kinh tế chính trị học và CNXH khoa học.

Con đường tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu hiện sinh động cho phương pháp kế thừa tri thức nhân loại. Người rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối nhưng không tán thành con đường cứu nước của họ, bởi phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại. Người chọn con đường khác để tìm ra và đi theo Chủ nghĩa Mác, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo cách mạng giành độc lập dân tộc, đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên CNXH.

Con đường đi lên CNXH ở nước ta bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản là sáng tạo đặc sắc của Việt Nam. Bỏ qua ở đây là bỏ qua quan hệ sản xuất bóc lột tư bản chủ nghĩa, bỏ qua kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, bỏ qua những thói hư, tật xấu của xã hội tư bản. Còn tiếp thu những thành tựu phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, tiếp thu văn minh mà nhân loại đạt được trong giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Đồng chí Nguyễn Đức Kiên-Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ khẳng định: “Mỗi một dân tộc họ chọn một con đường khác nhau và chúng ta lựa chọn con đường xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng CNXH. Ở đây nó sáng tạo ở chỗ chúng ta tận dụng được tất cả những thành tựu của trí tuệ con người để chúng ta đạt được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bỏ qua chủ nghĩa tư bản, bỏ qua những vấn đề bất cập để tiến thẳng lên CNXH thì nó chính là ở khía cạnh ấy và khi người đứng đầu(1) mà tuyên bố như thế thì nó giúp cho người điều hành trực tiếp có động lực và có niềm tin để họ có thể đi tắt, đón đầu”.

(còn nữa)

QUÁCH ĐÌNH HỢI

(1) Bài viết: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

QĐND - Phương pháp kế thừa tri thức nhân loại là đặc sắc của Chủ nghĩa Mác; nhờ phương pháp đó, Chủ nghĩa Mác đã không ngừng đổi mới, phát triển bằng cách tiếp thu có chọn lọc, có phê phán tất cả sản phẩm trí tuệ loài người...

15/12/2022
15/12/2022

Đổi mới giảng dạy triết học Mác - Lê-nin ở các trường đại học theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII
Để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, một nhân tố quan trọng là cần quan tâm đến vấn đề giáo dục triết học Mác - Lê-nin trong các trường đại học. Bởi lẽ, triết học Mác - Lê-nin góp phần hình thành nhân sinh quan và thế giới quan duy vật biện chứng cho mọi người. Muốn vậy, cần đổi mới phương pháp giảng dạy môn học này trong các trường đại học nhằm phát huy tính sáng tạo, chủ động và hiệu quả của người học.

Sự cần thiết đổi mới phương pháp giảng dạy triết học Mác - Lê-nin

Trong thời đại của nền kinh tế tri thức, trí tuệ được coi là sức mạnh hàng đầu, khẳng định vai trò, vị thế của mỗi quốc gia. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Do đó, bất kỳ quốc gia nào, ở giai đoạn phát triển nào, muốn thúc đẩy và phát triển kinh tế không thể không quan tâm và đầu tư cho giáo dục. Giáo dục và đào tạo trở thành vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, dân tộc. Người ta có thể nhìn thấy sự phát triển của một quốc gia trong tương lai khi nhìn vào giáo dục của quốc gia đó hôm nay. Do đó, giáo dục và đào tạo con người là yếu tố quyết định cho tương lai của mỗi quốc gia. Trong thời đại của khoa học - công nghệ hiện đại, của toàn cầu hóa, hội nhập và mở cửa những trào lưu và xu hướng tiến bộ đang bùng phát trên khắp thế giới thì tri thức triết học và tư duy triết học lại ngày càng có vai trò hết sức quan trọng.

Hiện nay, Đảng ta đang tiến hành chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đẩy lùi tình trạng suy thoái “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên cơ sở nền tảng lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Do đó, để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục triết học Mác - Lê-nin trong các trường đại học, nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hiện nay. Đổi mới phương pháp giảng dạy triết học Mác - Lê-nin trong các trường đại học nhằm phát huy tính sáng tạo, chủ động của người học, đáp ứng tốt tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 là yêu cầu tất yếu khách quan trong giai đoạn hiện nay.

Trong những năm gần đây, một trong những nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng được Đảng ta đặc biệt quan tâm là xây dựng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống gắn với đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thực chất là quá trình suy thoái bên trong mỗi con người, mỗi cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Đó là sự thay đổi từ lập trường, lối sống, lý tưởng cách mạng sang lập trường, quan điểm, lối sống của những phần tử cơ hội, thoái hóa, biến chất. Lối sống của những phần tử đó ngày càng tinh vi, phức tạp, móc nối chằng chịt trên dưới, từ đó dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tràn lan. Cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cuộc đấu tranh đòi hỏi mỗi người mà trước hết là mỗi cán bộ đảng viên phải tự ý thức được và phải tự mình thường xuyên thực hiện nhằm đưa “chân, thiện, mỹ” và những giá trị nhân văn đích thực trở thành dòng chủ lưu trong Đảng và toàn xã hội.

Một trong những “nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân”(1). V.I. Lê-nin căn dặn những người cộng sản rằng, không ai có thể đánh đổ được chúng ta, trừ chính những sai lầm của chúng ta. Do đó, để tránh được những sai lầm đó, nhằm cung cấp cho sinh viên thế giới quan và phương pháp luận khoa học định hướng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, giúp người học có thái độ đúng đắn với hiện thực, có khả năng phân tích, xử lý các vấn đề, xây dựng niềm tin khoa học vào lý tưởng cách mạng của Đảng, có lập trường chính trị vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao, quán triệt sâu sắc và thực hiện triệt để đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì việc đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lê-nin nói chung và triết học Mác - Lê-nin nói riêng càng trở nên cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

Việc đổi mới phương pháp, nội dung giảng dạy Triết học trong các trường đại học diễn ra thường xuyên, liên tục. Trong thời gian qua, việc dạy và học Triết học tại một số trường đại học mang tinh thần, hơi thở của công cuộc đổi mới, có những khởi sắc đáng kể. Triết học ngày càng khẳng định được vị trí độc lập, giáo trình phong phú, sâu rộng hơn trước, nội dung có những điều chỉnh và cải tiến đáng kể. Trong kết cấu thời gian, một thời lượng đáng kể dành cho thảo luận được đặt ra. Nhờ hoạt động này mà phần đông sinh viên nhận rõ vai trò, tác dụng của triết học. Tuy nhiên, trên thực tế, việc đổi mới và nâng cao chất lượng giảng dạy triết học trong các trường còn chưa thật sự đạt được kết quả cao như mong muốn. Người dạy đôi khi còn mang tính hình thức, người học chán học, học xong không nhớ nội dung kiến thức nên khó vận dụng vào trong thực tiễn đời sống. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan, từ chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy, thiết bị và điều kiện dạy học, tâm lý tiếp thu môn học và nhiều yếu tố khách quan khác.

Trong giai đoạn hiện nay, để đẩy lùi nguy cơ thoái hóa, biến chất của các cá nhân, tổ chức trong hệ thống chính trị, thực hiện thành công yêu cầu của sự nghiệp đổi mới trong bối cảnh mới thì việc nâng cao nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo, chủ động hội nhập và giải quyết những yêu cầu mới đòi hỏi tất yếu phải thay đổi phương pháp giảng dạy. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở chúng ta “phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; học lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để áp dụng, giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong cách mạng của chúng ta”(2). Với chức năng là môn khoa học cung cấp thế giới quan và phương pháp luận cũng như tư duy biện chứng cho người học, đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy triết học là một yêu cầu bức thiết, một nhiệm vụ quan trọng. Song, để bảo đảm chất lượng và tính hiệu quả, quá trình giảng dạy, để xác định được phương pháp giảng dạy thích hợp, cần phải trả lời các câu hỏi: Dạy ai? Ai dạy? Dạy cái gì? Dạy để làm gì? Dạy như thế nào?.

Những giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy

Thứ nhất, dạy ai? Người dạy cần bảo đảm nguyên tắc xác định đúng đặc thù của đối tượng dạy học. Việc xác định đúng đối tượng dạy học sẽ quyết định việc lựa chọn phương pháp phù hợp, nội dung cần nhấn mạnh và kiến thức vận dụng trong thực tiễn. Đối tượng chung nhất của các trường đại học là sinh viên, họ cần được trang bị kiến thức về thế giới quan, phương pháp luận khoa học chung nhất. Tuy nhiên, ở mỗi trường khác nhau có mục tiêu đào tạo khác nhau. Trên cơ sở xác định chuẩn đầu ra của mỗi trường, thậm chí mỗi ngành học khác nhau trong trường, người dạy phải xác định đúng đối tượng để có những liên hệ thực tiễn, vận dụng những phương pháp giảng dạy và đáp ứng các kỹ năng cần thiết phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra. Việc xác định đúng đối tượng dạy học theo yêu cầu của từng ngành góp phần giúp giảng viên vận dụng những kiến thức thực tiễn sát với chuyên ngành của người học, góp phần làm cho triết học đáp ứng yêu cầu thực tiễn người học cần, thu hút sự chú ý của người học, giúp người học xây dựng được thế giới quan, phương pháp luận sát với yêu cầu của ngành học.

Sinh viên theo học ở mỗi khoa có một lĩnh vực chuyên sâu riêng biệt. Dạy triết học Mác - Lê-nin cho sinh viên chuyên ngành đó cần vươn tới chỗ gắn kết nó với chuyên môn riêng, với những ví dụ cụ thể để tạo nhiều hứng thú. Cách dạy này nếu chỉ nhìn qua khó thấy được tính ưu việt. Thậm chí, có người còn cho là xa đề, làm loãng những nội dung của triết học. Song, đây chính là cách tạo môi trường để những nguyên lý nằm trong sách vở bước ra, sống động. Muốn khẳng định vị trí môn triết học trong nhà trường phải gắn nó với các môn khoa học chuyên ngành. Sự gắn kết này có tác dụng tránh cho triết học khỏi xa rời cuộc sống mà ở đây là hoạt động học tập, nghiên cứu của sinh viên, đồng thời giúp cho các sinh viên khi ra trường đáp ứng tốt được các yêu cầu thực tiễn đặt ra, có phương pháp luận phù hợp để xây dựng phương phướng, lựa chọn phương pháp và hành động phù hợp để giải quyết công việc, có khả năng phản biện các thông tin sai lệch, lựa chọn được những yếu tố tích cực để vận dụng trong công tác chuyên môn.

Thứ hai, dạy cái gì? Đây chính là yêu cầu của việc xác định tính chất đặc thù của môn học. Đặc thù của khoa học Triết học là ở chỗ, trong sự phản ánh hiện thực, tri thức triết học có tính khái quát hóa, trừu tượng hóa cao và được biểu đạt bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật. Hơn nữa, triết học là môn khoa học lý thuyết, chứ không phải môn khoa học ứng dụng. Chính vì vậy, môn học này thiên về những kiến thức hàn lâm và hầu như không có những mô hình thực nghiệm, ứng dụng, trực quan, nên không thể sơ đồ hóa bài giảng một cách máy móc. Môn Triết học có chức năng cơ bản là trang bị thế giới quan và phương pháp luận cho người học. Vì thế, việc giảng dạy triết học Mác - Lê-nin phải đạt được mục đích là giúp người học xác lập cho mình thế giới quan và phương pháp luận khoa học cả trong nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn.

Trong giai đoạn hiện nay, cần dạy cho người học những kiến thức để giúp họ làm chủ được công việc, chủ động, nhạy bén, tích cực trong cuộc đấu tranh tư tưởng, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì việc tiếp nhận những tri thức mới của nhân loại, bảo đảm chính xác, nhanh chóng của thông tin là một yêu cầu tất yếu trong giảng dạy triết học Mác - Lê-nin nói riêng. Để đáp ứng được yêu cầu đó, giảng viên phải chuẩn bị kỹ đề cương hướng dẫn sinh viên học tập, hướng dẫn cách đọc tài liệu, chọn sẵn các chủ đề thảo luận chuyên môn. Trong quá trình giảng dạy, giảng viên cần khẳng định được bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, là học thuyết mở đòi hỏi phải luôn được bổ sung, đổi mới qua thực tiễn cách mạng, cũng như sự phát triển trí tuệ của nhân loại.

Thứ ba, dạy để làm gì? Đây chính là việc bảo đảm mục đích của việc dạy học, yêu cầu chuẩn đầu ra của từng ngành học khác nhau thì việc xác định mục đích giảng dạy càng có nhiều yêu cầu và đòi hỏi mang tính đặc thù hơn. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, giảng dạy chủ nghĩa Mác - Lê-nin ngoài việc phải gắn với mục tiêu đào tạo của từng ngành, giảng dạy triết học Mác - Lê-nin còn phải gắn với việc nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc và các thủ đoạn chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhằm thực hiện thành công chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị tư tưởng của các thế lực thù địch. Với mục đích nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhằm làm mất phương hướng, giảm sút ý chí chiến đấu, các thế lực phản động cố gắng chứng minh “tính lỗi thời của học thuyết Mác - Lê-nin; phủ định những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; phủ nhận con đường xây dựng đất nước của Việt Nam là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Để góp phần xóa bỏ âm mưu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó đòi hỏi cung cấp thế giới quan, phương pháp luận khoa học, phương pháp tư duy biện chứng cho sinh viên - những chủ nhân của đất nước để họ có cơ sở khoa học tin tưởng vào con đường của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta lựa chọn. Có như vậy, mới giúp cho người học tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân; sẵn sàng phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhất là trước âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ, phá hoại nền tảng văn hóa xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, dạy như thế nào? Đây là yêu cầu của việc xác định phương pháp dạy học. Việc xác định dạy như thế nào cần phải bảo đảm mục đích đặc thù của từng ngành học và việc đáp ứng tốt các yêu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn của đất nước. Xác định đúng và vận dụng tốt các phương pháp giảng dạy, nhất là khi yêu cầu giảng dạy triết học phải giúp người học có được phương pháp tư duy khoa học, biết phản tư lại những quan điểm sai trái để đưa ra những giải pháp hợp lý. Dạy học là quá trình tương tác giữa người dạy và người học, ở đó người dạy phải sử dụng phương pháp thích hợp truyền tải kiến thức đến cho người học, bảo đảm nguyên tắc: biết, hiểu, vận dụng. Nói cách khác, có những kiến thức người học chỉ cần biết, có những kiến thức người học nhớ để vận dụng làm bài tập, nhưng có kiến thức người học cần nhớ suốt đời để vận dụng vào giải quyết tốt yêu cầu thực tiễn đặt ra. Để làm được điều đó, đòi hỏi người dạy phải có phương pháp phù hợp, phương pháp đó phải truyền được cảm hứng cho người học, tạo được hứng thú để người học tìm tòi, nghiên cứu kiến thức lý thuyết, vận dụng giải quyết tốt yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc có tầm quan trọng đặc biệt được đặt ra khi giảng dạy triết học Mác - Lê-nin. Do đó, người dạy phải luôn gắn chặt nội dung tri thức của khoa học triết học với bản chất, xu hướng vận động của lịch sử hiện đại, gợi mở, định hướng cho sinh viên phương pháp luận đúng đắn trong cách xem xét, đánh giá những gì đang diễn ra trong đời sống hiện thực, tránh cách tiếp nhận triết học một cách giáo điều.

Thứ năm, ai dạy? Đây là điều kiện quan trọng cho việc bảo đảm và nâng cao chất lượng dạy và học đáp ứng yêu cầu của đất nước trong tình hình mới. Người thầy giáo giỏi phải là người truyền được cảm hứng tới người học, dẫn dắt người học học tập một cách say mê, thu được kết quả tốt. Muốn nâng cao chất lượng đào tạo thì một trong những yếu tố có tính quyết định là đội ngũ giảng viên phải có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực và phương pháp giảng dạy. Do vậy, đội ngũ đó cần được đào tạo, bồi dưỡng, tiếp tục nâng cao trình độ để có đủ khả năng đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ giảng dạy. Đội ngũ giảng viên cần được tăng cường đào tạo lý luận chính trị theo hướng chuẩn hóa, bám sát định hướng đổi mới công tác lý luận của Đảng trong tình hình mới; cần phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác của đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn lý luận chính trị nói chung và triết học Mác - Lê-nin nói riêng; cần quán triệt, vận dụng đúng đắn, đầy đủ, sáng tạo nội dung Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và Chỉ thị 05 về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Sinh viên chính là những nhà khoa học trẻ, là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng trực tiếp yêu cầu đổi mới, hội nhập, phát triển của đất nước. Họ là hiện thân của đội ngũ trí thức hôm nay và trong tương lai, là những người được đào tạo chuyên sâu về những lĩnh vực nhất định để đảm nhận, gánh vác những trọng trách của xã hội nói chung và của nền khoa học nước nhà nói riêng. Do vậy, có thể khẳng định, việc trang bị, bồi dưỡng tri thức triết học với tư cách là môn học cung cấp thế giới quan, phương pháp luận và tư duy biện chứng cho sinh viên là một yêu cầu quan trọng, có tính chất sống còn đối với việc bảo đảm chế độ chính trị và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo./.

TS. Trần Thị Điểu
Đại học quốc gia Hà Nội
Thứ Năm, 28/2/2019

15/12/2022

Trụ sở: P. 1702, Tòa nhà Comatce Tower, Số 61 Ngụy Như Kon Tum, P. Nhân Chính, Q. Thanh Xuân, Tp. Hà Nội.

09/12/2022

Ý nghĩa thâm diệu Bát Nhã Tâm Kinh, cần phải đề cập đến mấy luận điểm cơ bản như lý thuyết duyên sinh, vô ngã, vô thường, tính không... Câu chuyện thiền môn: Tùy duyên cuộc sống Nhà sư "nhất bộ nhất bái" nói về nhân duyên xuất gi...

09/12/2022
Thiền sư Ajahn Brahm là ai? Tiểu sử cuộc đời và những đóng góp của ngài cho Phật giáoTháng Tám 24, 20225 / 5 ( 3 bình ch...
09/12/2022

Thiền sư Ajahn Brahm là ai? Tiểu sử cuộc đời và những đóng góp của ngài cho Phật giáo
Tháng Tám 24, 2022
5 / 5 ( 3 bình chọn )
Thiền sư Ajahn Brahm vốn là người châu Âu. Thế nhưng ngài lại có niềm say mê vô hạn đối với Phật giáo kể từ năm 16 tuổi sau khi tình cờ đọc được một cuốn sách. Từ đó thế giới đã xuất hiện một vị thiền sư xuất chúng, đóng góp sức mình cho sự phát triển của Phật giáo nói chung. Bài viết này sẽ cho các bạn hiểu thêm rõ hơn về cuộc đời của thiền sư Ajahn Brahm.
Nội dung chính [Ẩn]

1 Tiểu sử của thiền sư Ajahn Brahm
2 Quá trình hoạt động của thiền sư Ajahn Brahm
3 Những đóng góp của thiền sư Ajahn Brahm đối với cộng đồng
4 Một số tác phẩm nổi bật của thiền sư Ajahn Brahm
Tiểu sử của thiền sư Ajahn Brahm

Thiền sư Brahmavamso thường được biết với tên gọi là Ajahn Brahm, ngài sinh năm 1951 tại London, Anh quốc. Khi ông được 16 tuổi, lúc đó vẫn còn là một học sinh trung học, thiền sư đã tham dự nhiều khóa Thiền, đọc nhiều sách Phật giáo và tự nhận mình là Phật tử.

Thiền sư Ajahn Brahm có sở thích nghiên cứu Phật giáo và hành thiền ngày càng nhiều hơn khi ông theo học ngành Vật lý Lý thuyết tại Đại Học Cambridge. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông đã đi dạy học khoảng một năm, rồi quyết định từ giã cuộc đời thế tục, lên đường sang Thái lan để tìm thầy học đạo.

Năm 23 tuổi, thiền sư Ajahn Brahm xuất gia và tu học 9 năm dưới sự hướng dẫn của Ngài Ajahn Chah, thuộc hệ phái Nguyên thủy, truyền thống khổ hạnh Sơn Lâm (Forest Sangha), ở miền Đông Bắc Thái lan. Ngài Ajahn Chah là một trong những Thiền sư danh tiếng và được tôn kính bậc nhất ở Thái lan thời bấy giờ.

Quá trình hoạt động của thiền sư Ajahn Brahm

Được Somdet Buddhajahn xuất gia làm tu sĩ tại Wat Saket ở Bangkok vào năm 1974, Ajahn Brahm du hành đến Đông Bắc Thái Lan vào tháng 1 năm 1975 và trở thành học trò của thiền sư Ajahn Chah tại Wat Pa Pong. Cùng năm đó, ngài trở thành một thành viên tăng đoàn sáng lập của Wat Pa Nanachat, một tu viện được Ajahn Chah thành lập gần Wat Pa Pong để phục vụ cho số lượng ngày càng tăng người phương Tây đến xuất gia và tu tập với ngài. Ajahn Brahm đã trở thành bậc thầy vinaya (mã của kỷ luật tu viện) tại Wat Pah Nanachat từ năm 1975 cho đến khi ông ra đi vào năm 1983. Các ghi chú vinaya của ông vẫn có thẩm quyền đối với hầu hết các nhà sư Phật giáo phương Tây theo truyền thống Theravada.

Ngài đã được Hiệp hội Phật giáo Tây Úc (BSWA) mời đến Perth vào năm 1983 cùng với một nhà sư, Ajahn Jagaro. Cuối năm đó, BSWA mua đất nông thôn ở Serpentine phía nam Perth. Ajahn Brahm trở thành nhà sư đồng sáng lập và là phó trụ trì của Tu viện Bodhinyana vào cuối năm 1983.

Năm 1995, thiền sư Ajahn Brahm trở thành trụ trì của Tu viện Bodhinyana sau sự ra đi của ngài Ajahn Jagaro. Năm 2004, ông được Đại học Curtin trao tặng Huân chương John Curtin cho tầm nhìn, khả năng lãnh đạo và phục vụ cộng đồng Úc. Và vào năm 2006, Quốc vương Thái Lan đã phong tặng cho thiền sư Ajahn Brahm danh hiệu “Tan Chao Khun”. bổ nhiệm một giám mục. Do đó, Tu viện Bodhinyana nhận được một chiếc áo choàng tượng trưng của nhà sư hàng năm từ Nhà vua Thái Lan, một dấu hiệu của sự bảo trợ của hoàng gia đối với tu viện.

Thiền sư Ajahn Brahm cũng đã được bổ nhiệm làm Thành viên của Giáo đoàn Australia vào năm 2019 vì sự phục vụ quan trọng của ông đối với Phật giáo và bình đẳng giới. Ông còn được vinh danh vì đã giúp trao quyền cho phụ nữ trong Phật giáo, bao gồm cả việc truyền giới Tỳ-kheo-ni vào năm 2009.

Thiền sư Ajahn Brahm đồng sáng lập (với ngài Ajahn Jagaro) ra Tu viện Bodhinyana ở Serpentine. Ông thực sự đã đóng góp vào việc xây dựng tu viện này khi ông xây dựng hầu hết các cấu trúc bằng chính đôi tay của mình cùng với các bạn đồng tu của mình. Sau đó, ông đã có công trong việc hỗ trợ thành lập Trung tâm Phật giáo Dhammaloka ở Nollamara. Trong suốt thời gian kéo dài ba thập kỷ này, ông đã là giáo viên chính tại trung tâm này và trong cộng đồng rộng lớn hơn.

Dựa trên kinh nghiệm dẫn dắt việc thành lập Tu viện Bodhinyana, thiền sư Ajahn Brahm đã giúp thiết kế và gây quỹ cho Tu viện của các nữ tu Dhammasara ở Gidgegannup. Được thành lập vào năm 1997 với một nữ tu người Úc duy nhất, Dhammasara đã phát triển cả về cơ sở vật chất và tăng đoàn (cộng đồng) đào tạo các nữ tu ở đó. Vào tháng 10 năm 2009, ngài đã hỗ trợ trong lễ thọ giới Tỳ kheo ni đầu tiên ở Úc.

Từ năm 2006, ông lãnh đạo việc gây quỹ và phát triển Trung tâm Nhập thất Thiền Jhana Grove, một cơ sở nhập thất thiền định đẳng cấp thế giới với 60 phòng khách được BSWA hoặc các nhóm thiền khác sử dụng quanh năm. Năm 2012, Jhana Grove phục vụ 1300 người nhập thất. Các địa điểm trong các khóa tu thiền của ngài Ajahn Brahm thường được đặt trước trong vài phút do sự nổi tiếng của ông với tư cách là một giáo viên thiền.

Năm 2013, bắt đầu xây dựng “Đồi ẩn sĩ”, một phần mở rộng của Tu viện Bodhinyana. Bodhinyana là tu viện Phật giáo Theravada lớn nhất bên ngoài châu Á, và có một danh sách dài những người đàn ông muốn xuất gia tại Bodhinyana đang chờ đợi, nhưng không được chấp nhận do chỗ ở và cơ sở vật chất hạn chế. Thiền sư Ajahn Brahm đang thực hiện bước đầu tiên để mở rộng cơ hội xuất gia và thực hành bằng cách mở rộng Bodhinyana với việc mua thêm 100 ha đất khác hiện đang có những túp lều được xây dựng trên đó để làm chỗ ở cho các nhà sư tương lai.

Những đóng góp của thiền sư Ajahn Brahm đối với cộng đồng
Trong suốt 31 năm, thiền sư Ajahn Brahm đã phục vụ cộng đồng bằng cách đưa ra những lời khuyên khôn ngoan và lòng trắc ẩn cho bất cứ ai tìm đến với ông, bất kể chủng tộc, giới tính, tín ngưỡng tôn giáo hay địa vị xã hội. Ông luôn tập trung vào việc giúp đỡ những người khó khăn đó hoặc bất kể những người xuất hiện trước mặt ông bất cứ lúc nào, có thể là một người bị ung thư giai đoạn cuối, một người bị trầm cảm, một tù nhân, một người đang đối phó với các vấn đề hôn nhân, một người thiền định tận tụy, hoặc bất cứ ai mà không có phân biệt.



Mục đích của thiền sư Ajahn Brahm trong cuộc sống đó là dạy mọi người cách để đạt được hạnh phúc và vượt qua những đau khổ trong cuộc sống. Từ sự khởi đầu khiêm tốn cho đến việc giảng dạy cho hàng trăm nghìn người mỗi tháng, thông qua quá trình trực tiếp hoặc trực tuyến, sự phổ biến của các bài nói chuyện của ngài ngày nay đã chứng minh là vô cùng hiệu quả. Kể từ khi đến định cư tại Úc, thiền sư Ajahn Brahm đã đóng góp nhiều dịch vụ cho cộng đồng thông qua các hoạt động như:

– Giúp tư vấn cho những người bị trầm cảm, có ý định tự tử, các vấn đề về hôn nhân, và các vấn đề khác về tâm thần, tình cảm và xã hội.
– Đến thăm các hiệp hội hỗ trợ bệnh nhân ung thư để giúp mọi người đối phó tích cực với căng thẳng tinh thần.

– Đến thăm trường học để nói về thiền và làm thế nào để hạnh phúc.

– Đại diện cho cộng đồng Phật giáo tại các diễn đàn liên tôn giáo, bao gồm hàng năm tại buổi lễ Ngày thịnh vượng chung tại Nhà thờ St. George ở Perth.

– Ông còn là diễn giả chính tại các hội nghị chuyên môn như Hội nghị Máy tính Thế giới 2015 tại Hàn Quốc, Hội nghị Lãnh đạo Kết nối Davos ở Đảo Hayman và các Hội nghị Nguồn nhân lực Quốc tế khác nhau.

Thiền sư Ajahn Brahm đã phục vụ rộng rãi cho cộng đồng Phật giáo đang phát triển ở Perth và Tây Úc thông qua việc cung cấp các dịch vụ như tang lễ, thăm bệnh viện, bao gồm tư vấn cho những người mắc bệnh nan y, chúc phúc cho đám cưới, dịch vụ tư vấn, chủ tọa trong vai trò chủ tế trong những dịp quan trọng của Lịch Phật giáo.

Address

D9,Thừa đất 560,tờ Bản đồ 13,Hẻm Tân Phước Khánh 15,Tổ 3,Kp
Tân Uyên

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Cuộc tình tay ba của triết gia posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share