📌NLXH: CÁCH ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI YẾU THẾ TRONG XÃ HỘI
---------------------
DẶN CON
(Trần Nhuận Minh)
Chẳng ai muốn làm hành khất
Tội trời đày ở nhân gian
Con không được cười giễu họ
Dù họ hôi hám úa tàn.
Nhà mình sát đường, họ đến
Có cho thì có là bao
Con không bao giờ được hỏi
Quê hương họ ở nơi nào.
Con chó nhà mình rất hư
Cứ thấy ăn mày là cắn
Con phải răn dạy nó đi
Nếu không thì con đem bán.
Mình tạm gọi là no ấm
Ai biết cơ trời vần xoay
Lòng tốt gửi vào thiên hạ
Biết đâu nuôi bố sau này...
➡️Viết một bài văn nghị luận ngắn ( khoảng 2- 3 trang giấy), trình bày suy nghĩ của em về vấn đề được gợi ra từ bài thơ trên.
----------
❌ GỢI Ý CÁCH LÀM
- Đây là bài làm dạng nghị luận xã hội. Vấn đề xã hội được bàn luận ở đây được dẫn dắt từ một tác phẩm văn học.
- Xác định vấn đề nghị luận: Trên cơ sở hiểu được chủ đề của bài thơ: Thông qua lời người cha trò chuyện với người con về thái độ đối với những người ăn mày, bài thơ khắc sâu đạo lý: Con người phải có lòng trắc ẩn với những ai gặp rủi ro, bất hạnh. Đó chính là tinh thần của các câu tục ngữ: “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”.
- Bài làm có lí lẽ, có dẫn chứng lấy từ đời sống và cả trong văn học.
a. Yêu cầu về hình thức:
Đúng hình thức một bài văn từ 2-3 trang ( tùy theo sở trường) với kết cấu và lập luận chặt chẽ; văn viết trong sáng, câu chữ gọt rũa, không có sai sót về văn phạm.
b. Yêu cầu về nội dung:
HS trình bày quan niệm của mình, và đây là khoảng không gian tự do nhất trong phát ngôn của các em. Tuy nhiên, văn là người và ngược lại. Cho nên, một bài văn tốt phải được xây dựng trên những suy nghĩ, cảm xúc đúng đắn, hướng thiện, tiến bộ, nhân văn. Vì thế, cần có những ý cơ bản sau:
b.1 Xác định vấn đề nghị luận:
- Vấn đề nghị luận ẩn trong chủ đề bài thơ. Cần tóm tắt ý được diễn đạt trong mỗi phần của bài thơ.
- Có thể thấy các ý sau:
+ Hai dòng đầu khổ một “Chẳng ai muốn làm hành khất – Tội trời đày ở nhân gian” nêu một quan niệm về những người hành khất: Trong cuộc đời, ngoài ý muốn, con người ta có thể gặp những rủi ro, thiệt thòi. Người hành khất, người bất hạnh là người đáng thương xót chứ không đáng bị khinh bỉ.
+ Mười dòng thơ tiếp theo: Căn dặn con cách cư xử với người hành khất: không cười giễu, phải giúp đỡ; giúp đỡ nhưng không làm họ tổn thương; không coi họ như kẻ trộm, không xua đuổi họ (“Con chó…đem bán”).
+ Khổ cuối: Thương người cơ nhỡ, bất hạnh là thương chính mình (“Lòng tốt gửi vào thiên hạ - Biết đâu nuôi bố sau này).
Có thể nói, mạch của bài thơ đi đến đạo lí tình thương: “Lá lành đùm lá rách”. “Thương người như thể thương thân”.
b.2 Bàn luận ( Khẳng định – Chứng minh).
- Những lời người cha dạy con tuy chỉ dựa trên một sự việc, hiện tượng ta thường gặp nhưng thể hiện một thái độ, một đạo lí sống. Đó là một thái độ, một đạo lí sống thân thiện, tốt đẹp, thông minh và thực tế.
- Bởi lẽ:
+ Mọi người sinh ra ai cũng có quyền sống, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhưng không phải ai cũng hạnh phúc và sung sướng như nhau. Mọi người sống trên đời đều có một hoàn cảnh, một số phận riêng không ai giống ai. Tùy thuộc những sự phân bố vừa ngẫu nhiên vừa tất nhiên mà những số phận khác nhau ấy sẽ may mắn hay hẩm hiu, hạnh phúc hay bất hạnh… không như nhau ( những điều kiện tự nhiên, xã hội và di truyền…). Nghèo khổ, bất hạnh không phải là tội lỗi, chỉ là sự rủi ro. Rủi ro sẽ dẫn đến thiệt thòi. Có thể kể đến các thiên tai, các đại dịch, các châu lục và miền đất có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt; những người bị ốm đau, bệnh tật hiểm nghèo; những em bé mồ côi; những nạn nhân của chiến tranh;…
+ Vì vậy, những người gặp điều kiện tốt, được hưởng cuộc sống tốt lành hơn phải biết chia sẻ, đùm bọc, giúp đỡ những người bất hạnh, thiệt thòi. Đó là lương tâm hướng tới sự công bằng, là trách nhiệm với đồng loại, là thiên tính tự nhiên của nhiều loài, nhất là ở con người. Cha ông ta có câu “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” là vì thế.
+ Giúp đỡ, chia sẻ với người thiệt thòi bất hạnh còn thể hiện sự phong phú, cao quí của tâm hồn và đức hạnh. Càng biết cảm thông, chia sẻ, con người càng bồi dưỡng được sức mạnh của lòng nhẫn nại và tình thương để hướng tới một cuộc sống hữu ích, lớn lao.
+ Đùm bọc, chia sẻ có vai trò quan trọng góp phần xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái, làm cho mối quan hệ giữa con người với con người trở nên tốt đẹp hơn.
+ Cuộc sống sẽ tươi đẹp hơn nếu mỗi con người biết “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”.
Một con người thương yêu là một con người cao quí, hạnh phúc. Một xã hội nhân đạo là một xã hội văn minh, phát triển. Một cử chỉ xót thương là một hành động mạnh mẽ, thiết thực.
- Phê phán: hiện tượng một số người sống thiếu sự đồng cảm, sẻ chia, vô cảm trước những bất hạnh, éo le của người khác. Khi chúng ta không tự bồi dưỡng được một cách nhìn, một thái độ và một cách ứng xử tốt đẹp thì hậu quả sẽ tiêu cực: Người thiệt thòi càng khốn khó, mỗi chúng ta không thanh thản,không hoàn thiện, đạo lí tốt đẹp của dân tộc bị mai một, xã hội không phát triển…
b.3 Những hành động thương yêu, chia sẻ của bản thân người viết
----------------------
❌ BÀI VIẾT THAM KHẢO
Trong tiếng Anh, có một từ ngữ rất đặc biệt mang nghĩa “vũ trụ” – “Universe”. “Uni” nghĩa là “một”, “verse” là “bài thơ” – cả vũ trụ này như một bài thơ, và con người – những tiểu vũ trụ, cũng là một bài thơ họa nên từ tay người nghệ sĩ đời mình. Mỗi người trên đời là một bài thơ, cũng là một người nghệ sĩ từng ngày góp nhặt những “hạt bụi vàng” của đời, đặt bút dệt chính mình và thế giới – những vần thơ tuyệt sắc. Vậy con người nhìn thấy những giá trị tốt đẹp nào để họa người và họa nên mình? Trước cơ trời cứ mãi vần xoay, trước những số phận người yếu thế hơn mình, liệu con người sẽ dùng tấm lòng thế nào để đối đãi và nhận lấy những “tấm lòng vàng”, trở thành một “tiểu vũ trụ” đúng nghĩa, tuy thăng trầm mà đầy chất thơ? Lời khuyên cho câu hỏi đó cũng từng được nhà thơ Trần Nhuận Minh cất lên trong bài “Dặn con”:
Chẳng ai muốn làm hành khất
Tội trời đày ở nhân gian
Con không được cười giễu họ
Dù họ hôi hám úa tàn
Nhà mình sát đường, họ đến
Có cho thì có là bao
Con không bao giờ được hỏi
Quê hương họ ở nơi nào
…
Mình tạm gọi là no ấm
Ai biết cơ trời vần xoay
Lòng tốt gửi vào thiên hạ
Biết đâu nuôi bố sau này...
Con người là một tiểu vũ trụ, tuy mỗi người mỗi khác, nhưng luôn chất chứa những diệu kì, những nét đẹp không thể chỉ nhìn bằng mắt thường mà còn cần con tim để thấu hiểu, để yêu thương. Bài thơ của Trần Nhuận Minh đã chứa đựng thông điệp đẹp về cách đối nhân xử thế, mà trong đó, từng câu từng chữ, đều chan hòa tình yêu và sự tôn trọng đối với con người, với thế giới. Đọc thơ, ta đều bắt gặp “con không được”, “con không bao giờ” như một luật lệ, một nguyên tắc, một điều tiên quyết mà con phải tuân theo. Và tất cả những nguyên tắc như thế, là để con tôn trọng, con yêu thương, không “cười giễu”, không “hỏi”, không làm tổn thương những “hành khất”, những người yếu thế hơn, dù cho họ “hôi hám úa tàn” hay tha hương cầu thực để kiếm miếng ăn, có số phận bất hạnh và không đủ đầy như chúng ta. Rằng “Ai biết cơ trời vần xoay”, ai biết hôm nay là “no ấm”, là đủ đầy nhưng ngày mai sẽ mất đi tất cả. Và một khi “lòng tốt” ta “gửi vào thiên hạ”, gửi gắm vào những người yếu thế hơn lòng tốt, lòng nhân ái bao dung, thì theo cơ trời xoay vần, đến một ngày, lòng tốt ta trao đi, sự tôn trọng ta trao đi ấy, “biết đâu nuôi bố sau này” - nhận lại tấm lòng đẹp, nhận lại những gì xứng đáng với điều mà ta đã gửi gắm khi xưa. Nhân vật người cha trong thơ Trần Nhuận Minh khuyên răn con, nhưng như đang tâm tình với con người vậy, rằng hãy đối xử theo cách yêu thương, đồng cảm, tôn trọng và sẻ chia với những người cùng khổ, người yếu thế hơn mình, để rồi một ngày, tấm lòng rồi sẽ gặp gỡ tấm lòng, và ta nhận lại được những trái ngọt, hoa thơm, điều mình xứng đáng với những gì mình đã trao đi.
Hellen Keller từng cho rằng: “Thay vì so sánh mình với những người may mắn hơn mình, ta nên so sánh mình với số đông con người. Và rồi sẽ có vẻ như chúng ta là những người may mắn”. Ta may mắn và đủ đầy hơn rất nhiều người trên thế gian này, nhưng không phải vì họ khốn cùng mà ta thiếu tôn trọng họ. Mỗi người mỗi khác, có những số phận từ khi sinh ra đã được định sẵn sẽ sung túc đủ đầy, có số phận lại rơi vào sự bất hạnh bần cùng với những nỗi bi thương. Vì vậy mà cuộc đời này luôn đan xen giữa những mảng sáng và tối, giữa giàu sang và đói nghèo, giữa hạnh phúc và nỗi đau, giữa nụ cười và giọt nước mắt. Ai cũng mong được hạnh phúc, ai cũng mong được ấm no, chẳng ai muốn làm “người hành khất” cả. Suy cho cùng, tuy là “hành khất”, nhưng họ vẫn là con người, cuộc sống của họ vẫn chất chứa vô vàn những giá trị, con người họ dù “hôi hám” và “úa tàn” nhưng ẩn sâu bên trong là vẻ đẹp, là khát khao thuần túy của một con người lương thiện.
Tôi vẫn thường nghe người ta than thở, cuộc đời là những chuỗi ngày xoay vòng, như đêm nối ngày, hạnh phúc nối liền với khổ đau, mọi thứ xoay vòng rồi lại xoay vòng, ai biết hôm nay no ấm, ngày mai lại mất hết tất cả, chẳng còn lại gì. Cuộc đời là bất toàn, con người là bất toàn, sự đời là vô thường, nhưng trong cái vô thường của dòng đời miên viễn, mỗi người gặp gỡ ta đều xuất phát từ những mối duyên lành, có duyên, ta mới gặp nhau, và vì có duyên, ta mới ở đây để trao những bài học tuy bình dị mà sâu sắc. Đối đãi với người khác bằng lòng tốt, bằng sự bao dung, tương trợ và tôn trọng, rồi từ đó cho mình phút giây lắng lại, để chiêm nghiệm, để đặt mình vào hoàn cảnh người ấy mà thấu hiểu, mà nâng niu, dù cho đó có là ai chăng nữa, có “hôi hám úa tàn” hay tha hương cầu thực chăng nữa. Đó cũng là cách ta chăm chút cho cơ duyên giữa người với người, sưởi ấm những kiếp khổ sai. Nếu lòng người nguội lạnh, ai sẽ là người nhóm lên tình thương? Nếu người ta chỉ sống với phần Con mà bỏ quên phần Người, thế giới này sẽ lạnh lùng và tàn độc đến thế nào? Ta là Con – Người, để cho phần Con duy trì sự sống, và phần Người tạo ra những giá trị, tạo ra những yêu thương, mở rộng trái tim đón nhận, bao dung dòng đời vốn đầy rẫy những khổ đau và nước mắt.
Ở vùng nông thôn Israel, người dân luôn chừa lại bốn góc ruộng ven đường mà không thu hoạch, dù cho phần hoa màu đó đã chín vàng và chỉ chờ bàn tay người hái về. Hoa màu đều để lại đó, bất kì ai cần đến đều có thể mang về. Đó là để báo đáp Thần, cũng là cung cấp, giúp đỡ những người nghèo đói khi đi ngang qua có thể dùng để lo cho những bữa cơm qua ngày. Hoặc như trong những ngày cả nước thực hiện cách ly xã hội để phòng, chống dịch Covid-19, trên từng góc phố, xóm nhỏ vắng vẻ, lạnh lẽo của Sài Gòn ngày dịch bệnh, vẫn nhóm lên đâu đó sự ấm áp của những suất cơm, ký gạo, những hộp sữa, hộp bánh, thùng mì miễn phí hỗ trợ người nghèo, người lao động tự do như bán vé số, lượm ve chai…của nhiều cá nhân, nhóm thiện nguyện... Hay như tiếng gọi chan chứa tình thương vang lên mỗi ngày tại bệnh viên Nhi Đồng 2: “Bé Mén dậy rồi kìa. Mẹ nào ẵm con đi tắm đi, rồi con uống sữa...” của phòng khoa Ngoại tổng hợp đối với bé Mén – con gái của 52 y bác sĩ tại khoa, cô bé bị cha ruột bỏ rơi khi điều trị tại đây... “Lòng tốt” – sự nhân ái, lòng yêu thương, sẻ chia, tôn trọng và đồng cảm mà chúng ta “gửi vào trong thiên hạ”, thực sự đã kiến tạo và cứu lấy nhiều cuộc đời khác. Tấm lòng ta trao đi, thật sự tỏa hương, kết tinh nên tia hy vọng giữa nhiều cuộc đời và số phận tăm tối trên đời.
Nhìn ra ngoài kia, thực sự vẫn có rất nhiều hơi ấm, rất nhiều những cá nhân và những hành động đẹp trao đi cho thế giới, thắp lên tia hy vọng cho nhiều mảnh đời bi thương, bất hạnh. Trao đi yêu thương, sống vì người khác, cũng là một cách để ta trân trọng chính mình, bồi đắp chính mình. Nhưng xin đừng mù quáng đâm đầu vào yêu thương, vào sự cho đi, bởi nếu ta vì họ, nhưng họ hoàn toàn không xứng đáng để ta vì, không xứng với những gì ta trao đi, không tôn trọng và gìn giữ những tốt đẹp ấy, thì hãy cân nhắc để không tự làm chính mình tổn thương. Và nếu như đã quyết tâm yêu thương thế giới, xin hãy kiên trì đến cùng, và trao đi với một trái tim không quá chờ đợi sự công nhận, không vị kỉ, không vụ lợi, bởi ít có “lòng tốt” nào vừa mới “gửi vào thiên hạ” đã ngay lập tức cho ra trái ngọt hoa thơm, cũng sẽ không thực sự ấm áp nếu ta giúp đỡ chỉ vì khao khát sự công nhận, bỏ mặc những cảm xúc, những niềm hạnh phúc khi lòng tốt của mình được trao đúng người và được nhận lại những gì mình xứng đáng.
Trên hành trình kiếm tìm hạnh phúc, nếu có sự tôn trọng, nhẫn nại, có sự lương thiện đối đáp những người cùng khổ, những người yếu thế hơn thì cuộc đời sẽ đầy ắp những trái tim ấm áp, những tình thương không vị kỉ. Nhưng, con người vẫn còn đang cuốn theo vòng đua không hồi kết của cuộc đời, họ “nhanh” hơn, và họ không còn đoái hoài đến những kiếp sống lầm than, dồn dập với hàng núi công việc và lợi ích về vật chất, lợi ích cho bản thân mình, họ dần thờ ơ trước nỗi đau, sự khó khăn và bất hạnh của người khác, đôi khi vô tình làm tổn thương đến những người có số phận bi thương hay mang đến một tình thương giả dối, vụ lợi.
Nhìn lại chính mình qua lời thơ của Trần Nhuận Minh, tôi như được thấy chính tôi ngày còn thơ bé, những ngày nắm tay mẹ đi qua con phố lao động nghèo trên nẻo đường Sài Gòn, ngồi nghe mẹ kể về những ngày túng thiếu, những ngày ba mẹ mới cưới còn phải dành dụm từng đồng. Ngày tôi còn bé, mẹ cũng dạy bảo tôi rằng hãy nhìn những kiếp người với đôi mắt cảm thông, và đối đãi với họ bằng sự tôn trọng, dù có thể mình chẳng nhận được gì nhiều về vật chất, nhưng mình trao đi là còn mãi, trao là yêu người, cũng là yêu mình, trân trọng mình, giúp người cũng là giúp mình, và những gì cho đi rồi cũng sẽ về lại bên ta. Giờ đây, khi đã gặp gỡ với nhiều những kiếp sống khác nhau, đã hiểu và đồng cảm với số phận những người bần cùng, tôi lại càng thấm thía về những gì mình đã được dạy bảo, lại càng xót xa cho những số phận không trọn vẹn, ngày ngày sống chỉ mong có được một bữa cơm bình yên. Dần dần, cảm xúc và bài học thuở ấy nuôi lớn trong tôi một đam mê, một tinh thần mà tôi nghĩ mình tự hào nhất, đó là sự xung kích, tình yêu đối với công việc làm công tác xã hội, tình nguyện giúp đỡ cộng đồng.
Nhà thơ Tố Hữu từng viết đôi dòng thơ rất đẹp:
“Nếu là con chim, chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”
Cuộc đời là một vũ trụ rộng lớn, mỗi một cá nhân cũng là một tiểu vũ trụ, luôn luôn xoay vần đổi thay, mọi sự rồi cũng sẽ theo thời gian mà cuốn trôi đi. Duy chỉ còn lại “Lòng tốt gửi vào thiên hạ” là còn mãi, yêu thương ta trao đi là yêu thương duy nhất mà ta giữ được. “Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”, và sống, là còn để trân trọng, sẻ chia và bao dung với từng kiếp người thống khổ. Hãy sống với tất cả niềm yêu, niềm tin, sống hết mình, để rồi họa nên người, họa nên người, vẽ lên trang đời kia những thiết tha thuần túy nhất:
“Lòng tốt gửi vào thiên hạ
Rồi sẽ gặt lấy trái ngọt hoa thơm”.
___________
(Nguồn: Cao Nhựt Thanh Hiền
Lớp 11A12, Trường THPT Bùi Thị Xuân)
------------------
st
LỚP VĂN THẦY ĐỨC
Đủ lửa sẽ cháy - Đủ đam mê sẽ thành công
Nghị lực - sự thôi thúc - kỷ luật
PHẦN 1: RÈN KỸ NĂNG VIẾT MỞ BÀI, KẾT BÀI NLVH
1. MỞ BÀI – NLVH
[Mẫu 1].
Có lần nhà văn Nguyễn Minh Châu đã từng nhận xét: “ Tôi thường hình dung thể loại truyện ngắn như một lát cắt giữa một thân cổ thụ, chỉ cần nhìn vào những đường vân trên cái khoanh gỗ tròn tròn kia dù trăm năm vẫn thấy cả một đời thảo mộc”. Nhà văn trên hành trình sáng tạo và khám phá thế giới đều muốn thâu tóm những khoảnh khắc cô đặc nhất mà khúc xạ thế giới dưới ngòi bút của mình. Vì lẽ đó, khi đọc truyện ngắn … của nhà văn .. mà ta thấy được bao nhiêu cái bộn bề của cuộc sống dồn nén trong đó. … Truyện không chỉ thành công trên phương diện nội dung mà còn rất độc đáo trong phương diện nghệ thuật.
[Mẫu 2].
Có người từng nói rằng: “Thơ là những gì làm bạn khóc, cười, đau khổ, câm lặng, làm ngón chân của bạn lấp lánh, làm cho bạn muốn làm mọi điều hoặc chỉ ngồi yên một chỗ. Khiến bạn cảm thấy rằng mình không còn cô độc trên thế giới rằng hạnh phúc, khổ đau của riêng mình sẽ mãi mãi được sẻ chia”. Quả thật, kể từ khi thơ ca xuất hiện, cái giọt tinh hoa của nhân loại ấy đã đem đến hơi thở ấm áp cho hành tinh của chúng ta. Sinh ra tự tâm hồn và trái tim của con người, thơ trở thành tri âm của bao thế hệ là tình yêu mong manh và bất diệt của người yêu văn chương. Thi phầm “..” của nhà thơ … là một bài thơ như thế. Bài thơ là …. Điều ấy, được bộc lộ rất rõ qua cấu tứ và hệ thống các hình ảnh thơ.
[Mẫu 3].
“Khúc ca văn chương mang một sức mạnh thật diệu kỳ, nó đi sâu vào tiềm thức, vào trái tim người đọc, để lại biết bao rung cảm, suy ngẫm về cuộc đời”.Giữa vườn hoa văn chương Việt Nam, một khúc ca thật đẹp, sự kết tinh của ngôn từ dưới ngòi bút tài hoa của tác giả A đã tạo nên tác phẩm B, người đọc không thể không ấn tượng với đoạn văn/đoạn thơ thể hiện … [Mẫu 4].
Puskin từng viết: “Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm. Cây cỏ sống được là nhờ ánh sáng, chim muông sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút”. Và nhà văn/nhà thơ A đã để tiếng lòng của mình cất lên qua tác phẩm
B. Đến với B, ta bắt gặp … (VĐNL) đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
[Mẫu 5].
Nếu tiểu thuyết là một chuyến du hành xa xôi, qua cánh rừng già thăm thẳm, đi giữa đồng hoang rộng lớn hoặc lang thang trong sa mạc mênh mông. Thì chuyện ngắn lại giống với một góc vườn sau nhà, nụ hoa mọc lên giữa um tùm cỏ dại, nơi hạt nắng sớm rắc lên vô số hạt bụi vàng li ti. Thoáng trong nắng mai là tiếng thở dài bật ra từ cơn mê tỉnh của tác giả …, những đau đáu về thời cuộc, những “đường vân trên khoang gỗ” in vết của con người mà “dù trăm năm vẫn thấy được cả đời thảo mộc”. Với những hiểu biết sâu sắc trong hành trình đi tìm con chữ, nhà văn … đã dốc lòng khắc họa lên một tác phẩm để đời. Để rồi từ trong trang văn (tác phẩm), người đọc có dịp được sống dậy những cảm xúc cuộn trào suối bao năm tháng, để cùng chiêm nghiệm, cảm khái trọn vẹn những giá trị nhân văn mà người nghệ sĩ gửi gắm đến cuộc đời.
[Mẫu 6].
Có những tác phẩm đã thuộc về quá khứ nhưng những gì mà nó để lại vẫn còn giá trị cho hiện tại và tương lai. Tác phẩm… của nhà văn/ nhà thơ… là một trường hợp như thế. Đọc tác phẩm, tôi thực sự ấn tượng với đoạn trích…..Đây cũng là đoạn trích thể hiện rõ…
[Mẫu 7].
Nếu Nguyễn Minh Châu cho rằng: “Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những con người bị cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường… Nhà văn tồn tại ở trên đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực” thì với tác phẩm…, nhà văn …đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh ấy. Đọc tác phẩm, đoạn trích…. đã để lại trong tôi những ấn tượng sâu đậm, khó quên. Đây cũng là đoạn trích thể hiện…..( đưa vấn đề nghị luận phụ trên đề vào. Ví dụ: phong cách nghệ thuật, cách nhìn, quan niệm về con người, …).
[Mẫu 8].
Không phải ngẫu nhiên mà Rasul Gamzatov đã từng tâm niệm rằng: “Thơ ca bắt nguồn từ những âm vang của tâm hồn”.Thật vậy, thi ca muôn đời là nơi bộc lộ những trở trăn, những nghĩ suy những thổn thức của trái tim người nghệ sĩ trước cuộc đời. Và thơ …(Tác giả)... cũng chính là những nỗi niềm chân thành của thi nhân. Đến với thế giới nghệ thuật của nhà thơ này, người đọc sẽ bắt gặp những xúc cảm đầy xúc động, để lại nhiều dư âm, dư ba qua thi phẩm mang tên “…..”.
[Mẫu 9].
Xantưkôp Sêđrin đã từng nói: “Nghệ thuật nằm ngoài quy luật của sự băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”. Vậy điều gì đã khiến các tác phẩm nghệ thuật bất tử? ở tài năng hay ở tấm lòng của người cầm bút? Phải chăng, văn chương muôn đời là nơi mà người nghệ sĩ đã mang hiện thực vào trang viết của mình bằng tất cả tấm chân tình mà ẩn sâu trong đó là những tư tưởng, thông điệp quý báu trong đời để gửi gắm đến độc giả. Điều đó đã khiến cho những tác phẩm văn chương mãi sống hoài, sống lâu trong lòng những người yêu nghệ thuật mãi tận về sau. Và ta không thể không nhắc đến …(Tác phẩm)…. của …(Tác giả)…. đã để lại trong ta nhiều dư âm, dư vang, dư ba, dư vị xúc cảm khôn nguôi.
[Mẫu 10].
Đã bao lần tôi băn khoăn tự hỏi: “Điều gì khiến mỗi tác phẩm mang hình hài một chiếc lá, thả mình theo dòng chảy miên viễn của thời gian? Một cốt truyện li kì hấp dẫn? Một vần thơ sâu thẳm tự tâm hồn? Văn học bật ra từ những cơn mê tỉnh của người nghệ sĩ, từ cõi lòng tinh tế đến nhạy cảm mong manh, để rồi nhìn thấu nỗi đau thực tại, để rồi một đời trăn trở, một đời băn khoăn”. Văn học vốn dĩ nặng nợ thế gian, cũng như nỗi niềm muôn đời của người nghệ sĩ đối với văn chương, để rồi từ đó anh cất lên những vấn thơ, những câu chữ say đắm lòng người. Đến với thế giới nghệ thuật của ...(Tác giả)..., ta sẽ được đắm mình trong thế giới nghệ thuật thấm đẫm suy tư qua tác phẩm mang tên "..."
[Mẫu 11].
Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn I.X Tuốc- ghê- nhép cho rằng: "Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác". Thật vậy, không một nhà văn, nhà thơ
nào mà không muốn khắc chạm dấu ấn riêng của mình vào tấm bia của thời gian. Và.(Tác giả). với sự tài hoa, tài trí và tận tâm với cuộc đời đã đem đến cho độc giả những trải nghiệm thẩm mĩ tuyệt vời thông qua ..(Tác phẩm).. đã để lại trong ta nhiều trăn trở, nghĩ suy.
[Mẫu 12].
Trong bài thơ “Nghĩ lại về Pau-xtốp-xki” – nhà thơ Bằng Việt từng viết: “Những trang sách suốt đời đi vẫn nhớ. Như đám mây ngũ sắc ngủ trên đầu”. Có những tác phẩm ra đời để rồi lãng quên ngay sau đó, nhưng có những tác phẩm lại như những dòng sông đỏ nặng phù sa in dấu ấn chạm khắc trong tâm khảm. Những tác phẩm ấy đã trờ thành “ những bài ca đi cùng năm tháng” và để lại trong tâm hồn bạn đọc những ấn tượng không bao giờ quên. Một trong số đó phải kể tới...
[Mẫu 13].
“Văn chương có loại đáng thờ và loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương, loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người". (Nguyễn Văn Siêu). Văn chương muôn đời luôn phải phục vụ con người, hướng con người tới những giá trị cao cả của cuộc sống. Và “ ...(Tác phẩm)...” của ...(Tác giả)... chính là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nền văn học nước nhà.
[Mẫu 14].
“Nhà văn tồn tại ở bên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho con người bị cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường. Những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đoạ đày ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời. Nhà văn tồn tại ở trên đời để bên vực cho những con người không có cái để bênh vực”
( Nguyễn Minh Châu). Bằng ngòi bút đậm tính nhân đạo cao cả, nhà văn… đã thay cho những số kiếp lầm than lên tiếng bênh vực cho những con người bị xã hội tha hoá, đẩy đến bước đường cùng thông qua tác phẩm mang tên "..."
[Mẫu 15].
Văn chương là người bạn chân thành, đằm thắm suốt đời đi theo bên con người, là cái thần của ngôn ngữ. Nó được chắp nhặt từ những “giọt rớt, giọt rơi của cung đàn người nghệ sĩ”. Từ những tí tách lắng đọng trong đôi mắt trong vắt tình người và là một nốt lặng giữa cuộc sống đầy xô bồ ngoài kia. Bắt nguồn từ những gì hết sức giản đơn nhưng ít ai biết rằng, để làm nên những áng văn chương chân chính, những truyện ngắn xúc tích và lắng sâu, người nghệ sĩ phải lăn lộn với cuộc đời, chắp nhặt từng hạt bụi quý giữa đất mẹ bao la. Và tác phẩm… của …(Tác giả)… chính là một truyện ngắn như thế.
[Mẫu 16].
Có ai yêu một loài hoa không sắc không hương? Có ai quyến luyến những vần thơ khô khan không cảm xúc? Văn chương phản ánh hiện thực nhưng nó không phải là một tấm hình khô cứng và vô hồn, mà đó là tiếng lòng thổn thức từ những câu chuyện của cuộc đời – câu chuyện được ngân vang trên ngọn đồi tuyết phủ trắng trời, thấp thoáng những đóa sơn trà e ấp trong làn sương giăng mờ ảo. Chính hiện thực cuộc sống luôn là cảm hứng cho sáng tác văn học, là cội nguồn gọi thức con chữ, là cầu nối tâm hồn đồng điệu của người nghệ sĩ với độc giả. Điều ấy đặc biệt được kết tinh rõ nét, đủ đầy qua ..(Tác phẩm).... của (Tác giả)...
[Mẫu 17].
Như con ong hút ngàn vạn nhụy hoa mới tạo thành được một giọt mật. Con trai chịu bao đau đớn ,xót lòng vì “bụi rậm biển khơi” để tạo nên viên ngọc ánh ngời. Sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ cũng là một công việc cực nhọc và vô cùng gian khổ. Một người nghệ nhân điêu khắc không thể cứ nhìn nguyên mẫu rồi mô phỏng lại trên chất liệu mình đã chọn hay họa sĩ cũng không chỉ quan sát đời sống đi rồi tái hiện lại bằng những đường nét màu sắc vô cảm, vô hồn và đặc biệt nhà văn càng không thể chỉ dùng những vốn ngôn ngữ của mình như một trò chơi “du hí” ghi lại những cảnh “mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông,…” mà họ phải là “người thư ký trung thành của thời đại”. Chính vì vậy,...(Tác giả) Đã đem đến cho
chúng ta một cảm nhận thẩm mĩ tuyệt vời thông qua ... (Tác phẩm)...
[Mẫu 18]. ( DÀNH CHO VĂN HỌC GIAI ĐOẠN (1930-1945)
Trong dòng người đi “ khai phá hiện thực “ thời kì 1930-1945, …(Tác giả ) như
một bông hoa ngát hương và bất tử . Khi cái tên …(Tác giả) bắt đầu chính thức bước vào
văn đàn với những tác phẩm hiện thực đầu tay tạo được tiếng vang thì những “ cây cao bóng cả” là bậc thầy truyện ngắn như Nguyễn Công Hoan với Bước đường cùng , Ngô Tất Tố với Tắt đèn , Vũ Trọng Phùng sắc sảo ,tài hoa với Số đỏ đã là những cái tên quen thuộc và
danh tiếng trong làng văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Tuy vậy , (Tác giả ) được
xem là viên gạch cuối cùng hoàn chỉnh cho thể loại truyện ngắn thời kì này . (Tác phẩm ) là một tác phẩm đặc sắc của ( Tác giả ) viết về đề tài Thành công của tác phẩm này một
phần nhờ ( VĐNL) của tác giả
→ Ưu tiên các tác phẩm truyện ngắn thời kì này , cần có sự thay đổi linh hoạt
[Mẫu 19]. Trước khi chết , vua phổ cẩm Moza nói rằng: ta tiêu biểu cho trật tự , người tiêu biểu cho cái đẹp , biết đâu hậu thế sẽ quên ta mà nhớ đến ngươi . Lời phát biểu của vua Phổ quả không sai . Những gì thuộc về cái đẹp , nghệ thuật đích thực sẽ trường tồn cùng thời gian cho dù qua bao sóng gió…..(Tác phẩm ) cùng với sự nghiệp văn chương đồ sộ
của……....( Tác giả) là một trong những thành tựu nghệ thuật mà người đời sau còn nhỡ
mái [ THÂN BÀI : K/Q TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM ]
[Mẫu 20]. ( DÀNH CHO THỂ LOẠI TRUYỆN THẦN THOẠI)
Niềm vui của nhà văn chân chính là niềm vui của người dẫn đường đến xử sở cái đẹp ( Pau-tốp-xki). Tác giả dân gian ngàn năm qua đã đưa ta đến với thế giới thần thoại đầy kì ảo , huyền diệu. Ở đó ta nhận ra những nỗ lực phi thường của con người buổi sơ khai trong việc lý giải sự cấu thành và kiến tạo thế giới . ( Tác phẩm ) ra đời vào thuở bình minh của loài người , đã làm tròn chức năng lí giải của một thần thoại suy nguyên , những cũng chiếm trọn niềm mến yêu của bạn đọc bao thế hệ vì sức hấp dẫn, lôi cuốn kì lạ
→ Linh hoạt sang thể loại cổ tích , ngụ ngôn , bằng cách thay thế tác dụng của thể loại
[Mẫu 21]. (DÀNH CHO DẠNG ĐỀ PHÂN TÍCH NHÂN VẬT)
“Đối tượng của văn học vốn là thân phận con người, nên chỉ có kẻ nào đọc và hiểu nó sẽ hóa thành không phải là một chuyên gia nghiên cứu văn học mà là một kẻ hiểu biết con người một cách sâu sắc”. ( Văn chương lâm nguy, Todorov).
Quả thực, con người luôn là nơi bắt đầu và cũng là nơi đi đến của văn học. Với mỗi thế giới khác nhau của mỗi một tác phẩm, người đọc lại có một thể nghiệm riêng về con người.
Và trong tác phẩm…….., nhà văn/nhà thơ đã dùng ngòi bút của mình để mang đến
những trang văn neo đậu mãi trong tâm hồn chúng ta về nhân vật…….
[Mẫu 22]. (DÀNH CHO THƠ)
“ Vạt áo triệu nhà thơ không bọc hết vàng mà đời rơi vãi , hãy nhặt lấy chữ của đời mà góp nên trang”
( Chế Lan Viên ) Văn học nói chung hay thi ca nói riêng đều bắt nguồn từ chính cuộc sống con người . Sự chuyển biến của đời, của người , chính là tiền đề cho sự ra đời của những tác phẩm văn học xuất sắc. Trong bài thơ ( Tên ..) của nhà thơ ( tên) , hình hài …..( nội dung bài thơ).
2. KẾT BÀI – NLVH
[Mẫu 1].
Những dòng văn của “Tác phẩm B” đã khép lại nhưng những dòng trăn trở suy nghĩ về triết lý mà “Nhà văn A” gửi gắm vẫn còn đó. Tôi bỗng chợt nhớ đến một câu nói của Đặng Tiến trong “Vũ trụ thơ”: “Nghệ thuật tạo vẻ đẹp cho dòng nước mắt và biến nỗi thống khổ của nhân loại thành tiếng hát vô biên”. Chính nghệ thuật chân chính là đôi cánh để đưa con người vượt qua khó khăn cách trở, là sự khai phá vẻ đẹp tiềm ẩn của những kiếp người không được yêu thương. Và “Nhà văn A” đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, anh lấy chất liệu từ hiện thực, biến nó thành thứ nghệ thuật cao cả mà ai đọc cũng đều ấn tượng và nhớ mãi, anh đã thành công thiên chức của một nhà văn chân chính.
[Mẫu 2].
Nhắm mắt lại nhưng bản thân tôi vẫn còn trăn trở về những dòng văn cuối của “Tác phẩm B”. Không hiểu sao, từng con chữ của “Nhà văn A” có sức mạnh diệu kì gì mà có thể khiến người đọc suy ngẫm đến như vậy? Phải chăng đó chính là khả năng khơi dậy của một tác phẩm chân chính, một tác phẩm gắn với hiện thực và quan niệm “nghệ thuật vị nhân sinh”. Chính sức mạnh ấy sẽ là sự kết nối giữa độc giả và nhà văn, giúp “Nhà văn A” cập bến cộng đồng độc giả với những lời phong tặng cao quý, với những danh xưng đầy sự tôn kính và trân trọng cùng những lời tụng ca cho đến mãi về sau.
[Mẫu 3].
Đã bao lần tôi băn khoăn tự hỏi: “Điều gì khiến mỗi tác phẩm mang hình hài một chiếc lá, thả mình theo dòng chảy miên viễn của thời gian? Một cốt truyện li kì hấp dẫn? Một vần thơ sâu thẳm tự tâm hồn?” Để rồi ngày hôm nay khi tìm đến với những trang văn của tác giả
…, tôi chợt hiểu rằng, dáng lá trao mình ấy chính là sáng tạo mới mẻ, độc đáo về cách nhìn, tình cảm của người nghệ sĩ trong tác phẩm vậy! Bằng những sáng tạo mới mẻ, tác giả … đã ghi dấu ấn đậm nét của mình trong tác phẩm …. Những nhân vật ấy sẽ mãi tỏa sáng trên văn đàn dân tộc.
[Mẫu 4].
Đến nay, [Tác phẩm] vẫn luôn là một trong những áng văn chương lỗi lạc của thời đại. Góp phần làm nên sự thành công ấy của tác phẩm chính là lối viết độc đáo của [Tác giả]. Viết về [Đề tài], một đề tài đã rất nhiều có cây đa cây đề, nhưng [Tác giả] vẫn ghi được dấu ấn riêng của mình trong kho tàng văn học nước nhà. Bởi lẽ, [Tác giả] có một phong cách nghệ thuật
độc đáo, một lối viết riêng biệt mà không ai có thể trộn lẫn. Như vậy, chỉ có nghiêm túc sáng tạo, phát triển chất riêng, nhà văn mới có thể đóng góp cho kho tàng văn học của dân tộc những áng văn giá trị.
[Mẫu 5].
Cuộc sống vẫn còn đó bao vẻ đẹp ta nâng niu, trân trọng. Những bức phù điêu với màu xanh công lý, những cánh bướm rực rỡ tô điểm cho đời, những áng vàng lá thu rơi, neo vào hồn người nhiều cảm xúc. Cũng như thế tác phẩm A của nhà văn B dẫu không có sẵn xanh sắc vàng nhưng vẫn mang trong mình sắc đẹp của cuộc đời và con người. Đó là cách tác giả B đã lấy được “huy chương vàng” trong sự nghiệp sáng tác của mình để trở nên bất tử giữa cuộc đời còn nhiều xáo trộn.
[Mẫu 6].
Xuân Diệu quan niệm: “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”. Tác giả A đã đem hiện thực ấy vào trong trang viết của mình một cách tự nhiên, đồng thời A cũng khiến trái tim người đọc tan chảy khi suy ngẫm về ( vấn đề nghị luận) của tác phẩm B. Quả thực văn học chân chính nằm ngoài sự băng hoại của thời gian nên tác phẩm B vẫn sáng ngời cho đến tận hôm nay và mãi mãi về sau”.
[Mẫu 7].
Khép lại những trang văn/trang thơ ấy, trong lòng bạn đọc vẫn bồi hồi bao cảm xúc. Tác giả A đã gieo vào lòng chúng ta bao cảm xúc dạt dào không chỉ cho hôm nay mà còn mãi mai sau về (vấn đề nghị luận). Chính điều đó đã tạo nên sức sống bất diệt cho tác phẩm, làm cho người đọc càng yêu thế giới văn học hơn.
[Mẫu 8].
Sáng tạo văn chương nghệ thuật trước hết là một hành động nhận thức về sự vật về con người, về đời sống xã hội và cả về chính bản thân mình nữa. Muốn sáng tạo trước hết phải nhận thức, phải hiểu biết. Bản thân sự nhận thức không phải là cái gì bẩm sinh hay huyền bí, nó có nguồn gốc từ thực tiễn, từ trong lao động sản xuất, từ trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên xã hội của con người. Bắc vốn sống phong phú sự am hiểu về bản sắc văn hóa dân tộc, nhà văn nhà thơ đã tạo nên những dòng bút đầy cái tôi nghệ thuật và cá tính sáng tạo qua tác phẩm…, tác phẩm đã cho thấy...
[Mẫu 9].
“Tác phẩm B” có lẽ chính là nét vẽ bích họa tuyệt vời nhất mà “Nhà văn A” đã phác họa lên trong sự nghiệp sáng tác của mình. Từng đường nét và gam màu trong bức tranh ấy rất tinh tế nhưng cũng vô cùng chân thực, nghệ sĩ đã đem hiện thực ấy vào trang viết một cách tự nhiên, khiến người đọc tan chảy mà cứ ngẫm về thông điệp mà nhà văn gửi gắm. “Tác phẩm B” xứng đáng là biểu tượng cho triết lí “văn học nằm ngoài sự băng hoại của thời gian” bởi những gì tác phẩm để lại cho hậu thế còn cao quý hơn cả một tác phẩm văn học bình thường có thể đem lại.
[Mẫu 10].
“Văn chương xưa nay được ví như bình rượu quý của thế gian. Và mỗi nhà văn được ví như là những nghệ nhân tinh chế hũ rượu văn chương ấy ,bằng những tinh hoa của nghệ thuật và tình cảm mãnh liệt của mình dành cho tác phẩm . Tác giả đã làm cho tác phẩm
thêm say đắm lòng người.” Truyện ngắn. “…” của “…” .thực sự là một "bình rượu tâm hồn" quý giá , và là nơi gửi gắm biết bao cái tâm, cái tài độc đáo để làm nên một tác phẩm bất hủ trong nền văn học Việt Nam. Chính vì vậy….
[Mẫu 11].
Bêlinxki quan niệm: “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó”. Mỗi tác phẩm như một nấc thang nâng đỡ bước chân người đọc đi đến phần người, đi đến những giá trị chân – thiện – mĩ của cuộc sống. Tác phẩm B nói chung và đoạn văn/ đoạn thơ trên nói riêng của tác giả A như một làn gió mang tới cho tâm hồn con người thứ mát lành của triết lí sống đáng quý. Gấp lại trang sách mà ngọn gió ấy vẫn không ngừng thổi muôn đời.
[Mẫu 12].
Đoạn thơ/ đoạn văn trên tiêu biểu cho tài năng và phong cách nghệ thuật của tác giả A . “Thời gian hủy hoại các lâu đài nhưng làm giàu những vần thơ” (Jorge Luis Borges). Một khoảnh khắc, ta bất chợt nhận ra, rằng thời gian vô tình nhất cũng trở nên dịu dàng khi đứng trước những vần thơ, câu viết. Năm tháng chảy trôi không khiến “B” rơi vào quên lãng, mà rơi vào khoảng trống trong trái tim và khối óc của con người, để người ta mãi nhớ, mãi trân trọng một tác phẩm để đời như thế.
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Category
Website
Address
Opening Hours
| Monday | 09:00 - 17:00 |
| Tuesday | 09:00 - 17:00 |
| Wednesday | 09:00 - 17:00 |
| Thursday | 09:00 - 17:00 |
| Friday | 09:00 - 17:00 |
| Saturday | 09:00 - 17:00 |