21h hôm nay 100 đề thơ mìn sẽ upload nhé
Meki đi học Ngữ Văn
TỔNG HỢP ĐỀ NGỮ VĂN CHO CÁC BẠN ÔN THI VÀO 10
Hôm nay đọc được đặc tả đề văn của các em mà em shock quá cả nhà ạ :))))) thương 2k11
03/09/2025
Đọc hiểu - NLVH
Đề 11
TỔ QUỐC MÌNH TƯƠI ĐẸP LẮM EM ƠI!
Hùng Thụy
Tổ quốc mình tươi đẹp lắm em ơi!
Có cò bay thẳng cánh đến chân trời
Có đóa sen hông phấn tựa lông tơ
Có ong bướm bay lượn tận cao vời
Tổ quốc mình tươi đẹp lắm em ơi!
Có dòng sông nuôi sống cả đồng bằng
Có dãy núi chắn bao cuộc sóng gió
Có bờ biển đêm đến ánh hình trăng
Tổ quốc mình tươi đẹp lắm em ơi!
Có hoa văn người Tày như ngàn mây
Có người Hrê, Ba Na thắp lửa rực
Có đền chùa vàng óng người Chăm xây
Tổ quốc mình tươi đẹp lắm em ơi!
Có những người chiến sĩ vì hòa bình
Thế hệ ấy dải máu khắp quê hương
Để thắp sáng màu cờ đỏ quang vinh Tổ quốc mình tươi đẹp lắm con ơi!
Có nhà nông lao động trên cánh đồng
Có công nhân sửa chữa trong xí nghiệp
Có thương nhân vượt sóng khắp biển Đông
Tổ quốc mình tươi đẹp lắm em ơi!
Có thủy điện cõng điện quanh bản làng
Tàu metro nối quê lên thành thị
Sân vận động vọng lại mọi âm vang
Tổ quốc mình tươi đẹp lắm em ơi!
Một dân tộc đoàn kết và kiên cường
Dòng huyết mạch chảy qua bao thế hệ
Vẫn đỏ thẫm tinh thần của cha ông
Câu 1: Em hãy cho biết căn cứ để xác định thể thơ
Câu 2: Hãy chỉ ra những hình ảnh gắn liền với thiên nhiên quê hương trong bài thơ
Câu 3: Em hãy phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nổi bật nhất trong văn bản
Câu 4: Em hiểu thế nào về 2 câu thơ sau
Thế hệ ấy dải máu khắp quê hương
Để thắp sáng màu cờ đỏ quang vinh
Câu 5: Nhà thơ Hùng Thụy đã gửi gắm cho em thông điệp gì?
03/09/2025
Đọc hiểu - NLVH
Đề 10
BÀ MÁ HẬU GIANG
Tố Hữu
Má ngã xuống bên lò bếp đỏ
Thằng giặc kia đứng ngó trừng trừng
Má già nhắm mắt rưng rưng
“Các con ơi, ở trong rừng U Minh
Má có chết, một mình má chết
Cho các con trừ hết quân Tây!”
Thằng kia bỗng giặm gót giày
Đạp lên đầu má: “Mẹ mày, nói không?”
Lưỡi gươm lạnh toát kề hông
“Các con ơi! Má quyết không khai nào!”
Sức đâu như ngọn sóng trào
Má già đúng dậy, ngó vào thằng Tây
Má hét lớn: “Tụi bay đồ chó!
Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!
Tao già không sức cầm dao
Giết bay , có các con tao trăm vùng!
Con tao, gan dạ anh hùng
Như rừng dược mạnh, như rừng ngàn thơm!”
Đầu năm 1941
Câu 1: Văn bản trên sử dụng cách gieo vần gì?
Câu 2: Những từ ngữ, hình ảnh nào trong đoạn trích thể hiện tội ác của bọn giặc Tây?
Câu 3: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong 2 câu thơ sau:
Sức đâu như ngọn sóng trào
Má già đúng dậy, ngó vào thằng Tây
Câu 4: Nhận xét về tình cảm của tác giả dành cho bà má Hậu Giang
Câu 5: Từ nội dung đoạn trích, em hãy rút ra thông điệp về lẽ sống được đặt ra.
Câu 6: Viết đoạn văn phân tích tâm trạng nhân vật Bà Má Hậu Giang trong đoạn trích trên
03/09/2025
Đọc hiểu - NLVH
Đề 9
TỔ QUỐC NHÌN TỪ BIỂN
Nguyễn Việt Chiến
Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển
Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa
Ngàn năm trước con theo cha xuống biển
Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa
Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn
Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không.
(Trại viết Văn nghệ Quân đội, Hạ Long 4-2009.)
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ.
Câu 2: Nêu nội dung chính của đoạn thơ.
Câu 3: Xác định hai biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ? Nêu tác dụng?
Câu 4: Em hiểu như thế nào về câu thơ: "Các con nằm thao thức phía Trường Sơn”?
Câu 5: Từ đoạn thơ trên, em thấy mình cần có trách nhiệm gì với biển đảo quê hương?
Câu 6: Viết đoạn văn 200 chữ phân tích nội dung đoạn trích trên
03/09/2025
Đọc hiểu - NLV
Đề 8
MÙA THU CHO CON
Nguyễn Hạ Thu Sương - trích
(1) Nắng mùa thu như ươm vàng rót mật
Tiếng trống trường rộn rã bước chân vui
Niềm hân hoan trong ánh mắt rạng ngời
Con đến trường học bao điều mới lạ.
(2) Con hãy đi bằng đôi chân kiêu hãnh
Và con tim mang ánh lửa tự hào
Con hãy cháy hết mình cho hoài bão
Với niềm tin của tuổi trẻ tươi hồng.
(3) Con hãy nhớ giữa bộn bề cuộc sống
Nhận và cho, biết chia sẻ cho đời
Sống bao dung nhân ái với mọi người
Mở tấm lòng, tình yêu thương sẽ tới.
(4) Con hãy nhớ trong muôn triệu lí do
Không có lí do cho sự chùn bước
Không nặng trong tâm những điều mất được
Bởi quanh con đều là những yêu tin.
(Trích "Mùa thu cho con", Nguyễn Hạ Thu Sương, Văn học và tuổi trẻ, số tháng 9 năm 2023, NXB Giáo dục, tr.94)
Chú thích: Nguyễn Hạ Thu Sương là một nhà giáo yêu thích thơ ca. Bài thơ "Mùa thu cho con” là lời của người mẹ viết cho con của mình khi bước vào một năm học mới.
Câu 1. Xác định thể thơ trong đoạn thơ trên.
Câu 2. Nhân vật trữ tình trong đoạn thơ là ai?
Câu 3. Trình bày hiệu quả của biện pháp tu từ điệp ngữ trong khổ thơ sau:
"Con hãy đi bằng đôi chân kiêu hãnh
Và con tim mang ảnh lửa tự hào
Con hãy cháy hết mình cho hoài bão
Với niềm tin của tuổi trẻ tươi hồng."
Câu 4. Giải nghĩa từ "cháy" trong câu thơ: "Con hãy cháy hết mình cho hoài bão"
Câu 5. Qua đoạn thơ, em hãy rút ra thông điệp có ý nghĩa nhất với bản thân và giải thích vì sao (trình bảy khoảng 5-7 dòng).
Câu 6: Viết đoạn văn 200 chữ phân tích đoạn trích trên
Đọc hiểu - NLVH
Đề 7
BÁC ƠI
Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn rau, mấy gốc dừa!
Con lại lần theo lối sỏi quen
Đến bên thang gác, đứng nhìn lên
Chuông ôi chuông nhỏ còn reo nữa?
Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!
Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!
Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời
Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội
Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười!
Trái bưởi kia vàng ngọt với ai
Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài!
Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm
Quanh mặt hồ in mây trắng bay…
Ôi, phải chi lòng được thảnh thơi
Năm canh bớt nặng nỗi thương đời
Bác ơi, tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông, mọi kiếp người.
Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau
Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu
Chỉ lo muôn mối như lòng mẹ
Cho hôm nay và cho mai sau…
Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già.
Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha
Bác nghe từng bước trên tiền tuyến
Lắng mỗi tin mừng, tiếng súng xa.
Bác vui như ánh buổi bình minh
Vui mỗi mầm non, trái chín cành
Vui tiếng ca chung hoà bốn biển
Nâng niu tất cả, chỉ quên mình.
Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch, chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.
(Tố Hữu, Ra trận, NXB Văn học, 1972)
Câu 1: Xác định thể thơ của tác phẩm
Câu 2: Nêu nghệ thuật gieo vần trong 3 khổ thơ đầu
Câu 3: Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong 2 câu thơ sau:
Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…
Câu 4: Nêu cảm hứng chủ đạo trong đoạn trích
Câu 5: Bài thơ đã gợi cho em những suy nghĩ gì?
Câu 6: Viết đoạn văn phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong tác phẩm.
Đọc hiểu - NLVH
Đề 6
Mẹ và quả
– Nguyễn Khoa Điềm –
Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng.
Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.
Và chúng tôi một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ mong chờ được hái
Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.
Câu 1: Xác định nhân vật trữ tình trong tác phẩm
Câu 2: Từ “quả” trong những câu thơ nào mang ý nghĩa tượng trưng
Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ sau:
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng
Câu 4: Hình ảnh “Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi/ Mình vẫn còn một thứ quả non xanh?” gợi cho em suy nghĩ gì?
Câu 5: Anh/Chị có đồng ý với quan niệm: Tình yêu thương của mẹ chính là thứ tình cảm vô giá, vô điều kiện và là tình cảm cao đẹp nhất không? Vì sao?
Câu 6: Viết đoạn văn phân tích giá trị nghệ thuật trong tác phẩm
Đọc hiểu - NLVH
Đề 5
YÊU TIẾNG VIỆT
(Huy Cận)
Thưở nhỏ giờ anh học Quốc văn
Là thương vô hạn, tủi vô ngần
Tiếng là tiếng mẹ con ngồi học
Mà ở chương trình học ngoại văn ...
Buổi ấy anh yêu tiếng nước nhà
Là yêu hơi thở của ông cha
Yêu hồn nước đọng trong vần điệu
Yêu thiết tha mà lại xót xa
Tiếng Việt nuôi con như sữa mẹ
Nuôi con từng thớ thịt tâm hồn
Cuộc đời chỉ trở thành xương máu
Khi nói qua lời mẹ của con
Thế đó em ơi lớp tuổi xanh
Yêu văn dân tộc xốt tâm tình
Yêu cha ông bốn nghìn năm lẻ
Giữ nước mình lo giữ tiếng mình ...
(Tuyển tập Huy Cận tập 1, NXB Văn học, 1996)
* Chú thích:
- Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận (1919 - 2005) là một trong những nhà thơ tiêu biểu, thành công cả trong phong trào Thơ Mới và thơ ca Cách mạng, với một gia tài thi ca đồ sộ trong sự nghiệp sáng tác của mình như tập thơ "Lửa thiêng" (1940), "Trời mỗi ngày lại sáng" (1958), "Đất nở hoa" (1960), "Hạt lại gieo"(1984), "Ta về với biển" (1997), "Cha ông nghìn thuở" (2002) ... Nhà thơ lão thành cách mạng Cù Huy Cận đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Giải thường Hồ Chi Minh về Văn học nghệ thuật ...
(1) Quốc văn: tiếng nước nhà
(2) Ngoại văn: Sách báo tiếng nước ngoài
Câu 1 (0,5 điểm) Xác định thể thơ được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm) Tìm trong đoạn thơ trên những từ ngữ, hình ảnh miêu tả tâm trạng của nhân vật trữ tình
khi phải học ngoại văn.
Câu 3 (1,0 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong hai đòng thơ sau:
Tiếng Việt nuôi con như sữa mẹ
Nuôi con từng thớ thịt tâm hồn
Câu 4 (1,0 điểm) Em hãy nêu ý nghĩa lời nhắn nhủ của tác giả qua hai dòng thơ:
Yêu cha ông bốn nghìn năm lẻ
Giữ nước mình lo giữ tiếng mình
Câu 5 (1,0 điểm) Từ suy ngẫm của tác giả trong đoạn thơ, anh/chị hãy rút ra bài học về lẽ sống cho bản
thân.
Câu 6 (2,0 điểm) Viết đoạn văn 200 chữ phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của đoạn trích trên.
29/08/2025
ĐỌC HIỂU - NLVH
Đề 4
GẶT BUỔI CHIỀU
Mặt trời lặn, mây còn tươi ráng đỏ
Cò từng đàn bay trắng cánh đồng xa.
Tiếng diều sáo véo von cùng tiếng gió,
Hòa nhịp nhàng giọng ả hái dâu ca.
Trong đồng lúa tươi vàng bông rủ chín,
Những trai tơ từng bọn gặt vui cười.
Cùng trong lúc ông già che nón kín,
Ngồi đầu bờ hút thuốc thổi từng hơi.
Trên bờ đê, chỏm đầu phơ phất gió,
Lũ cu con mê mải chạy theo diều.
Bỏ mặc cả trâu bò nằm vệ cỏ,
Mát mơ màng trong gợn gió hiu hiu.
(Anh Thơ, Tuyển tập Anh Thơ, NXB Văn học, 1987)
Câu 1: Xác định thể thơ của văn bản
Câu 2: Hãy chỉ ra những hình ảnh mô tả cảnh thiên nhiên trong buổi gặt
Câu 3: Chỉ ra và nêu ý nghĩa của biện pháp tu từ liệt kê trong đoạn trích sau:
Mặt trời lặn, mây còn tươi ráng đỏ
Cò từng đàn bay trắng cánh đồng xa.
Tiếng diều sáo véo von cùng tiếng gió,
Hòa nhịp nhàng giọng ả hái dâu ca.
Câu 4: Con người nơi thôn quê xuất hiện trong trạng thái, cảm xúc như thế nào? Từ đó hãy chỉ ra tình cảm của tác giả khi ngắm nhìn con người và cuộc sống thôn quê ấy.
Câu 5: Là một học sinh trong thời kì hội nhập quốc tế sâu rộng, em sẽ làm gì để phát triển quê hương thêm giàu đẹp?
Câu 6: Viết đoạn văn (200 chữ) phân tích nội dung của tác phẩm.
28/08/2025
🩷MỞ ĐẦU VỀ TRUYỆN TRUYỀN KÌ 🩷
🍀 Truyền kì mạn lục - Nguyễn Dữ🍀
Truyện truyền kì xuất hiện từ cuối thời nhà Đường (Trung Quốc). Truyện truyền kì là truyện có sử dụng những yếu tố kì ảo (ma, tiên, quỷ, thần, thú nhân,…) để giải thích hay phản ảnh yếu tố hiện thực. Dần dần, thể loại này thu hút nhiều nhà văn ở Đại Việt thả hồn vào. Tiêu biểu nhất của truyền kì Việt là tác phẩm “Truyền kì mạn lục” của tác giả Nguyễn Dữ. Tập truyện sở hữu 20 chương là 20 câu chuyện hoàn toàn khác nhau. Tuy vậy, tất cả đều phản ánh một sự thật đời sống phũ phàng của một chính quyền phong kiến mục nát, quan lại tham ô, phụ nữ không được xem trọng cùng những nhà nho ẩn dật.
⭐️ XÃ HỘI MỤC NÁT TRONG TRUYỀN KÌ MẠN LỤC
Trong “Truyền kì mạn lục”, Nguyễn Dữ trực tiếp phê phán chính quyền rối bời thời phong kiến cổ hủ. Ông chán ghét những tên tham quan, kẻ sĩ như ông Hồ (Chuyện ở đền Hạng Vương), những kẻ gọi là quan nhưng vô dụng như quan lại huyện Đông Triều (Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều), những ông quan, ông tướng ham mê sắc dục như sư bác Vô Kỷ (Chuyện nghiệp oan của Đào thị), kẻ phung phí tiền bạc như ông quan họ Hồ (Chuyện đối đáp người tiều phu núi Na),… Nguyễn Dữ tận dụng chi tiết kì ảo để thể hiện một chính quyền mục nát, quan tham dân khổ, chịu nhiều áp bức.
⭐️ PHỤ NỮ TRONG TRUYỀN KÌ MẠN LỤC
Trong 20 chương của “Truyền kì mạn lục”, có tổng cộng 8 chương nó nhân vật trung tâm là người phụ nữ. Tác giả luôn dành sự quan tâm đặc biệt dành cho những nhân vật thuộc phái đẹp trong tác phẩm của mình. Nhìn chung, họ đều là những số phận đau khổ, bị chèn ép, bị đối xử tệ bạc trong thời kì “trọng nam khinh nữ” đặc sệt của chế độ phong kiến. Chúng ta có nàng Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương) dù hết lòng chăm sóc gia đình khi chồng ngoài chiến trận nhưng khi trở về, nàng lại bị mắc oan ức do thói ghen tuông mù quáng của chồng. Nàng bị ép đến mức phải gieo mình xuống dòng nước nhằm chứng minh sự trong sạch của bản thân. Chúng ta có nàng Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu) tài sắc vẹn toàn nhưng chỉ vì cái thói ham mê cờ bạc Trọng Quỳ mà bị bán cho người khác, bèn thủ tiết. Chúng ta có nàng Tuý Tiêu (Chuyện nàng Tuý Tiêu) bị Trị quốc họ Thân mang đi hầu hạ hắn. Ngoài ra còn Lệ Nương (Chuyện Lệ Nương), nàng Liễu, nàng Đào (Chuyện kì ngộ ở trại Tây), Đào Hàn Than (Chuyện nghiệp oan của Đào Thị), Thị Nghi (Chuyện yêu quái ở Xương Giang),… cũng là những số phận hẩm hiu. Bằng tài năng của mình, Nguyễn Dữ đã tạo nên những người con gái, dù ở hoàn cảnh khác nhau, nhưng đều chịu chung sự đàn áp của chế độ phong kiến mục nát.
⭐️ NHỮNG NHO SĨ ẨN DẬT TRONG TRUYỀN KÌ MẠN LỤC
Có một sự thật rằng Nguyễn Dữ cũng từng là quan chức Lê sơ và thời nhà Mạc. Tuy vậy, ông lại bỏ đi chốn xa hoa để sống một cuộc đời ẩn dật. Hình tượng này được ông đưa vào chính những tác phẩm của mình. Ta dễ dàng thấy hình bóng của Từ Thức (Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên) từ bỏ chức danh để lấy một nàng tiên làm vợ, của Tử Văn (Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên) không ham danh lợi mà chỉ mong muốn giúp dân trị tên giặc Minh khốn khiếp, của ông khách lạ và phu nhân mà Tử Biên gặp (Chuyện cuộc nói chuyện ở Kim Hoa) đối thơ và dặn chàng cách đối nhân xử thế. Những nhân vật ấy đại diện cho một nhóm người trí thức xưa: không muốn phục tùng chế độ cổ hủ, chọn rời bỏ danh chức để phục vụ dân tốt hơn.
Dù trải qua bao nhiêu năm tháng lịch sử, “Truyền kì mạn lục” vẫn là thiên cổ kì bút, luôn nhắc nhở chúng ta về cách đối nhân xử thế dù cho ở bất kì thời đại nào.
~Nguyễn Đàm Trung Dũng, Nguyễn Trần Minh Nam~
28/08/2025
Đọc hiểu - NLVH
Đề 3
*Chú ý đọc lược dẫn và chú thích nhaaa
NGÓNG NGƯỜI CHÂN MÂY
Trích “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn; dịch: Đoàn Thị Điểm
Lược dẫn:
Chinh phụ ngâm có hình thức là một lời độc thoại nội tâm mà vai chính, cũng là vai duy nhất đứng ra độc thoại trong truyện là một người vợ có chồng tham gia cuộc chiến do triều đình phong kiến chủ xướng, kể về nỗi khổ, nỗi cô đơn buồn tủi phải xa chồng. Tác phẩm mở đầu với khung cảnh của cuộc chiến tranh khốc liệt và nhà vua truyền hịch kêu gọi mọi người tham gia chiến cuộc. Trong bối cảnh này, nàng chinh phụ hình dung cảnh chồng nàng lên đường phò vua giúp nước, ra đi với quyết tâm giành hàng loạt thành trì dâng vua, hùng dũng trong chiếc chiến bào thắm đỏ và cưỡi con ngựa sắc trắng như tuyết.
Cuộc tiễn đưa lưu luyến kết thúc, người chinh phụ trở về khuê phòng và tưởng tượng cảnh sống của chồng nơi chiến địa. Những cảm xúc về một hình ảnh “lẫm liệt” của chồng phút chia ly đã dần mờ nhòe, thay thế vào đó là nỗi lo sợ khủng khiếp cho số phận của chồng giữa chiến trường ác liệt, đầy oan hồn tử khí, và niềm đau khổ khôn nguôi về thân phận đơn chiếc của bản thân nàng.
Chồng quá hạn không về, cũng không có tin tức gì, và người chinh phụ đành phải tính thời gian bằng chu kỳ quyên hót, đào nở, sen tàn. Cuối cùng, chán chường và tuyệt vọng, người chinh phụ không còn muốn làm việc, biếng lơi trang điểm, ngày đêm khẳn cầu mong được sống hạnh phúc cùng chồng.
Kết thúc ngâm, người chinh phụ hình dung ngày chồng nàng chiến thắng trở về giữa bóng cờ và tiếng hát khải hoàn, được nhà vua ban thường và cùng nàng sống hạnh phúc trong yên ả, thanh bình.
Đoạn trích sau đây nằm ở phần gần cuối tác phẩm:
Non kì(1) quạnh quê trăng treo,
Bến Phì(2) gió thổi đìu hiu mấy gò.
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phụ trăng dõi dõi soi.
Chinh phu tử sĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt(3) nào ai gọi hồn?
Dấu binh lửa nước non như cũ,
Kẻ hành quân qua đó chạnh thương.
Phận trai già ruổi chiến trường,
Chàng Siêu(4) tíc đã điểm sương mới về.
Tưởng chàng trải nhiều bể nắng nỏ,
Ba thước gươm một cỗ nhung yên.
Xông pha gió bãi trăng ngàn,
Tên reo(5) đầu ngựa giáo dan(6) mặt thành.
Áng công danh trăn đường rộn rã,
Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi.
Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai,
Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây.
Trong cửa này đã dành phận thiếp,
Ngoài mây kia há kiếp chàng vay(7)?
Những mong cá nước vui vầy,
Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.
Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ,
Chàng há từng học lũ vương tôn.( 8 )
Cớ sao cách trở nước non,
Khiến người thôi sớm thì hôm những sầu?
Trang phong lưu đang chừng niên thiếu,
Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên.
Nỡ sao đôi lứa thiếu niên,
Quan san để cách hàn huyên(9) cho dành!
Thuở làm hành oanh chưa bén liễu,
Hỏi ngày về ước nèo quyên ca.
Nay quyên đã giục oanh già,
Ý nhi(10) lại gáy trước nhà líu lo.
(Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm, NXB Văn học, 2007)
Chú thích
(1) Non Kì (Kì Sơn): Núi Kì Liên, đời Hán, Hoắc Khứu Bệnh đanh rợ Hung Nô ở đây
(2) Bến Phì (Phì Thủy): tên sông, Bồ Kiền nước Tần đem hàng trăm vạn quân đánh Tấn ở sông này, thua trận, quân sĩ mười phần chết hết tám chín, thây đắp thành gò
(3) Mạc mặt: vẽ tra nét mặt (“đan thanh” (đan:sắc đỏ, thanh: sắc xanh))
(4) Ban Siêu: danh tướng thời Hán, theo việc binh nhưng ra xứ Tây Vực ở 31 năm, lập nhiều công lớn, khi về đã quá 80 tuổi
(5) Tên reo đầu ngựa: (minh: kêu; đích: mũi tên bịt sắt) tên nỏ bịt satwsm bắn đi vang ra tiếng
(6) Giáo đan (duyên can): (duyên: leo; can: cán cây giáo) leo ngọn giáo mà lên mặt thành
(7) Vay: tiếng đệm của câu than
(8 ) Vương tôn: con nhà giàu, ưa đi chơi mà không đoái hoài đến gia đình
(9) Quan san, hàn huyên: ý nói cách trở, không biết tin tức của nhau
(10) Ý nhi: chim én thường làm tổ trong mái nhà
Thực hiện những yêu cầu sau:
Câu 1: Xác định thể thơ của đoạn trích trên
Câu 2: Đoạn trích là cảm xúc, tâm trạng của ai
Câu 3: Phân tích nghệ thuật của việc sử dụng những điền tích, điển cổ trong đoạn trích
Câu 4: Người chinh phụ khát khao điều gì? Vì sao?
Câu 5: Sau khi đọc văn bản, tác giả đã thúc đẩy tình cảm gì trong em?
Câu 6: Viết đoạn văn (200 chữ) phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong đoạn trích
Click here to claim your Sponsored Listing.