25/05/2026
N'Trang Lơng (1870 - 1935)NƠ TRANG LONG là tù trưởng người dân tộc M'Nông, nổi dậy kháng chiến chống Pháp ở Nam Tây Nguyên (giáp ranh Campuchia) suốt 24 năm đầu thế kỷ 20 (1911-1935).
chuyên về nhân vật lịch sử Việt nam
25/05/2026
N'Trang Lơng (1870 - 1935)NƠ TRANG LONG là tù trưởng người dân tộc M'Nông, nổi dậy kháng chiến chống Pháp ở Nam Tây Nguyên (giáp ranh Campuchia) suốt 24 năm đầu thế kỷ 20 (1911-1935).
23/05/2026
Mạc Thái Tông (?-1540) tên thật là Mạc Đăng Doanh, (sử nhà Minh chép là Mạc Phương Doanh) là vị hoàng đế thứ hai của triều đại nhà Mạc trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1530 đến khi qua đời vào đầu năm 1540, tổng cộng 10 năm.
Trong suốt thời gian ở ngôi, ông chỉ sử dụng một niên hiệu duy nhất là Đại Chính. Thời kỳ cai trị của ông được sử sách ngợi ca là Đại Chính chi trị – một trong những giai đoạn thái bình, thịnh trị hiếm có trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
• Ông là con trai trưởng của Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung), quê gốc của ông tại xã Cao Đôi, huyện Bình Hà, tỉnh Hải Dương (nay thuộc thôn Long Động, xã Hợp Tiến, Hải Phòng). Năm 1517, để củng cố thế lực bè phái trong triều, Mạc Đăng Dung đã cho Mạc Đăng Doanh cưới con gái của vị tướng quyền lực Trần Chân.
• Năm 1522: Được phong làm Dục Mỹ hầu, chưởng quản điện Kim Quang.
• Năm 1527: Khi Mạc Đăng Dung lên ngôi hoàng đế, ông được lập làm Thái tử.
• Năm 1530: Vào ngày Tết Nguyên đán, Mạc Thái Tổ nhường ngôi cho con và lui về làm Thái thượng hoàng tại điện Tường Quang (Cổ Trai, Hải Phòng). Mạc Đăng Doanh chính thức lên ngôi, sử gọi là Mạc Thái Tông.
Mặc dù Mạc Thái Tông không mạnh về võ công như vua cha, nhưng trong thời gian trị vì, ông cùng các tướng lĩnh đã phải liên tục đối phó với các thế lực trung thành với nhà Lê (giai đoạn đầu của thời kỳ Nam - Bắc triều):
• Dẹp loạn Lê Ý (1530): Thái An công nhà Lê là Lê Ý dấy binh ở Thanh Hóa. Ban đầu quân Mạc thế yếu, Thái Tông phải lui binh. Về sau, nhờ tướng Mạc Quốc Trinh mưu lược đã bắt và dẹp được Lê Ý.
• Đối đầu Nguyễn Kim (1531 - 1533): Nguyễn Kim khởi binh từ Ai Lao về đánh Thanh Hóa. Quân Mạc dưới sự chỉ huy của Nguyễn Kính đã lợi dụng mùa mưa để phản công, buộc Nguyễn Kim phải rút về Ai Lao. Đến năm 1533, Nguyễn Kim lập Lê Ninh lên ngôi (vua Lê Trang Tông), chính thức tái lập nhà Lê Trung hưng.
• Lãnh thổ bị chia cắt (1537 - 1539): Trấn thủ Thanh Hóa của nhà Mạc là Lê Phi Thừa phản pháo, chạy sang đầu hàng nhà Lê. Năm 1539, quân nhà Lê chiếm huyện Lôi Dương (Thanh Hóa), đất đai của nhà Mạc bắt đầu bị thu hẹp và chia cắt.
Thành Tựu Trị Vì (Đại Chính Chi Trị)
Dù đối ngoại và quân sự gặp nhiều thử thách, Mạc Thái Tông lại gặt hái được những thành tựu rực rỡ về đối nội, đưa đất nước vào một giai đoạn hoàng kim ngắn ngủi.
1. Đối nội: Trọng dụng nhân tài & Ổn định xã hội
• Giáo dục & Khoa cử: Ông đặc biệt coi trọng Nho học. Cứ 3 năm một lần, các khoa thi được tổ chức rất đều đặn, tuyển chọn được những bậc đại trí thức cho đất nước như: Nguyễn Thiến (Trạng nguyên 1532), Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng nguyên 1535), và Giáp Hải (Trạng nguyên 1538). Năm 1536, ông cho đại tu lại trường Quốc Tử Giám.
• Trị an nghiêm minh: Ngay khi lên ngôi, vua ra lệnh cấm dân chúng mang theo gươm, giáo, dao nhọn khi đi ra đường. Nhờ luật này, nạn trộm cướp hoàn toàn biến mất.
• Kinh tế thịnh vượng: Nhờ mưa thuận gió hòa liên tiếp nhiều năm, nhân dân được no ấm.
Sử sách ghi nhận: Sách Đại Việt thông sử (Lê Quý Đôn) chép: "Trong vài năm trộm cướp biệt tăm, súc vật nuôi tối đến không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng một lần kiểm điểm lại".
Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư thừa nhận: "Đêm ngủ không cần đóng cửa, ngoài đường không nhặt của rơi".
2. Đối ngoại: Khéo léo với nhà Minh:
• Trước áp lực quân Minh áp sát biên giới phía Bắc (mượn cớ giúp nhà Lê), Mạc Thái Tông vừa tập trận phòng bị, vừa thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo.
• Tháng 5 năm 1539, ông cử phái đoàn sang Trấn Nam Quan dâng biểu biện hộ rằng Lê Ninh (vua Lê Trung hưng) không phải dòng dõi nhà Lê thật mà do Nguyễn Kim dựng lên. Sự khôn khéo này khiến nhà Minh án binh bất động, giúp bờ cõi tạm yên.
Ngày 25 tháng 1 năm 1540 (hoặc ngày 3 tháng 3 năm 1540 theo một số cách tính lịch khác), Mạc Thái Tông qua đời khi đang tại vị, được ban thụy hiệu là Khâm Triết Văn Hoàng đế. Con trai ông là Mạc Phúc Hải lên nối ngôi (Mạc Hiến Tông).
Mạc Thái Tông là một vị minh quân giỏi về văn trị. Dù triều đại của ông bị đặt trong thế đối địch với nhà Lê Trung hưng, nhưng những trang sử do chính triều Lê viết lại sau này vẫn phải thừa nhận cảnh tượng thái bình rực rỡ dưới thời ông cai trị. Đây là điều hiếm thấy trong lịch sử phong kiến Việt Nam, giúp ông nhận được sự đánh giá rất cao từ các nhà sử học hiện đại.
22/05/2026
Nguyễn Cảnh Hoan (1521-1576) là một danh tướng của triều Lê Trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Một số tài liệu khác còn ghi tên ông là Nguyễn Cảnh Mô, Trịnh Mô hoặc Nguyễn Hoan. Ông sinh trưởng trong một gia tộc giàu truyền thống, từng giữ chức Binh bộ Thượng thư, hàm Thái phó, tước Tấn Quận công và sau này được truy phong Tấn Quốc công.
Tổ tiên ông vốn là người phường Thiên Lý, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Cuối thời nhà Hồ, do thế cục loạn lạc, gia tộc đã di cư vào làng Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Dòng họ của ông còn được gọi là họ Nguyễn Cảnh Thiên Lý. Ông là hậu duệ đời thứ 6 của các anh hùng thời Hậu Trần như Nguyễn Cảnh Chân và Nguyễn Cảnh Dị.
Sự nghiệp Phù Lê diệt Mạc:
Tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê, lập ra nhà Mạc. Không khuất phục nhà Mạc, cựu thần nhà Lê là An Thành hầu Nguyễn Kim lánh sang Sầm Châu chiêu nạp hào kiệt, đón Lê Duy Ninh lên ngôi (Lê Trang Tông), mở đầu thời kỳ Lê trung hưng.
Tại vùng Thanh - Nghệ lúc bấy giờ, trộm cướp nổi lên khắp nơi. Cha con Nguyễn Cảnh Hoan đã chủ động lập đồn trại, chiêu mộ quân sĩ khởi binh tại thôn Chiêu Quả (vùng núi Thanh Chương) để tiễu trừ sơn tặc, thu phục các thế lực địa phương. Năm 1536, ông cùng cha đem quân đến Sầm Châu phò tá vua Lê Trang Tông và rất được trọng dụng. Nguyễn Cảnh Huy được phong Bình Dương Hầu, còn Nguyễn Cảnh Hoan được phong Dương Đường Hầu dưới quyền điều khiển của Nguyễn Kim.
Sau khi Nguyễn Kim bị đầu độc năm 1545, Trịnh Kiểm lên thay nắm quyền binh, Nguyễn Cảnh Hoan tiếp tục là dũng tướng dưới trướng họ Trịnh.
Kiên cường phòng thủ Hoan Ái.
Nguyễn Cảnh Hoan là một trong những cột trụ phòng thủ vùng đất Thanh Hóa – Nghệ An trước các cuộc tấn công của nhà Mạc:
Tháng 12/1547: Đại tướng nhà Mạc là Tây Quận công Nguyễn Kính đem quân đánh Thanh Hóa nhưng bại trận. Trên đường rút lui, quân Mạc rơi vào trận địa phục kích của Nguyễn Cảnh Hoan và thua tan tác. Nhờ chiến công này, ông được phong Đề đốc Tấn Quận công.
Tháng 1/1553: Do lập nhiều chiến công, ông được thăng làm Thái Bảo. Trịnh Kiểm kính nể mưu lược của ông, coi như người thân tín, đổi gọi theo họ mình là Trịnh Mô, giao quyền thu thuế và quản lý hai huyện Nam Đường và Chân Phúc (Nghệ An).
Năm 1555: Ông trực tiếp bắt sống tướng nhà Mạc khi quân Mạc xâm lấn huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa.
Năm 1570: Trịnh Kiểm mất, nội bộ họ Trịnh xảy ra tranh chấp giữa Trịnh Cối và Trịnh Tùng. Nguyễn Cảnh Hoan cùng các tướng như Phan Công Tích, Đặng Huấn đã phò tá Trịnh Tùng rút về Yên Trường để tổ chức kháng chiến chống quân Mạc. Ông cùng các tướng lập công lớn khi đánh lấy Tống Sơn, buộc quân Mạc phải rút về Bắc.
Giai đoạn 1571 – 1575:
Nhà Mạc liên tục cử các danh tướng như Khiêm vương Mạc Kính Điển và Thạch Quận công Nguyễn Quyện tiến đánh Nghệ An. Trước thế lực mạnh mẽ của quân Mạc, nhiều tướng nhà Lê bỏ chạy hoặc bị bắt, nhưng Nguyễn Cảnh Hoan cùng Lại Thế Khanh và Phan Công Tích đã kiên cường đẩy lùi nhiều đợt tiến công.
Trong một trận chiến khốc liệt tại vùng Thanh Chương, dù phối hợp sơ suất khiến tướng Phan Công Tích bị Nguyễn Quyện bắt giết, Nguyễn Cảnh Hoan vẫn giữ vững trận tuyến. Nhận thấy Nguyễn Quyện định rút quân ra biển, ông đặt phục binh tại Rú Nguộc, tiêu diệt tại trận Kỳ Quận công của nhà Mạc, đánh tan đại quân đối phương.
Do có nhiều năm xông pha trận mạc lại giỏi tài biện luận, năm 1573, ông được chuyển sang ban văn, ban danh hiệu Hiệp mưu công thần, đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Binh bộ Thượng thư, Thái phó, kiêm Hành tướng sự.
Năm 1576, nhà Mạc tổng tấn công quy mô lớn vào Thanh - Nghệ. Trịnh Tùng phát lệnh triệu Nguyễn Cảnh Hoan về bàn kế hoạch chống giữ. Không may, một thuộc tướng của ông là Lâm Quận công làm phản, đầu hàng và tiết lộ lịch trình của ông cho Nguyễn Quyện.
Nguyễn Quyện lập tức cho quân mai phục dày đặc tại vùng Bông Đồn, Độc Hiệu (Ngọc Sơn, Thanh Hóa). Nguyễn Cảnh Hoan cùng đội túc vệ ít ỏi rơi vào vòng vây nguy khốn. Dù kiên cường chống trả hơn một ngày, ông vẫn bị thế cô và bị Nguyễn Quyện bắt sống giải về Thăng Long.
Dù Trịnh Tùng đã cử người mang vàng ra Bắc điều đình chuộc mạng nhưng không thành. Nhà Mạc biết Nguyễn Cảnh Hoan là bậc kỳ tài nên tìm mọi cách dụ dỗ ông quy thuận. Nguyễn Quyện đã đến tận nơi giam giữ, dùng lời lẽ phong thủy, sấm truyền để thuyết phục:
— "Ta nghe ở thôn quê có câu sấm truyền rằng: 'Mô là cây của Mạc, nếu không được Mạc dùng, ắt hẳn sẽ thành tro dưới mồ thôi' (Mô giả, Mộc mạc dã; bất bị Mạc dụng, tất thành hưu mô chi mộ). Ý sấm truyền muốn nhắc nhở Tấn Quận công đấy thôi, thế mà ông lại một mực không tỉnh ngộ."
Nguyễn Cảnh Hoan khảng khái đáp trả:
— "Bình sinh khi qua chơi nhà ông, ta thấy thân sinh của ông bảo ông tuy thông minh nhưng lười học, nên mới đặt tên cho ông là Quyện (mỏi mệt, lười biếng), nhốt ông trong thư phòng và có câu răn rằng: 'Quyện là người của sách, vì quay lưng lại sách, quả nhiên bị cái nhục cầm tù' (Quyện giả, quyển nhân dã; hữu vi ư quyển, quả thụ khuyên tù chi nhục). Sao ông không suy nghĩ về điều đó? Người đọc sách không thể làm trái với sách. Sách có nói: 'Tôi ngay không thờ hai chúa', ông sao lại làm trái lời đó?"
Nguyễn Quyện đuối lý, đành nói: "Đại trượng phu không thờ hai vua, thế là trung. Quyện này nếu về với chủ cũ sẽ thất trung", rồi phẩy áo bỏ đi.
Biết không thể khuất phục được con người chính trực này, tháng 9 năm 1576, nhà Mạc đem ông đi hành quyết tại Thăng Long. Cảm phục trước tấm lòng trung nghĩa của đối thủ, Nguyễn Quyện đã tự tay lo liệu khâm liệm chu đáo, xin vua Mạc cho đưa thi hài ông về an táng tại quê nhà Hoan Châu và cảm thán: "Trung nghĩa, cương liệt đời hiếm hoi, sau này ắt sẽ thành thần lớn".
Trước khi tuẫn tiết, Nguyễn Cảnh Hoan đã để lại hai bài thơ tuyệt mệnh lưu danh hậu thế:
Sau khi Nguyễn Cảnh Hoan mất, triều đình nhà Lê truy phong ông làm Tấn Quốc.
Đền thờ chính: Được xây dựng từ năm 1602 tại xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương. Đền trải qua nhiều đợt trùng tu lớn và đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia vào năm 1991. Lễ hội đền Tràng Sơn (10 năm tổ chức đại lễ một lần) là một trong những lễ hội lớn của vùng Nghệ An.
Nhiều địa phương như TP. Vinh, thị trấn Đô Lương, thị trấn Thanh Chương đều có các tuyến đường khang trang mang tên ông.
Tại đền Khai Long (xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An) hiện vẫn lưu giữ trang trọng các đạo sắc phong của các triều đại quân chủ phong tặng cho Nguyễn Cảnh Hoan (được thờ phối hưởng cùng vị thần Khai Long sứ)
20/05/2026
Thời Kỳ Vua Lê – Chúa Trịnh (Lê Trung Hưng 1533 – 1789)
Thời kỳ này kéo dài khoảng 241 năm (từ 1545 đến 1786, hoặc tính cả thời Lê Trung Hưng là 1533–1789), bắt đầu khi nhà Hậu Lê được tái lập để chống lại nhà Mạc, và kết thúc khi chính quyền chúa Trịnh bị quân Tây Sơn lật đổ.
• Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê. Năm 1533, tướng Nguyễn Kim lập con cháu nhà Lê lên ngôi (Lê Trang Tông), mở đầu cho giai đoạn Lê Trung Hưng (khôi phục nhà Lê).
• Năm 1545, sau cái chết của Nguyễn Kim, con rể là Trịnh Kiểm lên thay nắm giữ binh quyền. Ông dần dần loại bỏ con trai của Nguyễn Kim và thiết lập quyền lực tối cao, mở ra thế lực Chúa Trịnh.
Đây là thể chế chính trị đặc biệt trong lịch sử Việt Nam, gọi là "Vua Lê – Chúa Trịnh" hay Lưỡng đầu chế (hai người đứng đầu).
• Vua Lê (Danh nghĩa): Vua Lê vẫn giữ danh hiệu Thiên tử, đứng đầu triều đình và là người ban hành chiếu chỉ. Tuy nhiên, quyền lực thực tế của vua rất nhỏ, chỉ là hư vị và bị các chúa Trịnh kiểm soát chặt chẽ.
• Chúa Trịnh (Thực quyền): Các chúa Trịnh (Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng,...) nắm giữ toàn bộ quân đội, tài chính, và chính sự của đất nước (gọi là Đàng Ngoài). Bắt đầu từ Trịnh Tùng được phong Bình An vương và lập phủ chúa riêng ở Thăng Long.
Trong quá trình chống nhà Mạc, em vợ của Trịnh Kiểm là Nguyễn Hoàng đã xin vào trấn thủ vùng Thuận Hóa (Quảng Nam, Quảng Trị ngày nay). Dần dần, thế lực họ Nguyễn lớn mạnh ở phía Nam (gọi là Đàng Trong), đối lập với thế lực họ Trịnh ở phía Bắc (gọi là Đàng Ngoài). Ranh giới là sông Gianh (Quảng Bình).
Chiến tranh Trịnh – Nguyễn diễn ra khốc liệt trong 7 lần (1627–1672), nhưng không bên nào tiêu diệt được bên nào. Sau đó hai bên ngừng chiến và duy trì tình trạng chia cắt kéo dài hơn 100 năm.
Những thành tựu và Hạn chế ở Đàng Ngoài:
✅ Thành tựu:
• Chính trị và Quân sự: Dẹp yên nhà Mạc, ổn định an ninh biên giới và nội bộ (sau năm 1672).
• Văn hóa, Giáo dục: Giai đoạn phát triển. Triều đình Lê–Trịnh thường xuyên mở các kỳ thi, đào tạo được nhiều nhân tài. 68/82 bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám được lập trong thời kỳ này. Xuất hiện các học giả lớn như Lê Quý Đôn.
• Kinh tế: Thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển mạnh mẽ. Kinh thành Thăng Long quy tụ 36 phố phường chuyên biệt. Giao thương với phương Tây (Hà Lan, Anh) được mở cửa.
• Y học: Nổi bật với danh y Hải Thượng Lãn Ông
❌
🇻🇳 Kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam.
Người đã dành trọn cuộc đời cho độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân. ❤️
🇬🇧 Commemorating the birthday of President Ho Chi Minh – the great leader of Vietnam.
He devoted his entire life to independence, freedom, and the happiness of the people. ❤️
12/05/2026
Từ mái chòi đơn sơ đến hành trình tìm tự do cho dân tộc. Hãy cùng ngược dòng thời gian để cảm nhận tư tưởng và cốt cách cao đẹp của một tâm hồn lớn — Người cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam.
📅 Lịch phát sóng: 17/05/2026
From a humble cottage to a global journey for independence. Journey back in time to explore the profound philosophy and noble character of a great soul — the beloved Father of the Vietnamese nation.
📅 Premiere: May 17, 2026
🇻🇳 TẬP 2 | VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1940 – 1945
Thời kỳ nhân dân Việt Nam đứng lên đấu tranh giành độc lập giữa chiến tranh thế giới và ách đô hộ thực dân.
Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức ra đời.
🇬🇧 EPISODE 2 | VIETNAM 1940 – 1945
A historic period when Vietnamese people fought for independence amid world war and colonial rule.
On September 2, 1945, the Democratic Republic of Vietnam was officially established.
04/05/2026
PHIM NGẮN LỊCH SỬ VIỆT NAM – TẬP 2
Giai đoạn 1940–1945 – thời khắc lịch sử đầy biến động và tinh thần bất khuất của dân tộc 🇻🇳
📅 Phát hành: 10/05/2026
🤝 Đơn vị tài trợ: Vinhfarm
Cùng nhìn lại quá khứ – để trân trọng hiện tại và vững bước tương lai.
Giai đoạn 1940 - 1945: Một cổ hai tròng & Cuộc hồi sinh vĩ đại.
Lịch sử Việt Nam giai đoạn này là những trang sử đau thương nhưng hào hùng nhất. Khi thực dân Pháp và phát xít Nhật cùng đặt ách thống trị, người dân Việt Nam đã phải sống trong cảnh "một cổ hai tròng", dẫn đến thảm kịch nạn đói năm 1945.
Nhưng chính từ trong bóng tối của khói lửa và dây thép g*i, tinh thần độc lập đã bùng cháy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Hãy cùng nhìn lại hành trình kiên cường của một dân tộc không bao giờ khuất phục.
ENGLISH
Vietnam 1940 - 1945: Double Oppression & The Great Awakening.
This period marks one of the most tragic yet heroic chapters in Vietnamese history. Caught between the French colonialists and the Japanese fascists, the Vietnamese people endured "double oppression," leading to the devastating famine of 1945.
However, from the darkness of war and barbed wire, the spirit of independence burned brighter than ever. Join us as we revisit the resilient journey of a nation that refused to bow down.
03/05/2026
Hẹn 14h ngày 3/5