Nhận làm khóa luận, luận văn tốt nghiệp

Nhận làm khóa luận, luận văn tốt nghiệp Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Nhận làm khóa luận, luận văn tốt nghiệp, Educational consultant, Tầng 11 Chung cư VP6 Linh Đàm, Linh Đàm.

NHẬN HOÀN THIỆN BÁO CÁO TỐT NGHIỆP, KHÓA LUẬN ĐẠI HỌC, LUẬN VĂN CAO HỌC CÁC CHUYÊN NGÀNH LUẬT, KINH TẾ, XÃ HỘI, KHOA HỌC VÀ NGÔN NGỮ TRONG THỜI GIAN NGẮN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

Trong một đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH), trích nguồn là một công đoạn rất quan trọng nhằm bày tỏ sự tôn trọng của nh...
16/12/2020

Trong một đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH), trích nguồn là một công đoạn rất quan trọng nhằm bày tỏ sự tôn trọng của nhà nghiên cứu đối với tác giả của những đề tài đã được tham khảo, đồng thời thể hiện sự tìm tòi, học hỏi của người viết trong lĩnh vực nghiên cứu. Trích nguồn cũng là một tiêu chí đánh giá quan trọng đối với các đề tài tham gia cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học (SVNCKH). Sau đây các bạn hãy cùng Tuvanluanvan tìm hiểu phong cách trích nguồn Harvard, vốn ngày càng được sử dụng rộng rãi trong Quy chuẩn trình bày Báo cáo thực tập, Khóa luận tốt nghiệp, Luận văn Cao học ở nhiều trường Đại học ở Việt Nam hiện nay nhé.

I, Giới thiệu chung:

1, Khi nào cần phải trích nguồn?

Khi sử dụng ý tưởng từ tài liệu của người khác (Ví dụ: Bài báo, sách vở hoặc bài viết trên website), người viết cần phải dẫn nguồn và tác giả của công trình đó. Người viết cần phải trích nguồn trong trường hợp trích dẫn trực tiếp hoặc chuyển tải, tóm tắt ý tưởng của tác giả sang từ ngữ riêng của mình. (University of Leeds, n.d.)

2, Phong cách trích nguồn Harvard:

Phong cách trích nguồn Harvard (Harvard referencing style) là phong cách trích nguồn được sử dụng chính thức trong cuộc thi SVNCKH 2019. Đây là phong cách được công nhận rộng rãi trong giới học thuật, trong đó được sử dụng nhiều nhất ở Vương quốc Anh và Úc, và được khuyến khích sử dụng trong các môn nhân văn. (Cite This for Me, 2019)

Ngoài ra, phong cách trích nguồn Harvard còn có các “anh chị em” như phong cách APA, MLA, Vancouver, Chicago, … Mỗi phong cách được sử dụng cho các lĩnh vực khoa học khác nhau. Bạn đọc có thể tham khảo bảng so sánh giữa các phong cách trích nguồn tại đây: //www.duq.edu/assets/Documents/writing-center/_pdf/Citation%20Style%20Comparison%20Table%20March_2017.pdf

II, Cách trích nguồn Harvard:

Phong cách trích nguồn Harvard gồm 2 loại: Trích dẫn nguyên văn (In-text citation) và mục lục tham khảo (Reference List/ End-Text Citation/ Bibliography).

1, Trích dẫn nguyên văn (In-text Citation):

Trích dẫn nguyên văn được sử dụng khi trích dẫn trực tiếp hoặc diễn giải một nguồn thông tin. Loại trích dẫn này được ghi ngay trong bài viết.

Khi trích dẫn nguyên văn, người viết cần chỉ dẫn tên tác giả và năm xuất bản của nguồn tài liệu tham khảo trong ngoặc đơn. Từ chỉ dẫn này, người đọc có thể tìm lại theo trật tự bảng chữ cái nguồn đầy đủ của tài liệu chỉ dẫn trong phần danh mục tham khảo. (Đỗ và Nguyễn, 2006).

Ví dụ:

Larsen (1971) là người đầu tiên đưa ra lý thuyết này.

HOẶC

Lý thuyết này được đưa ra đầu tiên vào năm 1970 (Larsen 1971).

Số trang là rất cần thiết khi trích dẫn nguyên văn từ một tác phẩm, sử dụng dấu ngoặc kép đi kèm số trang. Trong trường hợp tác phẩm trích dẫn có độ dài đáng kể, số trang là vô cùng quan trọng để phục vụ cho người đọc tìm kiếm thông tin thuận lợi hơn. (Đỗ và Nguyễn, 2006).

Ví dụ:

Larsen (1971, p. 245) ghi chú ‘rất nhiều thực tế đã mất đi tính đúng đắn của

chúng trong trường hợp này’

HOẶC

‘Rất nhiều thực tế đã mất đi tính đúng đắn của chúng trong trường hợp này’

(Larsen 1971, p. 245).

Trong trường hợp có hai hoặc ba tác giả, tên các tác giả được liệt kê (Theo thứ tự được liệt kê trong tài liệu gốc), với “and” đứng trước tên tác giả cuối cùng.

Ví dụ:

During the mid-nineties research undertaken in Luton (Slater and Jones, 1996) showed that …

Further research (Green, Harris and Dunne, 1969) showed…

Trong trường hợp có từ bốn tác giả trở lên, chỉ ghi tên tác giả đầu tiên, sau tên tác giả đầu tiên là “et al.” (có nghĩa “và nhiều đồng tác giả khác”).

Ví dụ:

Green, et al. (1995) found that the majority …

HOẶC

Recent research (Green, et al., 1995) has found that the majority of …

Nếu trích dẫn nhiều tác phẩm tại một câu/ đoạn/ý trong bài viết, tên tác giả phải được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái, phân cách bởi dấu chấm phẩy, đặt tất cả trong ngoặc đơn.

Ví dụ:

Other studies of globalization focus on its cultural and human implications (Bauman 1998; Tomlinson 1999).

Đối với những tài liệu không có ngày tháng, ghi n.d:

Ví dụ:

Smith (n.d.) has written and demonstrated …

HOẶC:

Earlier research (Smith, n.d.) demonstrated that …

2, Danh mục tham khảo (Reference List/ End-Text Citation/ Bibliography):

Việc ghi danh mục tham khảo nhằm mục đích để người đọc có thể tự tìm đọc các tài liệu được trích dẫn.

a, Trích dẫn nguồn từ sách:

Cấu trúc của một danh mục tham khảo từ sách theo phong cách trích nguồn Harvard như sau:

Họ, Chữ cái đầu của tên. (Năm xuất bản). Tên tài liệu. Thứ tự tái bản. (Chỉ ghi số lần tái bản nếu không phải là lần in đầu tiên) Nơi xuất bản: Nhà xuất bản, Số trang.

Ví dụ:

Dahl, R. (2004). Charlie and the chocolate factory. 6th ed. New York: Knopf.

Vermaat, M., Sebok, S., Freund, S., Campbell, J. and Frydenberg, M. (2014). Discovering computers. Boston: Cengage Learning, pp.446-448.

b, Trích dẫn nguồn từ tạp chí chuyên ngành:

Cấu trúc của một danh mục tham khảo từ tạp chí chuyên ngành theo phong cách trích nguồn Harvard như sau:

Họ, Chữ cái đầu tiên của tên. (Năm xuất bản). Tên bài viết. Tên tạp chí, Số báo, Số trang.

Ví dụ:

Ross, N. (2015). On Truth Content and False Consciousness in Adorno’s Aesthetic Theory. Philosophy Today, 59(2), pp. 269-290.

Tương tự, đối với các bài viết chuyên ngành online, cấu trúc một danh mục trích dẫn như sau:

Họ, Chữ cái đầu tiên của tên. (Năm xuất bản). Tên bài viết. Tên tạp chí, Số báo, Số trang. Available at: URL [Accessed Day Mo. Year]

Ví dụ:

Raina, S. (2015). Establishing Correlation Between Genetics and Nonresponse. Journal of Postgraduate Medicine, [online] Volume 61(2), p. 148. Available at: //www.proquest.com/products-services/ProQuest-Research-Library.html [Accessed 8 Apr. 2015].

c, Trích dẫn nguồn từ Website:

Khi trích dẫn từ Website, sử dụng cấu trúc sau:

Họ, Chữ cái đầu của tên (Năm xuất bản). Tên bài viết. [online] Tên website. Available at: URL [Accessed Day Mo. Year].

Ví dụ:

Messer, L. (2015). ‘Fancy Nancy’ Optioned by Disney Junior. [online] ABC News. Available at: //abcnews.go.com/Entertainment/fancy-nancy-optioned-disney-junior-2017/story?id=29942496 #.VRWbWJwmbs0.twitter [Accessed 31 Mar. 2015].

Khi trích dẫn trừ bài viết trên Website mà không có tên tác giả, sử dụng cấu trúc sau:

Tên Website, (Năm xuất bản). Tên trang. [online] Available at: URL [Accessed Day Mo. Year].

Ví dụ:

Mms.com, (2015). M&M’S Official Website. [online] Available at: //www.mms.com/ [Accessed 20 Apr. 2015].

d, Trích dẫn nguồn từ E-book hoặc PDF:

Khi trích dẫn từ E-book hoặc tài liệu PDF, cần ghi số lần tái bản (cho dù có là lần tái bản đầu tiên), sau đó là loại nguồn (E-book hoặc PDF) trong ngoặc vuông (Ví dụ: [ebook] hoặc [pdf]).

Cấu trúc:

Họ, Chữ cái đầu của tên. (Năm xuất bản). Tên tài liệu. Số lần xuất bản. [format] Nơi xuất bản: Nhà xuất bản, số trang. Available at: URL [Truy cập Ngày Tháng. Năm].

Ví dụ:

Robin, J. (2014). A handbook for professional learning: research, resources, and strategies for implementation. 1st ed. [pdf] New York: NYC Department of Education. Available at //schools.nyc.gov/ [Accessed 14 Apr. 2015].

III, Một số công cụ dùng để trích nguồn:

Cite This For Me: //www.citethisforme.com/
Sử dụng công cụ trích dẫn trong văn bản Word: Sử dụng tab References trên thanh công cụ, sau đó lựa chọn phong cách trích dẫn và điền thêm các thông tin như hướng dẫn.
IV, Tài liệu đọc thêm:

Ngoài các loại tài liệu đã nói ở trên, còn rất nhiều quy tắc trích dẫn cho các loại tài liệu khác (Tư liệu hình ảnh, phim ảnh, bài phỏng vấn,…). Bạn đọc có thể tham khảo thêm từ các tài liệu sau:

Giới thiệu và hướng dẫn chỉ dẫn tham khảo theo phong cách Harvard: //ntu.edu.vn/Portals/73/Gioi%20thieu%20va%20huong%20dan%20chi%20dan%20tham%20khao%20theo%20phong%20cach%20Harvard.pdf
Guide to Harvard Style of Referencing: //libweb.anglia.ac.uk/referencing/files/Harvard_referencing_201718.pdf
Cite This For Me: Guide to Harvard Referencing: //www.citethisforme.com/harvard-referencing
V, Tài liệu tham khảo:

Cite This For Me. (2019). Save Time and Improve your Marks with CiteThisForMe, The No. 1 Citation Tool. [online] Available at: //www.citethisforme.com/guides [Accessed 1 Apr. 2019].
Cite This For Me. (2019). Save Time and Improve your Marks with CiteThisForMe, The No. 1 Citation Tool. [online] Available at: //www.citethisforme.com/harvard-referencing [Accessed 1 Apr. 2019].
Đỗ, Tường Vân. and Nguyễn, Mai Trang. (2006). Giới thiệu và hướng dẫn chỉ dẫn tham khảo theo phong cách Harvard. [ebook] Available at: //ntu.edu.vn/Portals/73/Gioi%20thieu%20va%20huong%20dan%20chi%20dan%20tham%20khao%20theo%20phong%20cach%20Harvard.pdf [Accessed 1 Apr. 2019].

15/10/2019

LÀM THẾ NÀO ĐỂ TÌM RA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU PHÙ HỢP (PHẦN 3/3/)

Trong số nhiều lí do dẫn đến tình trạng các sinh viên không tìm được đề tài ở phần 1, lí do phổ biến đó là càng đi sâu vào nghiên cứu thì càng thấy đề tài không khả thi. Trong trường hợp này, việc quyết định quá vội vàng một đề tài mà chưa có sự tìm hiểu kĩ lưỡng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên. Vậy đâu là những tiêu chí nghiên cứu cần chú ý khi lựa chọn 1 đề tài?

1. Tính khoa học
Đây có thể được coi là tiêu chí cơ bản nhất khi lựa chọn một đề tài nghiên cứu khoa học. Tính khoa học ở một đề tài nghiên cứu khoa học được thể hiện bằng việc đề tài phải được gắn với khung khổ lí thuyết và có cơ sở lí luận rõ ràng. Trong mỗi công trình nghiên cứu đều bắt buộc có 1 chương cơ sở lí luận. Chương này sẽ đề cập tất cả các nội dung về mặt lí thuyết của các nội dung cần thiết và liên quan đến đề tài.

Mục đích của chương này là xây dựng được một cơ sở lí luận vững chắc cho đề tài và lấy nội dung làm cơ sở cho các chương tiếp theo (xây dựng giả thuyết, mô hình, giải thích kết quả, đề xuất giải pháp, …) để đảm bảo các phần trong công trình nghiên cứu có sự logic, liền mạch, khoa học và thuyết phục. Vì vậy, một công trình được coi là một nghiên cứu khoa học phải đảm bảo xây dựng được một cơ sở lí luận vững chắc. Nếu đề tài của bạn không đáp ứng được yêu cầu này (không tìm được khung cơ sở lí luận liên quan) thì cần xem xét lại trước khi chốt đề tài để nghiên cứu sâu.

Trong trường hợp đề tài của bạn chưa được nghiên cứu tại Việt Nam, bạn cần đảm bảo tìm được các tài liệu nghiên cứu nước ngoài có cơ sở lí luận liên quan đến đề tài. Điều này rất phổ biến hiện nay khi sinh viên chúng ta đang sử dụng ngôn ngữ toàn cầu để hòa nhập với cả thế giới trong tất cả các lĩnh vực, chứ không chỉ trong hoạt động nghiên cứu khoa học.

2. Tính mới
Một công trình nghiên cứu khoa học bắt buộc phải đảm bảo yêu cầu này vì nghiên cứu khoa học chính là hành trình đi trả lời những câu hỏi và tìm ra những điều mới. Vì vậy, một sản phẩm nghiên cứu được thực hiện sau một công trình khác nhưng không có điểm gì mới thì không được coi là một sản phẩm nghiên cứu khoa học. Tính mới của một đề tài được thể hiện như thế nào?

Đề tài mới: Việc lựa chọn một đề tài mới (trong phạm vi lãnh thổ nhất định) mà chưa có (có ít) người thực hiện thể hiện rất rõ nét tính mới của đề tài bởi khi tiến hành một nghiên cứu mới, chắc chắn những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những kết quả nghiên cứu đầu tiên (trong phạm vi lãnh thổ nhất định). Đặc biệt, sản phẩm nghiên cứu những đề tài này thường được đánh giá cao cao vì giá trị của nghiên cứu mang lại nhiều hơn so với các sản phẩm nghiên cứu về một đề tài cũ. Kết quả tại các giải thưởng uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên tại Việt Nam cũng cho thấy các đề tài đạt giải cao đều là những đề tài rất mới và chưa có nhiều nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam.

Công cụ, kĩ thuật và tiến trình nghiên cứu mới: Nghiên cứu khoa học đòi hỏi tính mới rất cao, không chỉ là ở đề tài mà còn ở công cụ, kĩ thuật phục vụ nghiên cứu và tiến trình nghiên cứu mới. Việc người nghiên cứu cập nhật được những công cụ mới, kĩ thuật mới, tiến trình nghiên cứu mới để nghiên cứu cũng được đánh giá cao vì nó mang lại kết quả nghiên cứu chính xác hơn và giúp cho các nghiên cứu sau được học hỏi cách thức thực hiện nghiên cứu tốt hơn.

Ví dụ, trong một nghiên cứu trước về đề tài “Những tác động của hiệp định TPP đến ngành dệt may Việt Nam”, tác giả A đã chỉ ra được các ảnh hưởng mang tính định tính của hiệp định này vì tác giả dùng phương pháp nghiên cứu định tính. Tuy nhiên, tác giả B cũng thực hiện đề tài này sau đó, nhưng dùng phương pháp nghiên cứu định lượng và lượng hóa được mức độ ảnh hưởng của các kết quả mà tác giả A đã chỉ ra. Như vậy, trong trường hợp này, tính mới mà đề tài của tác giả B đã được thể hiện ra rất rõ khi sử dụng được phương pháp nghiên cứu mới, có tiến trình thực hiện mới và kết quả nghiên cứu mới (rõ ràng hơn) so với công trình của tác giả A.

Internet là công cụ đắc lực giúp bạn tìm ra những đề tài có tính mới

Khám phá ra những điều không ngờ tới (từ đó mở ra một hướng thay thế mà trước nay chưa ai từng thực hiện).

Tính mới trong trường hợp này được thể hiện ở việc tìm ra những điều mà những người nghiên cứu trước đây chưa từng nghĩ tới/tìm ra. Nếu bạn là người đầu tiên đưa ra một kết quả nghiên cứu khác với các kết quả trước đó về cùng 1 vấn đề và có lí giải thuyết phục, nghiên cứu của bạn sẽ mở ra một hướng mới mà trước đây những người nghiên cứu khác chưa từng thực hiện.

Sử dụng các dữ liệu mới (được thu thập mới): Việc sử dụng dữ liệu mới cũng thể hiện tính mới của đề tài, được thể hiện rất rõ với 2 loại nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng phổ biến:

Với các nghiên cứu liên quan đến kinh tế vĩ mô, việc thay mới các bộ dữ liệu cũ bằng các bộ dữ liệu mới giúp đưa ra những kết quả mới cập nhật thực tế hơn, giải thích được thực tế diễn ra đúng hơn và đưa ra dự báo cho tương lai tốt hơn.

Với các nghiên cứu mang tầm vi mô thường được nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) với những đối tượng và phạm vi giới hạn nhất định. Vì vậy, việc nghiên cứu tình huống với những đối tượng mới và phạm vi mới – sử dụng dữ liệu mới để chạy mô hình cũng sẽ mang lại những kết quả mới; giúp đưa ra kết quả nghiên cứu và đưa ra đề xuất giải pháp thích hợp cho trường hợp được nghiên cứu.

Đem lại các kết quả mới đối với hệ thống nghiên cứu hiện có.

Tính mới trong trường hợp này được thể hiện bằng việc nghiên cứu có những đóng góp mới đến hệ thống nghiên cứu của đề tài hiện tại. Ví dụ các nghiên cứu về đề tài “Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm trực tuyến của sinh viên” được thực hiện tại Việt Nam đã tìm ra được tổng cộng 6 yếu tố; tuy nhiên một nghiên cứu sau này tìm ra được 5 yếu tố (trong đó có 2 yếu tố chưa từng được phát hiện ra). Như vậy, với nghiên cứu này, tác giả đã tìm ra được 2 yếu tố mới và có thể đưa ra những khuyến nghị mới cho các đơn vị kinh doanh trực tuyến với đối tượng mục tiêu là sinh viên.

3. Tính khả thi
Nhắc tới tiêu chí này, chắc hẳn bạn đã thấy được tầm quan trọng của nó. Nếu đề tài không khả thi, chắc chắn nhóm nghiên cứu sẽ phải chuyển sang một đề tài nghiên cứu khác để tránh lãng phí thời gian cho 1 đề tài khó có thể thực hiện được. Vậy những đề tài nào khó có thể thực hiện được?

Không tiếp cận được nguồn tài liệu có cơ sở lí luận liên quan: Điều này có nghĩa là đề tài không đảm bảo được tính khoa học (đã được trình bày ở phần 1 phía trên), vì vậy không khả thi để thực hiện.

Không tiếp cận được nguồn dữ liệu muốn thu thập: Với các nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế bắt buộc phải có các nguồn dữ liệu dạng số để tăng tính thuyết phục cho kết quả nghiên cứu (với nghiên cứu định tính) và để phục vụ chạy mô hình nghiên cứu (với nghiên cứu định lượng). Vì vậy, nếu đề tài của nhóm bạn không có khả năng tiếp cận nguồn dữ liệu dạng số thì tính khả thi của đề tài sẽ ở mức rất thấp.

Các nhóm nghiên cứu cần hết sức chú ý về vấn đề này, để tránh lãng phí thời gian vào nghiên cứu cơ sở lí luận rồi sau đó mới thấy đề tài của mình không thể thực hiện được. Các trường hợp phổ biến thường rơi vào trường hợp này là các nghiên cứu cần sử dụng dữ liệu vĩ mô nhưng các nguồn dữ liệu này lại không được công bố công khai; hoặc các nghiên cứu cần thu thập dữ liệu thông quá hình thức khảo sát nhưng đối tượng được khảo sát lại không có khả năng tiếp cận/hoặc khả năng tiếp cận để lấy dữ liệu rất thấp (ví dụ thực hiện khảo sát với các CEO của các tập đoàn kinh doanh sản phẩm tiêu dùng nhanh tại Việt Nam; khảo sát quản lí cấp trung các doanh nghiệp vừa tại Việt Nam, khảo sát cán bộ cấp thành phố tại miền Bắc … là những khảo sát rất khó để thực hiện).

Tính khả thi của đề tài đóng vai trò quyết định khả năng một đề tài nghiên cứu có thể được hoàn thành hay không

Không có người hướng dẫn phù hợp

Nếu nhóm nghiên cứu thực hiện các nghiên cứu sử dụng mô hình quá phức tạp hay đề tài vượt quá tầm mà không có người hướng dẫn cũng sẽ ảnh hưởng đến tính khả thi của đề tài. Vì vậy, nếu nhóm nghiên cứu quyết định làm một nghiên cứu đòi hỏi một số yêu cầu cao như trên thì nên có giảng viên đúng chuyên môn hướng dẫn trong quá trình thực hiện. Vai trò của giảng viên hướng dẫn chính là việc định hướng và hướng dẫn sinh viên trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Nhiều trường hợp sinh viên chọn đề tài quá sức mà không tích cực giao tiếp với GVHD hoặc GVHD lại không mạnh về vấn đề nghiên cứu đó dẫn đến nhóm nghiên cứu bắt buộc phải thay đổi đề tài dù cho đã dồn không ít công sức. Vì vậy, các nhóm nghiên cứu nên khai thác tốt nguồn lực từ GVHD của mình và phải rất chủ động trong việc liên hệ các nguồn khác nếu cần hỗ trợ để thực hiện được công trình NCKH hiệu quả nhất.

4. Tính hấp dẫn
Đây cũng là tiêu chí quan trọng quyết định đến thành công của nghiên cứu. Chỉ khi thực sự làm điều mình thích thì chúng ta mới phát huy được tối đa tiềm năng trong mình và hoàn thành với chất lượng cao nhất. Chính vì vậy, các nhóm nghiên cứu hãy chủ động tìm tòi để lựa chọn được đề tài mình thực sự thích thú và muốn theo đuổi trên hành trình nghiên cứu khoa học trong năm học này. Hãy bắt đầu bằng việc xác định lĩnh vực mình quan tâm và thu hẹp đề tài rộng để tìm ra đề tài nghiên cứu.

Nguồn: Cộng đồng sinh viên kinh tế nghiên cứu khoa học (RCES)

15/10/2019

LÀM THẾ NÀO ĐỂ TÌM RA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU PHÙ HỢP? (Phần 2/3)

Việc tìm được đề tài luôn là một trong những khó khăn lớn nhất với những người làm nghiên cứu. Vì vậy, nếu bạn chưa tìm được đề tài không phải là vấn đề quá lớn bởi khó khăn trong việc này chỉ phụ thuộc vào 2 yếu tố duy nhất. Đó chính là bạn đã muốn làm và đã đọc nhiều tài liệu hay chưa mà thôi! Có rất nhiều sinh viên chưa đọc các tài liệu nghiên cứu nhưng đã mong muốn tìm được đề tài nghiên cứu. Điều đó dường như là không thể đạt được, đặc biệt với những sinh viên mới bắt tay thực hiện Nghiên cứu khoa học/Đề tài khóa luận/Luận văn. Vì vậy, cách mà sinh viên cần chú ý là:

1. Xác định lĩnh vực mình quan tâm
Bạn quan tâm về kinh tế vĩ mô, tài chính vi mô, quản trị doanh nghiệp, kinh tế thể chế hay kiểm toán, Marketing, …? Nghiên cứu khoa học là hành trình bạn đi trả lời những câu hỏi và tìm ra những kết quả mới, và việc đầu tiên bạn phải xác định đâu là lĩnh vực mình quan tâm để theo đuổi. Chúng ta làm gì cũng sẽ dễ dàng hơn nếu được làm những thứ mình thích, và khi nghiên cứu khoa học, bạn không bị gò bó vấn đề mình nghiên cứu.

Vì vậy, nếu bạn học Kế toán – Kiểm toán nhưng bạn thích lĩnh vực Tài chính thì việc lựa chọn đề tài nghiên cứu Tài chính là điều hoàn toàn có thể thực hiện. Bạn đã thấy nghiên cứu khoa học khác với việc học tập ở trên lớp? Mỗi thành viên trong nhóm nghiên cứu cần nhớ rằng khi nghiên cứu khoa học là khi bạn đang rất chủ động, vì vậy nếu nhóm bạn vẫn còn đang chần chừ và để thời gian qua đi có nghĩa là nhóm bạn vẫn chưa muốn thực hiện. Hãy xác định đâu là lĩnh vực mình quan tâm và chuyển qua bước thứ 2 nhé!

2. Giới hạn lĩnh vực mình quan tâm nhỏ hơn nữa (Thu hẹp đề tài rộng)
Trong một lĩnh vực có hàng ngàn vấn đề, tuy nhiên sẽ có những mảng vấn đề nhỏ trong một lĩnh vực lớn. Từ lĩnh vực rộng mình quan tâm, bạn hãy tìm hiểu xem đâu là những mảng vấn đề nhỏ hơn trong lĩnh vực/chủ đề rộng đó. Sau khi làm được việc này, hãy tiếp tục tìm hiểu sâu hơn nữa vào từng mảng vấn đề nhỏ hơn đó để hiểu hơn về chúng. Khi làm được tới đây, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu để theo đuổi chắc chắn đã dễ dàng hơn rất nhiều vì bạn đã thực hiện được việc “thu hẹp đề tài rộng” rồi đấy! Hãy cùng xem một ví dụ dưới đây để hình dung ra bước 2 dễ dàng hơn nhé:

Ví dụ bạn muốn nghiên cứu về lĩnh vực Quản trị kinh doanh, tuy nhiên lĩnh vực này có rất nhiều mảng vấn đề như Marketing, nhân sự, quản trị sản xuất, vận hành doanh nghiệp, … Điều bạn cần làm lúc này là tìm hiểu sâu hơn về từng mảng vấn đề trong lĩnh vực này. Giả sử trong số các mảng vấn đề trên bạn thích Marketing nhất, hãy đi tìm hiểu sâu hơn về nó trước nhé! Trong Marketing có rất nhiều “vấn đề con” như thương hiệu, truyền thông, 4P, nghiên cứu thị trường, … bạn hãy tiếp tục tìm hiểu sâu hơn từng vấn đề nhỏ trong mảng vấn đề này. Điều này cũng được thực hiện với các mảng vấn đề khác nếu cho tới khi bạn tìm được 1 “mảnh đất” mình thích và muốn thực sự khám phá những điều mới trên đây.

Xác định các vấn đề hẹp trong một lĩnh vực rộng để tìm ra đề tài

Khi tìm hiểu sâu hơn về những vấn đề này, bạn sẽ có thêm kiến thức nền về vấn đề, biết đâu là những vấn đề bạn thực sự thích và quá trình tìm kiếm được đề tài lúc này chắc chắn sẽ dễ dàng hơn so với việc để thời gian trôi đi trong tình trạng cả nhóm không chủ động. Tuy nhiên, nhiều khi việc này có thể sẽ mất rất nhiều thời gian để nhóm bạn tìm được một đề tài như mong đợi.

Mách nhỏ bạn: Trước khi đăng kí đề tài tại cấp khoa, nhóm bạn đã cần phải xác định được mảng vấn đề hẹp muốn nghiên cứu trong lĩnh vực mình lớn mà mình quan tâm. Lí do là khoa sẽ dựa trên đề tài đăng kí của nhóm để phân công giảng viên hướng dẫn đề tài phù hợp. Vì vậy, nếu ở thời điểm đăng kí đề tài, nếu nhóm bạn vẫn chưa tìm ra được mảng vấn đề hẹp “hứng thú” trong lĩnh vực lớn mình quan tâm thì sẽ gặp phải một số rủi ro ảnh hưởng đến kết sự hỗ trợ sau này của giảng viên hướng dẫn.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC VIỆC THU HẸP ĐỀ TÀI RỘNG?
Đó chính là ĐỌC !!! Và chắc chắn, đọc là việc không thể thiếu với mỗi người làm nghiên cứu. Tại sao lại là đọc?
Đọc để tìm hiểu về các mảng vấn đề hẹp hơn trong lĩnh vực bạn quan tâm; đọc để biết những người khác đã làm như thế nào; đọc để biết một vấn đề được triển khai ra sao; … Và chắc chắn, đọc để không bao giờ nói là “tìm mãi không ra đề tài”. Với vô số vấn đề đã được nghiên cứu, chắc chắn bạn sẽ tìm được những vấn đề bạn quan tâm và tìm ra những ý tưởng để thực hiện công trình nghiên cứu khoa học của mình. Vì vậy, nếu bạn không đọc nhiều các tài liệu về vấn đề mình quan tâm, sẽ rất khó để một ý tưởng khả thi bỗng dưng đến để bạn và các cộng sự nghiên cứu. Hãy bắt tay ngay thực hiện việc thu hẹp đề tài rộng để sớm tìm ra đề tài phù hợp bạn nhé!

Nguồn: Cộng đồng sinh viên kinh tế nghiên cứu khoa học (RCES)

01/09/2019

LÀM THẾ NÀO ĐỂ TÌM RA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC PHÙ HỢP (PHẦN 1/3)

Những tiêu chí mà các nhóm nghiên cứu cần chú ý khi lựa chọn 1 đề tài?

1. Tính khoa học
Đây có thể được coi là tiêu chí cơ bản nhất khi lựa chọn một đề tài NCKH. Tính khoa học ở một đề tài NCKH được thể hiện bằng việc đề tài phải được gắn với khung khổ lí thuyết và có cơ sở lí luận rõ ràng. Trong mỗi công trình nghiên cứu đều bắt buộc có 1 chương cơ sở lí luận. Chương này sẽ đề cập tất cả các nội dung về mặt lí thuyết của các nội dung cần thiết và liên quan đến đề tài.

Mục đích của chương này là xây dựng được một cơ sở lí luận vững chắc cho đề tài và lấy nội dung làm cơ sở cho các chương tiếp theo (xây dựng giả thuyết, mô hình, giải thích kết quả, đề xuất giải pháp, …) để đảm bảo các phần trong công trình nghiên cứu có sự logic, liền mạch, khoa học và thuyết phục. Vì vậy, một công trình được coi là một nghiên cứu khoa học phải đảm bảo xây dựng được một cơ sở lí luận vững chắc. Nếu đề tài của nhóm bạn không đáp ứng được yêu cầu này (không tìm được khung cơ sở lí luận liên quan) thì cần xem xét lại trước khi chốt đề tài để nghiên cứu sâu.

Trong trường hợp đề tài của nhóm bạn chưa được nghiên cứu tại Việt Nam, nhóm bạn cần đảm bảo tìm được các tài liệu nghiên cứu nước ngoài có cơ sở lí luận liên quan đến đề tài. Điều này rất phổ biến hiện nay khi sinh viên chúng ta đang sử dụng ngôn ngữ toàn cầu để hòa nhập với cả thế giới trong tất cả các lĩnh vực, chứ không chỉ trong hoạt động NCKH.

2. Tính mới
Một công trình nghiên cứu khoa học bắt buộc phải đảm bảo yêu cầu này vì nghiên cứu khoa học chính là hành trình đi trả lời những câu hỏi và tìm ra những điều mới. Vì vậy, một sản phẩm nghiên cứu được thực hiện sau một công trình khác nhưng không có điểm gì mới thì không được coi là một sản phẩm NCKH. Tính mới của một đề tài được thể hiện như thế nào?

Đề tài mới: Việc lựa chọn một đề tài mới (trong phạm vi lãnh thổ nhất định) mà chưa có (có ít) người thực hiện thể hiện rất rõ nét tính mới của đề tài bởi khi tiến hành một nghiên cứu mới, chắc chắn những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những kết quả nghiên cứu đầu tiên (trong phạm vi lãnh thổ nhất định). Đặc biệt, sản phẩm nghiên cứu những đề tài này thường được đánh giá cao cao vì giá trị của nghiên cứu mang lại nhiều hơn so với các sản phẩm nghiên cứu về một đề tài cũ. Kết quả tại các giải thưởng uy tín trong lĩnh vực NCKH dành cho sinh viên tại Việt Nam cũng cho thấy các đề tài đạt giải cao đều là những đề tài rất mới và chưa có nhiều nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam.

Công cụ, kĩ thuật và tiến trình nghiên cứu mới: Nghiên cứu khoa học đòi hỏi tính mới rất cao, không chỉ là ở đề tài mà còn ở công cụ, kĩ thuật phục vụ nghiên cứu và tiến trình nghiên cứu mới. Việc người nghiên cứu cập nhật được những công cụ mới, kĩ thuật mới, tiến trình nghiên cứu mới để nghiên cứu cũng được đánh giá cao vì nó mang lại kết quả nghiên cứu chính xác hơn và giúp cho các nghiên cứu sau được học hỏi cách thức thực hiện nghiên cứu tốt hơn.

Ví dụ, trong một nghiên cứu trước về đề tài “Những tác động của hiệp định TPP đến ngành dệt may Việt Nam”, tác giả A đã chỉ ra được các ảnh hưởng mang tính định tính của hiệp định này vì tác giả dùng phương pháp nghiên cứu định tính. Tuy nhiên, tác giả B cũng thực hiện đề tài này sau đó, nhưng dùng phương pháp nghiên cứu định lượng và lượng hóa được mức độ ảnh hưởng của các kết quả mà tác giả A đã chỉ ra. Như vậy, trong trường hợp này, tính mới mà đề tài của tác giả B đã được thể hiện ra rất rõ khi sử dụng được phương pháp nghiên cứu mới, có tiến trình thực hiện mới và kết quả nghiên cứu mới (rõ ràng hơn) so với công trình của tác giả A.

Internet là công cụ đắc lực giúp bạn tìm ra những đề tài có tính mới

Khám phá ra những điều không ngờ tới (từ đó mở ra một hướng thay thế mà trước nay chưa ai từng thực hiện).

Tính mới trong trường hợp này được thể hiện ở việc tìm ra những điều mà những người nghiên cứu trước đây chưa từng nghĩ tới/tìm ra. Nếu bạn là người đầu tiên đưa ra một kết quả nghiên cứu khác với các kết quả trước đó về cùng 1 vấn đề và có lí giải thuyết phục, nghiên cứu của bạn sẽ mở ra một hướng mới mà trước đây những người nghiên cứu khác chưa từng thực hiện.

Sử dụng các dữ liệu mới (được thu thập mới): Việc sử dụng dữ liệu mới cũng thể hiện tính mới của đề tài, được thể hiện rất rõ với 2 loại nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng phổ biến:

Với các nghiên cứu liên quan đến kinh tế vĩ mô, việc thay mới các bộ dữ liệu cũ bằng các bộ dữ liệu mới giúp đưa ra những kết quả mới cập nhật thực tế hơn, giải thích được thực tế diễn ra đúng hơn và đưa ra dự báo cho tương lai tốt hơn.

Với các nghiên cứu mang tầm vi mô thường được nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) với những đối tượng và phạm vi giới hạn nhất định. Vì vậy, việc nghiên cứu tình huống với những đối tượng mới và phạm vi mới – sử dụng dữ liệu mới để chạy mô hình cũng sẽ mang lại những kết quả mới; giúp đưa ra kết quả nghiên cứu và đưa ra đề xuất giải pháp thích hợp cho trường hợp được nghiên cứu.

Đem lại các kết quả mới đối với hệ thống nghiên cứu hiện có.

Tính mới trong trường hợp này được thể hiện bằng việc nghiên cứu có những đóng góp mới đến hệ thống nghiên cứu của đề tài hiện tại. Ví dụ các nghiên cứu về đề tài “Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm trực tuyến của sinh viên” được thực hiện tại Việt Nam đã tìm ra được tổng cộng 6 yếu tố; tuy nhiên một nghiên cứu sau này tìm ra được 5 yếu tố (trong đó có 2 yếu tố chưa từng được phát hiện ra). Như vậy, với nghiên cứu này, tác giả đã tìm ra được 2 yếu tố mới và có thể đưa ra những khuyến nghị mới cho các đơn vị kinh doanh trực tuyến với đối tượng mục tiêu là sinh viên.

3. Tính khả thi
Nhắc tới tiêu chí này, chắc hẳn bạn đã thấy được tầm quan trọng của nó. Nếu đề tài không khả thi, chắc chắn nhóm nghiên cứu sẽ phải chuyển sang một đề tài nghiên cứu khác để tránh lãng phí thời gian cho 1 đề tài khó có thể thực hiện được. Vậy những đề tài nào khó có thể thực hiện được?

Không tiếp cận được nguồn tài liệu có cơ sở lí luận liên quan: Điều này có nghĩa là đề tài không đảm bảo được tính khoa học (đã được trình bày ở phần 1 phía trên), vì vậy không khả thi để thực hiện.

Không tiếp cận được nguồn dữ liệu muốn thu thập: Với các nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế bắt buộc phải có các nguồn dữ liệu dạng số để tăng tính thuyết phục cho kết quả nghiên cứu (với nghiên cứu định tính) và để phục vụ chạy mô hình nghiên cứu (với nghiên cứu định lượng). Vì vậy, nếu đề tài của nhóm bạn không có khả năng tiếp cận nguồn dữ liệu dạng số thì tính khả thi của đề tài sẽ ở mức rất thấp.

Các nhóm nghiên cứu cần hết sức chú ý về vấn đề này, để tránh lãng phí thời gian vào nghiên cứu cơ sở lí luận rồi sau đó mới thấy đề tài của mình không thể thực hiện được. Các trường hợp phổ biến thường rơi vào trường hợp này là các nghiên cứu cần sử dụng dữ liệu vĩ mô nhưng các nguồn dữ liệu này lại không được công bố công khai; hoặc các nghiên cứu cần thu thập dữ liệu thông quá hình thức khảo sát nhưng đối tượng được khảo sát lại không có khả năng tiếp cận/hoặc khả năng tiếp cận để lấy dữ liệu rất thấp (ví dụ thực hiện khảo sát với các CEO của các tập đoàn kinh doanh sản phẩm tiêu dùng nhanh tại Việt Nam; khảo sát quản lí cấp trung các doanh nghiệp vừa tại Việt Nam, khảo sát cán bộ cấp thành phố tại miền Bắc … là những khảo sát rất khó để thực hiện).

Tính khả thi của đề tài đóng vai trò quyết định khả năng một đề tài nghiên cứu có thể được hoàn thành hay không

Không có người hướng dẫn phù hợp

Nếu nhóm nghiên cứu thực hiện các nghiên cứu sử dụng mô hình quá phức tạp hay đề tài vượt quá tầm mà không có người hướng dẫn cũng sẽ ảnh hưởng đến tính khả thi của đề tài. Vì vậy, nếu nhóm nghiên cứu quyết định làm một nghiên cứu đòi hỏi một số yêu cầu cao như trên thì nên có giảng viên đúng chuyên môn hướng dẫn trong quá trình thực hiện. Vai trò của giảng viên hướng dẫn chính là việc định hướng và hướng dẫn sinh viên trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Nhiều trường hợp sinh viên chọn đề tài quá sức mà không tích cực giao tiếp với GVHD hoặc GVHD lại không mạnh về vấn đề nghiên cứu đó dẫn đến nhóm nghiên cứu bắt buộc phải thay đổi đề tài dù cho đã dồn không ít công sức. Vì vậy, các nhóm nghiên cứu nên khai thác tốt nguồn lực từ GVHD của mình và phải rất chủ động trong việc liên hệ các nguồn khác nếu cần hỗ trợ để thực hiện được công trình NCKH hiệu quả nhất.

4. Tính hấp dẫn
Đây cũng là tiêu chí quan trọng quyết định đến thành công của nghiên cứu. Chỉ khi thực sự làm điều mình thích thì chúng ta mới phát huy được tối đa tiềm năng trong mình và hoàn thành với chất lượng cao nhất. Chính vì vậy, các nhóm nghiên cứu hãy chủ động tìm tòi để lựa chọn được đề tài mình thực sự thích thú và muốn theo đuổi trên hành trình NCKH trong năm học này. Hãy bắt đầu bằng việc xác định lĩnh vực mình quan tâm và thu hẹp đề tài rộng để tìm ra đề tài nghiên cứu.

Address

Tầng 11 Chung Cư VP6 Linh Đàm
Linh Đàm

Telephone

+8403687387999

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nhận làm khóa luận, luận văn tốt nghiệp posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to Nhận làm khóa luận, luận văn tốt nghiệp:

Shortcuts

Share