BEA.VN

BEA.VN Tuyển chọn những thảo dược tinh tuý của Việt Nam làm nên những sản phẩm ch?

Website học tiếng Anh trực tuyến http://bea.vn, tại đây bạn sẽ được rèn tất cả các kỹ năng tiếng Anh với những bài học vô cùng hiệu quả dưới sự chỉ dẫn của những giáo viên hàng đầu tiêu biểu như thầy Nguyễn Quốc Hùng M.A. Website còn cung cấp những bài hát và trò chơi tiếng Anh giúp bạn vừa học vừa giải trí. Ngoài ra kho tài liệu khổng lồ cũng đang chờ bạn khám phá và cùng chia sẻ kinh nghiệm học với cộng đồng BEA.VN ngày càng lớn mạnh.

Sử dụng Google Translate để học và làm việc bằng tiếng Anh trong doanh nghiệp:Ngày 12-9, Phòng Thương mại và Công nghiệp...
13/09/2014

Sử dụng Google Translate để học và làm việc bằng tiếng Anh trong doanh nghiệp:

Ngày 12-9, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức hội thảo “Bộ công cụ Google trong tác nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam” nhằm giúp các doanh nghiệp (DN) hiểu rõ hơn ý nghĩa và tác dụng của công cụ này trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Phát biểu tại hội thảo, ông
Đinh Đức Hùng, BEA.VN -thành viên đại diện Hiệp hội Internet Việt Nam đưa ra một ứng dụng công nghệ khác được cộng đồng DN ứng dụng nhiều trong công việc hiện nay như Google Translate. Theo ông Hùng, Google Translate cung cấp các công cụ chính như: Phiên dịch nội dung văn bản, trang web; dịch kết quả tìm kiếm... Theo đó, doanh nghiệp chỉ cần nhập text và URL là Google translate sẽ cung cấp bản dịch sang ngôn ngữ khác trong 60 ngôn ngữ. Kết quả không chính xác tuyệt đối nhưng có thể chấp nhận được.



http://nhandan.com.vn/congnghe/thong-tin-so/item/24290702-nang-cao-hieu-qua-cho-doanh-nghiep-bang-cong-cu-google.html

NDĐT - Ngày 12-9, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức hội thảo “Bộ công cụ Google trong tác nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam” nhằm giúp các doanh nghiệp (DN) hiểu rõ hơn ý nghĩa và tác dụng của công cụ này trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, quảng bá hình ảnh.

Định nghĩa mới về Social Media
30/07/2014

Định nghĩa mới về Social Media

Tổng thống Hàn giúp dân tự tin nói tiếng Anh như thế nàoTừng là nơi người dân ngại ngùng khi dùng tiếng Anh, chỉ trong t...
09/07/2014

Tổng thống Hàn giúp dân tự tin nói tiếng Anh như thế nào

Từng là nơi người dân ngại ngùng khi dùng tiếng Anh, chỉ trong thời gian ngắn, Hàn Quốc đã có bước tiến đáng kể nhờ những chính sách của tổng thống khiến việc học ngoại ngữ trở nên dễ dàng, chất lượng và ít tốn kém hơn.

Từ những năm 1950, khi đất nước Hàn Quốc còn đang bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, kinh tế trì trệ, chậm phát triển, thì những người biết sử dụng tiếng Anh đã có một lợi thế hơn hẳn so với mặt bằng chung. Cơ hội nghề nghiệp của họ vì thế cũng cao hơn. Họ có thể làm việc cho cơ quan quân đội Mỹ, đại sứ quán, các công ty nước ngoài… Những công việc này đem lại cho họ nguồn thu nhập bằng ngoại tệ, thoải mái trang trải và phát triển cuộc sống.

Từ hoàn cảnh đó, ý tưởng trở nên giàu có nhờ tiếng Anh được nảy sinh. 60 năm trôi qua, Hàn Quốc nay đã trở thành một quốc gia lớn mạnh trên nhiều mặt. Rất nhiều người dân Hàn vẫn kiên trì với ý tưởng của mình. Tuy nhiên, ý tưởng đó chỉ thực sự trở thành hiện thực và đơm hoa kết trái từ khi nữ tổng thống Park Geun-hye lên nắm quyền vào năm 2013.
Trong cuốn sách "The Local Constructions of a Global Language" (tạm dịch: Sự phát triển mang tính địa phương của một ngôn ngữ toàn cầu), tác giả Joseph Park đã viết về cách mà người Hàn Quốc tiếp nhận tiếng Anh. Nhìn chung, đó là thứ ngôn ngữ mà người Hàn từng phải rất khiêm tốn khi nói và luôn giữ ý nghĩ trong đầu rằng đây là tiếng của một nhóm người khác. Suy nghĩ này được dập tắt khi bà Park lên cầm quyền.
Bước đầu tiên trong công cuộc cải cách của mình, bà Park có một bài phát biểu hoàn toàn bằng tiếng Anh trong một sự kiện quốc tế. Đây là điều chưa từng có bởi các đời tổng thống trước, tiếng Hàn Quốc luôn được ưu tiên lựa chọn. Thêm vào đó, khả năng nói tiếng Anh của bà Park cũng rất trôi chảy và dễ hiểu. Với hành động này, bà đã đập tan định kiến tồn tại bấy lâu trong suy nghĩ người dân Hàn Quốc cho rằng tiếng Anh là của "những người khác", hay bạn phải tỏ ra thận trọng và rụt rè khi sử dụng tiếng Anh.

Với phong thái tự tin khi phát biểu bằng tiếng Anh trước dân chúng cùng những chính sách hợp lý trong cải cách giáo dục, Tổng thống Park Geun-hye đã thuận lợi hóa việc học và sử dụng tiếng Anh ở Hàn Quốc chỉ trong một thời gian ngắn. Với việc vị nữ tổng thống có thể đứng trước hàng triệu con người nói tiếng Anh tự tin và lưu loát, người dân Hàn Quốc đã lấy đó làm tấm gương và học theo một cách rất hiệu quả.
Trong quá khứ, họ thường phải xin lỗi trước khi nói tiếng Anh. Nay,mọi chuyện đã khác. Sự xấu hổ, ngượng ngùng đã được thay thế bởi phong thái tự tin. Tuy vẫn còn tồn tại một vài vấn đề như sự phụ thuộc quá mức vào điểm kiểm tra, kỹ năng viết còn kém hay sự ngại ngùng nói tiếng Anh nơi công cộng, những điều đó có thể sẽ được xóa bỏ trong một tương lai gần.
(theo The Diplomat)

08/07/2014

Lợi ích tuyệt vời của việc học ngoại ngữ

Ngoài những lợi ích hiện hữu ngay trước mắt, giới khoa học cũng đã bỏ khá nhiều công sức nghiên cứu về vấn đề này. Đa số đều chỉ ra tác động tích cực của học ngôn ngữ với sức khỏe, đặc biệt là não bộ.
-Duy trì sự linh hoạt của não bộ
Theo kết quả nghiên cứu đăng trên tạp chí Neuroscience, người biết ít nhất hai ngoại ngữ biểu hiện một sự nhạy bén trong tư duy. Việc học ngoại ngữ giúp duy trì trí tuệ minh mẫn khi về già. Điều này cũng đồng nghĩa với khả năng thích ứng cao với những tình huống mới mẻ và bất ngờ.
Tham gia nghiên cứu này, tình nguyện viên thực hiện các bài kiểm tra về sự linh hoạt nhận thức. Mặc dù cả những người chỉ nói được tiếng mẹ đẻ cũng có thể hoàn thành yêu cầu, nhưng người nói được song ngữ kết thúc nhiệm vụ nhanh hơn và những phần riêng biệt trên não bộ của họ cũng sử dụng ít năng lượng hơn cho công việc này. Sự sắc sảo này vẫn có được ngay cả khi bạn bắt đầu học khi đã có tuổi, theo một nghiên cứu mới công bố trên Annals of Neurology.
Nghiên cứu yêu cầu những người nói tiếng Anh bản xứ làm một bài kiểm tra trí tuệ khi 11 tuổi và tái thực hiện khi tình nguyện viên bước vào tuổi 70. Kết quả cho thấy, những người biết hai, ba ngôn ngữ hoặc nhiều hơn có khả năng nhận thức linh hoạt hơn, ở cả trí thông minh nói chung và khả năng đọc so với người chỉ biết một ngôn ngữ.
Còn theo nghiên cứu trên Psychological Sciencestudy, học thêm ngôn ngữ giúp chúng ta xử lý từ ngữ nhanh nhạy, đặc biệt với những từ có nghĩa tương đồng trong cả 2 ngôn ngữ. Bằng kỹ thuật đo chuyển động mắt, nghiên cứu phát hiện rằng người thông thạo hai ngoại ngữ dùng ít thời gian hơn khi đọc những từ cùng nguồn gốc, chẳng hạn “sport” trong tiếng Anh và tiếng Hà Lan. Điều này cho thấy não bộ cần ít thời gian hơn để “thông qua” các từ chung đặc điểm này.
-Biết ngoại ngữ còn giúp mọi người trì hoãn sự phát triển của Alzheimer, căn bệnh hiện vẫn chưa có cách chữa trị và có thể tấn công bất kỳ ai, trong khoảng 4 đến 5 năm. Phát hiện này được trình bày tại Hội nghị năm 2011 của Hiệp hội Mỹ vì sự tiến bộ khoa học.
Theo nhận định của các nhà nghiên cứu, thói quen suy nghĩ bằng ngôn ngữ khác cho phép con người đưa ra quyết định thận trọng và ít cảm tính hơn.
“Dường như tác động quan trọng nhất của tiếng nước ngoài chính là nó ít bị tác động bởi cảm xúc hơn so với tiếng mẹ đẻ”, nhà nghiên cứu Sayuri Hayakawa nhận định. Theo bà, một phản ứng cảm tính có thể dẫn tới những quyết định bị thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi hơn là hy vọng, khi đó sai lầm là điều khó tránh khỏi.
Theo Huffingtonpost

24/06/2014

Định kiến chết người khi học tiếng Anh

Trả lời chất vấn Quốc hội mới đây, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận đã nói: “cách dạy, cách học, cách thi ngoại ngữ của Việt Nam không giống ai trên thế giới”, “trò phát âm chuẩn, cô chê” và thế là có hàng loạt trao đổi liên quan đến việc dạy tiếng Anh, đặc biệt là phát âm, được chia sẻ.

Theo tôi chuyện học và dạy tiếng Anh của người Việt “không giống ai” vì chúng ta đang tồn tại một số định kiến rất sai lầm.

Định kiến lớn nhất đó là “cần phải phát âm chuẩn”. Đã bao năm nay, cả nền giáo dục tiếng Anh ở Việt Nam bị ám ảnh mê muội bởi cái chuẩn là chúng ta phải phát âm theo giọng Anh hoặc Mỹ. Chúng ta tự hào khi con mình nói giọng Anh - Mỹ và khoái trá chê con người khác; tán đồng khi con “cười sằng sặc” nói thầy cô phát âm không ”chuẩn”. Ám ảnh phải nói “chuẩn” đã gây ra không biết bao tốn kém.

Bạn đâu cần phải phát âm chuẩn giọng “Anh – Mỹ” thì mới làm được việc. Tại Mỹ hàng năm có hàng trăm nghìn người nhập cư đến từ khắp nơi trên thế giới, những nước mà tiếng Anh không phải tiếng mẹ đẻ, như Italy, Hà Lan, Đức, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam. Có hàng nghìn giáo sư, bác sĩ, luật gia xuất chúng, những nhà khoa học được giải Nobel, họ đều nói giọng không “chuẩn”. Bạn đã đến Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng Thế giới chưa? Bạn đã nghe hàng trăm giọng phát âm tiếng Anh, mỗi người một kiểu chưa? Ấy thế mà những nơi đó tập trung những kinh tế gia, nhà ngoại giao hàng đầu thế giới hàng ngày làm việc với nhau đấy.

Đã bao giờ bạn thấy một người Singapore, Philippine hay Ấn Độ xấu hổ và mặc cảm vì nói tiếng Anh không giống giọng “Anh Mỹ” chưa? Những đất nước đó có hàng triệu, hàng trăm triệu đến hàng tỷ dân nói và sử dụng tiếng Anh thành thạo mà chả ai qua tâm đến giọng của người kia giống Anh/Mỹ hay không? Cả thế giới kính trọng Lý Quang Diệu của Singapore, say mê những kiến giải kinh tế học của Amartya Sen (nhà kinh tế học Ấn Độ được giải Nobel), có ai quan tâm là họ nói tiếng Anh không giống giọng Anh - Mỹ không?

Mỗi đất nước, con người, dân tộc có một phương ngữ, chất giọng khác nhau. Tại sao lại cứ khăng khăng bắt người ta phải nói giọng Anh, giọng Mỹ. Ngay cả ở Mỹ, những người Mỹ da đen cũng có cách phát âm riêng mà không ai phán xét họ cả. Chúng ta chưa bao giờ bắt người Nghệ An, người miền Tây phải nói giọng Bắc thì tại sao lại cứ mong con mình phải nói như những ông Tây? Hãy tìm ở Việt Nam mà xem, có bao nhiêu người thực sự phát âm được giống giọng “Anh Mỹ”? Tôi dám đặt cược là không quá con số nghìn.

Ám ảnh phải nói “chuẩn” gây ra sự tốn kém rất lớn khi học tiếng Anh. Thay vì học với cô thầy giỏi người Việt, chúng ta tốn rất nhiều tiền học với “tây” và làm mọi cách để phát âm cho “chuẩn”. Đành rằng học với “tây” thì phản xạ sẽ tốt hơn, nhưng chi phí sẽ đắt gấp 2-3 lần. Và ám ảnh ấy sẽ mãi là một vòng luẩn quẩn vì chừng nào chúng ta không học bằng tiếng Anh liên tục từ nhỏ, không sống một thời gian dài tại Anh, Mỹ thì phần lớn chúng ta cũng không thể nào phát âm “chuẩn” được.

Tôi từng là một học sinh chuyên Anh tại một trường trung học nổi tiếng Hà Nội, đã học đại học tại Australia, làm tiến sĩ tại Mỹ, tham gia học, dạy và làm việc ở các môi trường nói tiếng Anh, tổng cộng hơn 24 năm sử dụng tiếng Anh. Đến bây giờ tôi vẫn không nói tiếng Anh có giọng Anh Mỹ và tôi cũng chưa bao giờ mặc cảm vì điều đó. Các bậc thầy và đồng nghiệp đáng kính của tôi đến từ Thổ Nhĩ Kỳ, Italy, Ấn Độ, Hàn Quốc, Rumani. Ai cũng nói tiếng Anh lơ lớ, thậm chí còn khó nghe. Nhưng họ đều rất thành công.

Một trong những thầy hướng dẫn luận văn tiến sĩ của tôi là một người Anh gốc Ấn. Bà sinh ra ở Anh, học đại học tại Cambridge và làm tiến sĩ tại Yale, những đại học lừng danh nhất trên thế giới, và làm ở Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Ấy thế mà bà vẫn nói tiếng Anh theo phương ngữ Ấn Độ, theo văn hóa Ấn Độ. Và bà rất tự hào về điều đó.

Mặc cảm nói tiếng Anh không “chuẩn” một phần phản ánh tư duy “nhược tiểu”, luôn coi mình không bằng với Tây Âu, cảm thấy mình thấp kém, lấy việc giống “tây” làm một phần thước đo giá trị. Tôi chắc không có đất nước nào ngoài Việt Nam lại có khái niệm tiếng “bồi”, nghĩa là tiếng Anh (của bồi bàn) không phát âm chuẩn, thiếu văn phạm.

Vậy phát âm “chuẩn Mỹ Anh” có tốt gì không? Xin thưa là không có bất cứ một lợi ích gì hơn so với việc phát âm để nghe được, hiểu được, dùng được cả. Còn cái hại của việc sợ phát âm không “chuẩn” sẽ là vô số: Nó sẽ dẫn đến mặc cảm, tự ti khi học tiếng Anh để rồi mãi không học được; nó sẽ dẫn đến việc tốn kém khi cứ đầu tư suốt vào việc kiếm thầy bản ngữ để học rồi ba bữa lại quên vì mình làm sao mà phát âm đúng giọng được. Nó cũng gieo vào đầu bao thế hệ tư duy “nhược tiểu” tự đánh giá mình kém cỏi bằng một giọng phát âm “chuẩn” hay không “chuẩn”.

Hãy cứ mạnh dạn nói tiếng Anh đi, tiếng “bồi” cũng được, rồi dần dần bạn sẽ thành thạo. Hãy cứ thoải mái giao tiếp bằng tiếng Anh đi dù bạn nói có không hay. Cô cứ mạnh dạn dạy học trò biết tiếng Anh đi, đừng “lăn tăn” mình nói chuẩn hay không chuẩn vì ít nhất các em sẽ được cô dạy một cách tự tin. Cha mẹ cũng hãy mạnh dạn tiết kiệm hàng triệu đồng một tháng thay vì tốn tiền cho con học tiếng Anh với tây đi, dành tiền đó đầu tư cho con học với thầy cô giỏi. Các cán bộ nhân viên cũng đừng mặc cảm là phải học cho đến khi nào nói “chuẩn” thì mới dám dùng.

Hãy tự tin lên, dù cho tiếng Anh chúng ta nói có là Ving-lish (Vietnamese English) đi chăng nữa, vì sẽ có một ngày chúng ta thực sự gia nhập thế giới nói tiếng Anh của một nước phát triển như Singapore nơi người ta nói tiếng Sing-lish (Singaporean English); của cường quốc quân sự, văn hóa như Ấn Độ nơi hơn một tỷ người nói tiếng Ing-lish (Indian English). Hãy cứ làm được như thế đã, trước khi mơ về cái gọi là tiếng “chuẩn”.

Nguyễn Quốc Toàn/ Internet

19/06/2014

Khi chính khách ngọng nghịu với ngoại ngữ

Đó là ngày 7/9/2013, thị trưởng thành phố Madrid, bà Ana Botella có một bài diễn văn trước Ủy ban Olympic quốc tế. Khi đó, thủ đô của Tây Ban Nha đang tranh quyền đăng cai Olympic 2020 cùng với Tokyo (Nhật Bản) và Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ).

Bà Ana Botella quyết định sử dụng tiếng Anh. Đó là một lựa chọn rất dễ hiểu: từ lâu, các nhà ngoại giao đã biết rằng việc sử dụng ngôn ngữ của người nghe, hoặc ngôn ngữ phổ thông nhất là tiếng Anh, trong giao tiếp, là một động thái thể hiện sự tôn trọng với đối phương. Thậm chí trong một vài trường hợp, nó có thể là hành vi mang tính biểu tượng. Khi Tổng thống Abdullah Gul của Thổ Nhĩ Kỳ phát biểu trước Đại hội đồng LHQ vào cùng năm đó bằng tiếng Anh, rất nhanh chóng các học giả đi đến kết luận rằng ông đang bày tỏ xu hướng ủng hộ nước Mỹ.

Lựa chọn của thị trưởng Ana Botella đúng đắn về mặt lý thuyết. Nhưng khổ nỗi, tiếng Anh của bà quá tệ.

Trong bài diễn văn, bà dùng những câu kiểu như “relaxing cup of café con leche”, trong đó thì “relaxing cup of café” là tiếng Anh sai ngữ pháp, ý nói thư giãn bên một tách cà phê, còn “con leche” lại là tiếng Tây Ban Nha tức là “có sữa”. Nói chung là thư giãn bên một tách cà phê sữa. Hoặc bà nói là “Madrid is fun” – hiểu là “Madrid rất vui nhộn”. Chữ “fun” ở đây chắc ý bà muốn nói đến sự náo nhiệt, nhưng nghĩa của nó là một sự vui nhộn không hoàn toàn nghiêm túc. Vốn từ vựng đã thế, phát âm thì hoàn toàn theo âm tiếng Tây Ban Nha.

Sau bài diễn văn đầy trọng thị của bà Ana Botella, ngay trong ngày hôm đó, như nhiều người đã biết, quyền đăng cai Olympic 2020 thuộc về Tokyo.

Thị trưởng Ana Botella sau đó một thời gian dài trở thành chủ đề chế giễu của dân Tây Ban Nha. Các trường tiếng Anh thì treo biển: “Hãy theo học chúng tôi để những thứ như cà phê con leche không tái diễn nữa”. Cư dân mạng thì chế bài diễn văn thành nhạc rap, hoặc tạo ra những bức ảnh chế mô tả cảnh bà Botella mắng chồng khi ông này hỏi bà có uống… cà phê không.

Cho đến hôm nay, thì chuyện đó có lẽ là tác hại (có thể đo lường) lớn nhất trong lịch sử ngoại giao của việc không thạo ngoại ngữ. Mất Olympic, là mất đi hàng trăm triệu euro lợi nhuận và có thể là hàng tỷ nếu xét đến lợi ích hình ảnh.

Việc sử dụng ngoại ngữ không phải là điều bắt buộc với các nhà ngoại giao. Hồi đầu tháng 6, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi khiến báo giới được một phen tốn giấy mực: khi Tổng thống Sri Lankan nói chuyện với ông bằng tiếng Anh, ông nghe được, không cần phiên dịch (tiếng Anh của ông Modi rất tốt). Nhưng khi trả lời, ông Modi lại nói bằng tiếng Hindi cho người phiên dịch. Tiếng mẹ đẻ, trong trường hợp này được cho là biểu hiện của sự tự tôn dân tộc.

Nhưng trong rất nhiều dịp, đó lại là cơ hội để bày tỏ sự tôn trọng với người nghe. Thậm chí, trong các sự kiện quốc tế, thì việc có tiếng Anh là bắt buộc.

Tiếc rằng thỉnh thoảng chúng ta vẫn phải “thết đãi” bạn bè quốc tế bằng một thứ tiếng Anh rất là “cà phê con leche”. Những ví dụ thì có rất nhiều, kể không hết. Mới đây nhất là tấm phông trong lễ ký kết với đối tác Hàn Quốc của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch hồi tháng 3 với đầy lỗi chính tả, “signing” (ký kết) thì thành “singning”, “speed dome” (xe đạp lòng chảo) thì thành “speedom”.

Khác với bà Ana Botella, chúng ta không để đo được ngay tác hại của những lần “nói ngọng” như thế.

Và không biết có phải vì ý thức được sự tai hại của việc ngọng nghịu với ngoại ngữ hay không, mà mới đây, dự thảo nghị định quy định tiêu chuẩn chức danh quản lý trong các cơ quan hành chính nhà nước có quy định “sử dụng được ít nhất một ngoại ngữ thông dụng” với các chức danh thứ trưởng, tổng cục trưởng, vụ trưởng cấp bộ.

Nếu dự thảo này được thông qua, thì đó là một trong những quy định thiết thực nhất trong bối cảnh nước ta đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế trong nhiều mặt.

Tất nhiên, trong hầu hết các trường hợp, việc sử dụng tiếng mẹ đẻ nên được khuyến khích.

Nhưng nếu đã rơi vào tình huống cần dùng đến ngoại ngữ, thì đó chắc chắn là một sự kiện rất quan trọng. Và đôi khi, chỉ một sai sót, chỉ một câu nói lẫn, một đoạn phát biểu ngọng nghịu, cái giá mà toàn bộ đất nước phải trả, có thể lớn hơn cả một kỳ Olympic.

Đức Hoàng/ Internet

06/06/2014

Tổng ôn ngữ pháp bài số 3: Động từ và câu (phần 2)

V. Động từ khuyết thiếu (Defective verbs)

Động từ khuyết thiếu (defective verbs còn được gọi là model verbs) là những động từ có chung một tính chất thiếu một số hình thức (forms) và có chung một số cách sử dụng khác biệt với các động từ còn lại.

VI. Động từ liên kết (linking verbs)

Động từ liên kết (linking verbs) là những động từ nối chủ từ (subject) với các thành phần khác của mệnh đề (clause). Những thành phần này mô tả một tính chất nào đó của chủ từ.

The soldiers stayed perfectly still.
Những động từ liên kết (linking verbs) chính là: be, appear, become, end (up), feel, get, go, grow, keep, look, prove, remain, seem, smell, sound, stay, taste, turn (out)…

Câu (Sentence)

Câu có thể có rất nhiều dạng, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng chúng ta có thể quy về ba dạng cơ bản sau:
-Thể xác định (Affirmative)
-Thể phủ định (Negative)
-Thể nghi vấn (Interrogative)

Trước hết chúng ta xét mẫu câu đơn giản nhất sau đây:

This is a book (Đây là một quyển sách )
Trong câu này ta thấy:
This có nghĩa là đây, cái này, đóng vai trò chủ từ trong câu.
Is là động từ to be dùng với số ít (vì ta đang nói đến một cái bàn) và có nghĩa là là.
A book: một quyển sách.
Đây là một câu xác định vì nó xác định cái ta đang nói đến là một quyển sách.
Vậy cấu trúc một câu xác định cơ bản là:

Subject + Verb + Complement
(Chủ từ) (Động từ) (Bổ ngữ)
Khi viết câu ở thể phủ định ta viết:
This is not a book
(Đây không phải là một quyển sách)

Câu này chỉ khác câu trên ở chỗ có thêm chữ not sau is.
Vậy cấu trúc của câu phủ định là:
Subject + Aux. Verb + not + Complement
(Chủ từ) (Trợ động từ) (Bổ ngữ)
is not còn được viết tắt thành isn’t /’iznt/
are not aren’t /a:nt/

Khi viết câu này ở thể nghi vấn ta viết:
Is this a book? (Đây có phải là một quyển sách không?)
Trong câu này vẫn không thêm chữ nào khác mà ta thấy chữ is được mang lên đầu câu.

Vậy qui tắc chung để chuyển thành câu nghi vấn là chuyển trợ động từ lên đầu câu.

Cấu trúc: Aux. Verb + Subject + Complement
Đây là dạng câu hỏi chỉ đòi hỏi trả lời Phải hay Không phải. Vì vậy để trả lời cho câu hỏi này chúng ta có thể dùng mẫu trả lời ngắn sau:
Yes, this is (Vâng phải)
No, this isn’t (Không, không phải)
Cấu trúc:
Yes, + Subject + Auxiliary Verb
No, + Subject + Auxiliary Verb + not.

This, That
-This có nghĩa là đây, cái này
-That có nghĩa là đó, kia, cái đó, cái kia

Khi dùng với số nhiều this, that được chuyển thành these, those.
Ví dụ:
-Those are tables (Đó là những cái bàn)
-Those aren’t tables (Đó không phải là những cái bàn)
-Are those tables? (Có phải đó là những cái bàn không?)
-Yes, those are.(Vâng, phải)
-No, those aren’t. (Không, không phải)

Vocabulary
and, or , but
Đây là các liên từ dùng để nối các từ hay các mệnh đề trong câu.
and có nghĩa là và
or có nghĩa là hoặc, hay là
but có nghĩa là nhưng, mà

Ví dụ:

-This is a table and that is a chair.
(Đây là một cái bàn và kia là một cái ghế)
-Is that a pen or a pencil?
(Đó là một cây bút mực hay bút chì?)
-This is a pen but that’s a pencil?
(Đây là cây viết mực nhưng kia là cây viết chì)

02/06/2014

Tổng ôn ngữ pháp bài số 3: Động từ và câu (phần 1)

Động từ trong tiếng Anh gọi là Verb.
Động từ là từ dùng để chỉ hoạt động.

Động từ là từ loại có rất nhiều biến thể. Động từ chưa biến thể gọi là động từ nguyên thể (Infinitive), các động từ nguyên thể thường được viết có "to" đi trước.

Ví dụ to go (đi), to work (làm việc),…

Động từ TO BE
Động từ to be có nghĩa là thì, là, ở.
Đi với chủ từ số ít to be biến thể thành is /iz/
Đi với chủ từ số nhiều to be biến thể thành are /a:/

To be còn là một trợ động từ (Auxiliary Verb). Các trợ động từ là những động từ giúp tạo thành các dạng khác nhau của động từ.Khi giữ vai trò trợ động từ, những động từ này không mang ý nghĩa rõ rệt.

I. Động từ được chia và không được chia (Finites and Non-finites)
1. Những hình thức nào của động từ có thể giúp hình thành một vị ngữ (predicate) thì gọi là hình thức được chia (finites).

He walked slowly in the yard.

Các hình thức được chia của động từ đều nằm trong các thì (tense).
Khi hình thành thì quá khứ đơn (simple past) và quá khứ phân từ (past participle) tất cả các động từ đều được xếp vào hai nhóm: nhóm động từ có qui tắc (regular verbs) và nhóm động từ bất qui tắc (irregular verbs).

2. Động từ không được chia gồm có các dạng nguyên mẫu (infinitive), V+ing (present participle và gerund) và quá khứ phân từ (past participle).

II. Thêm -ED và thêm -ING

1. Các trường hợp thêm -ED:
Những cách thức thêm -ED sau đây được dùng để thành lập thì Quá khứ đơn (Simple Past) và Quá khứ phân từ (Past Participle).

a) Thông thường: Thêm ED vào động từ nguyên mẫu.
to walk – They walked home.

b) Động từ tận cùng bằng E – chỉ thêm D.
to live – They lived in Paris for three years.

c) Động từ tận cùng bằng phụ âm + Y – Đổi Y thành IED.
to study – He studied in the lab at weekends.

d) Động từ một vần tận cùng bằng 1 nguyên âm + 1 phụ âm và động từ được nhấn mạnh (stressed) ở vần cuối (Gấp đôi phụ âm cuối trước khi thêm ED.
to stop – She stopped to buy some food.
to control (controlled

e) Một số động từ 2 vần, tận cùng bằng L, được nhấn mạnh (stressed) ở vần thứ nhất cũng gấp đôi phụ âm cuối trước khi thêm ED.

to travel – They travelled a lot.
Tương tự: to kidnap – kidnapped; to worship – worshipped.

2. Cách phát âm -ED tận cùng
-ED tận cùng được phát âm theo 3 cách khác nhau:
/ id / : sau các âm /t/ và /d/
to want – wanted; to decide – decided
/t/ : sau các phụ âm điếc (voiceless consonant sounds)
to ask – asked; to finish – finished
/d/ : sau các nguyên âm (vowel sounds) và phụ âm tỏ (voiced consonant sounds)

to answer – answered; to open – opened

3. Các trường hợp thêm ING

V.ing được hình thành để tạo nên hiện tại phân từ (present participle), trong các thì tiếp diễn (Continuous Tenses) và để tạo thành động danh từ (Gerund). Có 6 trường hợp thêm ING:

a) Thông thường: thêm -ING và cuối động từ nguyên mẫu.
to walk – walking; to do – doing

b) Động từ tận cùng bằng E – bỏ E trước khi thêm -ING
to live – living; to love – loving

c) Động từ tận cùng bằng -IE – đổi thành -Y trước khi thêm ING.
to die – dying; to lie – lying

d) Động từ một vần tận cùng bằng 1 nguyên âm + 1 phụ âm và động từ được nhấn mạnh (stressed) ở vần cuối – Gấp đôi phụ âm cuối trước khi thêm -ING.
to run – running; to cut – cutting

e) Một số động từ 2 vần, tận cùng bằng L, được nhấn mạnh (stressed) ở vần thứ nhất cũng gấp đôi phụ âm cuối trước khi thêm -ING.
to travel – travelling

f) Một số động từ có các thêm -ING đặc biệt để tránh nhầm lẫn:

to singe (cháy xém) – singeing
khác với to sing (hát) – singing
to dye (nhuộm) – dyeing
khác với to die (chết) – dying

III. Trợ động từ (Auxiliary verbs) và Động từ thường (Ordinary verbs)

1. Trợ động từ (auxiliary verbs) là những động từ giúp tạo thành các dạng khác nhau của động từ. Khi giữ vai trò trợ động từ, những động từ này không mang ý nghĩa rõ rệt. Tự bản thân các trợ động từ cũng có thể là những động từ chính (main verb) trong câu. Khi là động từ chính, nó có ý nghĩa riêng.

2. Có hai nhóm trợ động từ:

a) Trợ động từ cơ bản (primary auxiliary verbs)
Gồm có be, have, do.

b) Trợ động từ khuyết thiếu (modal auxiliary verbs)
Gồm có will, would, can, could, may, might, shall, should, must, ought to, used to, dare, need.

IV. Ngoại động từ (Transitive) và Nội động từ (Intransitive)

1. Ngoại động từ (Transitive verbs) là những động từ diễn tả một hành động tác động lên một túc từ nào đó. Nói tóm tắt, ngoại động từ luôn đòi hỏi phải có một túc từ.

I hit the ball.
He killed the lion.

2. Nội động từ (Intransitive verbs) là những động từ không chuyển hành động đến một túc từ nào. Nó không có túc từ. Túc từ duy nhất mà nội động từ có thể có là loại túc từ cùng gốc (cognate objects).

The sun rises.
He sings a song. She lived a happy life.

3. Một số động từ có thể được sử dụng vừa như một nội động từ vừa như một ngoại động từ. Khi ấy, có thể có một thay đổi chút ít trong ý nghĩa. Ví dụ:

intransitive
The bell rings.
The fire lit quickly
transitive
The waiter rings the bell.
He lit the fire

(mời xem tiếp phần 2)

28/05/2014

Tổng ôn ngữ pháp Bài số 2: Danh từ và Mạo từ

NOUNS AND ARTICLES

A.Danh từ (Nouns)

Bất kỳ ngôn ngữ nào khi phân tích văn phạm của nó đều phải nắm được các từ loại của nó và các biến thể của từ loại này. Trước hết chúng ta tìm hiểu về danh từ là từ loại quen thuộc nhất và đơn giản nhất trong tất cả các ngôn ngữ.

I. Định nghĩa và phân loại

Trong tiếng Anh danh từ gọi là Noun.

Danh từ là từ để gọi tên một người, một vật, một sự việc, một tình trạng hay một cảm xúc.

Danh từ có thể được chia thành hai loại chính:

1,Danh từ cụ thể (concrete nouns): chia làm hai loại

-Danh từ chung (common nouns): là danh từ dùng làm tên chung cho một loại như:
table (cái bàn), man (người đàn ông), wall (bức tường)…
-Danh từ riêng (proper nouns): là tên riêng như:
Peter, Jack, England…
2,Danh từ trừu tượng (abstract nouns):

happiness (sự hạnh phúc), beauty (vẻ đẹp), health (sức khỏe)…

II. Danh từ đếm được và không đếm được (countable and uncountable nouns)

Danh từ đếm được (Countable nouns): Một danh từ được xếp vào loại đếm được khi chúng ta có thể đếm trực tiếp người hay vật ấy. Phần lớn danh từ cụ thể đều thuộc vào loại đếm được.

Ví dụ: boy (cậu bé), apple (quả táo), book (quyển sách), tree (cây)…

Danh từ không đếm được (Uncountable nouns): Một danh từ được xếp vào loại không đếm được khi chúng ta không đếm trực tiếp người hay vật ấy. Muốn đếm, ta phải thông qua một đơn vị đo lường thích hợp. Phần lớn danh từ trừu tượng đều thuộc vào loại không đếm được.

Ví dụ: meat (thịt), ink (mực), chalk (phấn), water (nước)…

B.Số nhiều của danh từ

Một được xem là số ít (singular). Từ hai trở lên được xem là số nhiều (plural). Danh từ thay đổi theo số ít và số nhiều

I. Nguyên tắc đổi sang số nhiều

1. Thông thường danh từ lấy thêm S ở số nhiều.

Ví dụ: chair – chairs ; girl – girls ; dog – dogs

2. Những danh từ tận cùng bằng O, X, S, Z, CH, SH lấy thêm ES ở số nhiều.

Ví dụ: potato – potatoes ; box – boxes ; bus – buses ; buzz – buzzes ; watch – watches ; dish – dishes

Ngoại lệ:

a) Những danh từ tận cùng bằng nguyên âm + O chỉ lấy thêm S ở số nhiều.
Ví dụ: cuckoos, cameos, bamboos, curios, studios, radios

b) Những danh từ tận cùng bằng O nhưng có nguồn gốc không phải là tiếng Anh chỉ lấy thêm S ở số nhiều.

Ví dụ: pianos, photos, dynamo, magnetos, kilos, mementos, solos

3. Những danh từ tận cùng bằng phụ âm + Y thì chuyển Y thành I trước khi lấy thêm ES.

Ví dụ: lady – ladies ; story – stories

4. Những danh từ tận cùng bằng F hay FE thì chuyển thành VES ở số nhiều.

Ví dụ: leaf – leaves, knife – knives

Ngoại lệ:

a) Những danh từ sau chỉ thêm S ở số nhiều:

roofs : mái nhà gulfs : vịnh

cliffs : bờ đá dốc reefs : đá ngầm

proofs : bằng chứng chiefs : thủ lãnh

turfs : lớp đất mặt safes : tủ sắt

dwarfs : người lùn griefs : nỗi đau khổ

beliefs : niềm tin

b) Những danh từ sau đây có hai hình thức số nhiều:

scarfs, scarves : khăn quàng

wharfs, wharves : cầu tàu gỗ

staffs, staves : cán bộ

hoofs, hooves : móng guốc

II. Cách phát âm S tận cùng

S tận cùng (ending S) được phát âm như sau:

1. Được phát âm là /z/: khi đi sau các nguyên âm và các phụ âm tỏ (voiced consonants), cụ thể là các phụ âm sau: /b/, /d/, /g/, /v/, /T/, /m/, /n/, /N/, /l/, /r/.

Ví dụ: boys, lies, ways, pubs, words, pigs, loves, bathes, rooms, turns, things, walls, cars.

2. Được phát âm là /s/: khi đi sau các phụ âm điếc (voiceless consonants), cụ thể là các phụ âm sau: /f/, /k/, /p/, /t/ và /H/.

Ví dụ: laughs, walks, cups, cats, tenths.

3. Được phát âm là /iz/: khi đi sau một phụ âm rít (hissing consonants), cụ thể là các phụ âm sau: /z/, /s/, /dZ/, /tS/, /S/, /Z/.

Ví dụ: refuses, passes, judges, churches, garages, wishes.

III. Các trường hợp đặc biệt

1. Những danh từ sau đây có số nhiều đặc biệt:

man – men : đàn ông
woman – women : phụ nữ
child – children : trẻ con
tooth – teeth : cái răng
foot – feet : bàn chân
mouse – mice : chuột nhắt
goose – geese : con ngỗng
louse – lice : con rận

2. Những danh từ sau đây có hình thức số ít và số nhiều giống nhau:

deer : con nai
sheep : con cừu
swine : con heo

Trả lời với trích dẫn


Mạo từ (Article)

Trong tiếng Việt ta vẫn thường nói như: cái nón, chiếc nón, trong tiếng Anh những từ có ý nghĩa tương tự như cái và chiếc đó gọi là mạo từ (Article).

Tiếng Anh có các mạo từ: the /Tə/, a /ən/, an /ân/

Các danh từ thường có các mạo từ đi trước.
Ví dụ: the hat (cái nón), the house (cái nhà), a boy (một cậu bé)…

The gọi là mạo từ xác định (Definite Article), the đọc thành /Ti/ khi đứng trước một danh từ bắt đầu bằng một nguyên âm hay phụ âm điếc (phụ âm h thường là một phụ âm câm như hour (giờ) không đọc là /hau/ mà là /auə/).

Ví dụ: the hat /hæt/ nhưng the end /Ti end/
the house /Tə haus/ the hour /Ti auə/
A gọi là mạo từ không xác định hay bất định (Indefinite Article). A được đổi thành an khi đi trước một danh từ bắt đầu bằng một nguyên âm hay phụ âm điếc. Ví dụ:

a hat (một cái nón) nhưng an event (một sự kiện)
a boy (một cậu bé) nhưng an hour (một giờ đồng hồ)


a unit không phải an unit vì âm u được phát âm là /ju/ (đọc giống như /zu/).

Mạo từ bất định a được đọc là [ə] ở các âm yếu; đọc là [ei] trong các âm mạnh.
a/an đặt trước một danh từ số ít đếm được và được dùng trong những trường hợp sau đây:

1. Với ý nghĩa một người, một vật. một cái bất kỳ.

I have a sister and two brothers.
(Tôi có một người chị và hai người anh)

2. Trong các thành ngữ chỉ một sự đo lường.
He works forty-four hours a week.

(Anh ấy làm việc 44 giờ một tuần)
3. Trước các chữ dozen (chục), hundred (trăm), thousand (ngàn), million (triệu).
There are a dozen eggs in the fridge.
(Có một chục trứng trong tủ lạnh)

4. Trước các bổ ngữ từ (complement) số ít đếm được chỉ nghề nghiệp, thương mại, tôn giáo, giai cấp v…v..

George is an engineer.
(George là một kỹ sư)
The King made him a Lord.
(Nhà Vua phong cho ông ta làm Huân tước)

5. Trước một danh từ riêng khi đề cập đến nhân vật ấy như một cái tên bình thường.

A Mr. Johnson called to see you when you were out.
(Một Ô. Johnson nào đó đã gọi để gặp bạn khi bạn ra ngoài)

6. Với ý nghĩa cùng, giống (same) trong các câu tục ngữ, thành ngữ.

They were much of a size.
(Chúng cùng cở)

Birds of a feather flock together.
(Chim cùng loại lông hợp đàn với nhau – Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã)

7. Trước một ngữ đồng vị (appositive) khi từ này diễn tả một ý nghĩa không quen thuộc lắm.
He was born in Lowton, a small town in Lancashire.
(Ông ấy sinh tại Lowton, một thành phố nhỏ ở Lancashire)

8. Trong các câu cảm thán (exclamatory sentences) bắt đầu bằng ‘What’ và theo sau là một danh từ số ít đếm được.

What a boy!
(Một chàng trai tuyệt làm sao!)

9. Trong các thành ngữ sau (và các cấu trúc tương tự):

It’s a pity that… : Thật tiếc rằng…
to keep it a secret : giữ bí mật
as a rule : như một nguyên tắc
to be in a hurry : vội vã
to be in a good/bad temper : bình tĩnh/cáu kỉnh
all of a sudden : bất thình lình
to take an interest in : lấy làm hứng thú trong
to make a fool of oneself : xử sự một cách ngốc nghếch
to have a headache : nhức đầu
to have an opportunity to : có cơ hội
at a discount : giảm giá
on an average : tính trung bình
a short time ago : cách đây ít lâu

10. Trong các cấu trúc such a; quite a; many a; rather a.

I have had such a busy day.

II. Không sử dụng Mạo từ bất định

Mạo từ bất định không được sử dụng trong các trường hợp sau:

1. Trước một danh từ chỉ một tước hiệu, cấp bậc hay một chức danh chỉ có thể giữ bởi một người trong một thời điểm nào đó.

They made him King.
(Họ lập ông ta làm vua)

As Chairman of the Society, I call on Mr. Brown to speak.

(Trong tư cách là Chủ tịch Hiệp hội, tôi mời Ô.Brown đến nói chuyện)

2. Trước những danh từ không đếm được (uncountable nouns) nói chung.

He has bread and butter for breakfast.

(Anh ấy ăn sáng với bánh mì và bơ)

She bought beef and ham.

(Cô ấy mua thit bò và thịt heo)

3. Trước các danh từ chỉ các bữa ăn nói chung.

They often have lunch at 1 o’clock.

(Họ thường ăn trưa lúc một giờ)

Dinner will be served at 5 o’clock.

(Bữa ăn tối sẽ được dọn lúc 5 giờ)

4. Trước các danh từ chỉ một nơi công cộng để diễn tả những hành động thường được thực hiện tại nơi ấy.

He does to school in the morning.

(Anh ta đi học vào buổi sáng)

They go to market every day.

(Họ đi chợ mỗi ngày)

5. Trước các danh từ chỉ ngày, tháng, mùa.

Sunday is a holiday.

(Chủ nhật là một ngày lễ)

They often go there in summer.

(Họ thường đến đó vào mùa hè)

6. Sau động từ turn với nghĩa trở nên, trở thành.

He used to be a teacher till he turned writer.

(Ông ấy là một giáo viên trước khi trở thành nhà văn)

The được phát âm là [T] khi đi trước các nguyên âm, là [Ti] trước các nguyên âm, là [Ti:] khi được nhấn mạnh.

Mạo từ xác định the được dùng trước danh từ số ít lẫn số nhiều, cả đếm được cũng như không đếm được.

The thường được sử dụng trong các trường hợp sau đây:

1. Khi đi trước một danh từ chỉ người hay vật độc nhất.

The sun rises in the east.

2. Với ý nghĩa “người hay vật mà chúng ta vừa đề cập đến”

Once upon a time there was a little boy who lived in a cottage. The cottage was in the country and the boy had lived there all his life.

3. Trước tên các quốc gia ở dạng số nhiều hoặc các quốc gia là sự liên kết các đơn vị nhỏ.

The United States; The Netherlands

4. Trước các địa danh mà danh từ chung đã được hiểu ngầm.

The Sahara (desert); The Crimea (peninsula)

5. Trước danh từ riêng chỉ quần đảo, sông, rặng núi, đại dương.

The Thames; The Atlantic; The Bahamas

6. Trước một danh từ số ít đếm được dùng với ý nghĩa tổng quát để chỉ cả một chủng loại.

The horse is being replaced by the tractor.

7. Trước một danh từ chung có danh từ riêng theo sau xác định.

the planet Mars; the play ‘King LearÚ

8. Trước một tước hiệu gọi theo số thứ tự.

Queen Elizabeth II (Queen Elizabeth the Second)

9. Trong dạng so sánh nhất (superlatives) và trong dạng so sánh kép (double comparative)

This is the youngest student in my class.

The harder you work, the more you will be paid.

10. Trước một danh từ được một ngữ giới từ (prepositional phrase) bổ nghĩa.

the road to London; the battle of Trafalgar

11. Trước một danh từ được bổ nghĩa bằng một một mệnh đề quan hệ xác định (defining relative clause).

The man who helped you yesterday is not here.

12. Trước một tính từ để tạo thành một danh từ tập hợp (collective noun).

The rich should help the poor.

II. Không dùng mạo từ xác định “The”

The không được dùng trong các trường hợp sau đây:

1. Trước những danh từ trừu tượng dùng theo nghĩa tổng quát.

Life is very hard for some people (not: The life)

2. Trước các danh từ chỉ chất liệu dùng theo nghĩa tổng quát.

Butter is made from cream (not: The butter)

3. Trước tên các bữa ăn dùng theo nghĩa tổng quát.

Dinner is served at 6:00 (not: The dinner)

4. Trước các danh từ số nhiều dùng theo nghĩa tổng quát.

Books are my best friends. (not: The books)

5. Trước hầu hết các danh từ riêng.

He lived in London (not: The London)

6. Trước các từ Lake, Cape, Mount.

Lake Superior, Cape Cod, Mount Everest

7. Trước các tước hiệu có danh từ riêng theo sau.

King George, Professor Russell

8. Trước các danh từ chỉ ngôn ngữ.

Russian is more difficult than English. (not: The Russian)

9. Trước tên các mùa và các ngày lễ.

Winter came late that year (not: The winter)

10. Trước các danh từ chung chỉ một nơi công cộng nhằm diễn đạt ý nghĩa làm hành động thường xảy ra ở nơi ấy.

He goes to school in the morning (not: the school)

Nhưng: He goes to the school to meet his old teacher.

Trả lời với trích dẫn

Address

302 Đường Láng
Láng

Telephone

0913234999

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when BEA.VN posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category