Tình đất đỏ miền Đông

Tình đất đỏ miền Đông

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Tình đất đỏ miền Đông, Ho Chi Minh City.

Photos from Tình đất đỏ miền Đông's post 23/12/2025

Liên kết vùng, động lực để Đông Nam Bộ bứt phá

Vùng Đông Nam Bộ từ lâu đã giữ vai trò đầu tàu tăng trưởng, là trung tâm công nghiệp, dịch vụ và đổi mới sáng tạo của cả nước. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu tăng trưởng nhanh nhưng bền vững, Đông Nam Bộ đứng trước đòi hỏi phải tái cấu trúc mô hình phát triển.

Trong tiến trình đó, liên kết vùng không chỉ là lựa chọn mà trở thành chìa khóa mang tính quyết định để phát huy sức mạnh tổng hợp, tạo dư địa phát triển mới, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vai trò hạt nhân dẫn dắt.

Đầu tàu kinh tế và những thách thức mới

Đông Nam Bộ là vùng kinh tế phát triển năng động bậc nhất cả nước, có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước và đi đầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Với hạt nhân là Thành phố Hồ Chí Minh, vùng đã hình thành hệ sinh thái kinh tế đa dạng, từ tài chính, thương mại, logistics, công nghiệp chế biến chế tạo đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh theo nghị quyết của Quốc hội, không gian phát triển của vùng Đông Nam Bộ được tái cấu trúc theo hướng tinh gọn, tạo tiền đề cho liên kết thực chất hơn. Việc hợp nhất địa giới không chỉ mở rộng quy mô dân số và diện tích mà còn tạo cơ hội điều phối thống nhất về quy hoạch, hạ tầng và phân bổ nguồn lực.

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội lớn, Đông Nam Bộ cũng đang đối diện nhiều thách thức mang tính cấu trúc. Không gian phát triển chưa được phân bổ tối ưu, hạ tầng giao thông quá tải, liên kết vùng còn lỏng lẻo, trong khi áp lực môi trường và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng. Tốc độ đô thị hóa nhanh đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao chất lượng sống của người dân, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.

Định hướng không gian phát triển

Trong chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Đông Nam Bộ được xác định là vùng động lực tăng trưởng hàng đầu của cả nước. Để thực hiện mục tiêu này, việc điều chỉnh không gian phát triển vùng theo hướng liên kết, bổ trợ lẫn nhau giữa các địa phương có ý nghĩa then chốt.

Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vai trò trung tâm dịch vụ tài chính, thương mại, logistics, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo tầm khu vực. Tuy nhiên, để giảm áp lực quá tải và tạo sự phát triển cân bằng, vùng cần hình thành các cực tăng trưởng mới, phân bổ lại không gian đô thị, công nghiệp và dịch vụ.

Các chuyên gia đề xuất tái cấu trúc Đông Nam Bộ thành ba tiểu vùng phát triển, vừa gắn kết chặt chẽ với Thành phố Hồ Chí Minh, vừa phát huy lợi thế riêng của từng khu vực.

Tiểu vùng trung tâm bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực phụ cận trực tiếp của tỉnh Đồng Nai. Đây là khu vực đô thị hóa cao, tập trung đông dân cư, doanh nghiệp và các trung tâm đổi mới sáng tạo. Định hướng phát triển tiểu vùng trung tâm thành đại đô thị thông minh, hiện đại, có năng lực cạnh tranh quốc tế, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò hạt nhân dẫn dắt.

Tiểu vùng ven biển gồm khu vực Cần Giờ của Thành phố Hồ Chí Minh và không gian ven biển phía đông. Tiểu vùng này có lợi thế nổi trội về kinh tế biển, cảng nước sâu, logistics và du lịch biển. Định hướng phát triển thành trung tâm kinh tế biển của Đông Nam Bộ, gắn kết chặt chẽ với tiểu vùng trung tâm thông qua các trục hạ tầng hiện đại.

Tiểu vùng phía bắc bao gồm các đô thị và khu công nghiệp của tỉnh Đồng Nai và tỉnh Tây Ninh. Đây là khu vực cửa ngõ kết nối với Tây Nguyên và Campuchia, có quỹ đất lớn để phát triển công nghiệp, năng lượng tái tạo và logistics trung chuyển. Việc hình thành cực tăng trưởng phía bắc sẽ giảm áp lực cho khu vực trung tâm, đồng thời mở rộng không gian phát triển cho toàn vùng.

Một trong những điểm nghẽn lớn nhất của Đông Nam Bộ hiện nay là hạ tầng giao thông và logistics chưa theo kịp tốc độ phát triển. Việc đầu tư các dự án mang tính liên vùng như đường vành đai, cao tốc, hệ thống logistics và kết nối cảng biển cần được đặt trong tổng thể quy hoạch chung của vùng.

Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò trung tâm cần chủ động dẫn dắt, điều phối các dự án hạ tầng liên vùng, không chỉ phục vụ phát triển nội đô mà còn tạo động lực lan tỏa cho Đồng Nai và Tây Ninh. Hạ tầng giao thông công cộng, logistics thông minh và kết nối cảng biển là những trụ cột quan trọng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn vùng.

Thể chế liên kết, điểm then chốt cho phát triển bền vững

Thực tiễn cho thấy, hạn chế lớn nhất của Đông Nam Bộ không nằm ở tiềm năng hay nguồn lực, mà ở cơ chế điều phối và liên kết vùng chưa đủ mạnh. Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính mở ra cơ hội lớn để thiết lập một thể chế liên kết mới, hiệu quả hơn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy quản lý.

Trong bối cảnh đó, cần hoàn thiện khung pháp lý cho liên kết vùng theo hướng có tính ràng buộc, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của các chủ thể tham gia. Hội đồng Điều phối vùng Đông Nam Bộ cần được kiện toàn với bộ phận thường trực chuyên trách, có thực quyền trong thẩm định, giám sát và điều phối các dự án liên vùng.

Song song đó, Đông Nam Bộ cần được lựa chọn để thí điểm các cơ chế mới về tài chính, ngân sách, logistics, thu hút nhân lực chất lượng cao và quản lý tài nguyên liên tỉnh. Đây là điều kiện quan trọng để vùng duy trì lợi thế cạnh tranh và thu hút các dòng đầu tư chiến lược trong giai đoạn tới.

Tầm nhìn dài hạn và khát vọng vươn tầm khu vực

Theo định hướng đến năm 2045, Đông Nam Bộ phấn đấu trở thành vùng phát triển có tiềm lực kinh tế mạnh, cơ cấu hiện đại, là trung tâm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao, logistics và tài chính mang tầm khu vực và quốc tế. Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục là hạt nhân, cực tăng trưởng, nơi hội tụ nhân tài, các tập đoàn kinh tế và định chế tài chính lớn của thế giới.

Vùng Đông Nam Bộ đang đứng trước thời cơ quan trọng để tái định hình mô hình phát triển. Việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh tạo ra không gian phát triển mới, nhưng chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đi kèm với liên kết vùng thực chất, thể chế đủ mạnh và hạ tầng đồng bộ.

Trong tiến trình đó, Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò trung tâm, đầu tàu, không chỉ dẫn dắt tăng trưởng kinh tế mà còn là nơi khởi nguồn của các mô hình liên kết, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Khi các địa phương trong vùng hợp lực thành một chỉnh thể thống nhất về quy hoạch, chính sách và hạ tầng, Đông Nam Bộ sẽ tiếp tục khẳng định vị thế vùng động lực hàng đầu, tạo đà lan tỏa cho sự phát triển chung của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Vùng Đông Nam Bộ sau sắp xếp đơn vị hành chính

- Trước sắp xếp: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh.
- Sau sắp xếp: Thành phố Hồ Chí Minh (hợp nhất Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu).
Tỉnh Đồng Nai (hợp nhất Đồng Nai và Bình Phước).
Tỉnh Tây Ninh (hợp nhất Long An và Tây Ninh).
Nguồn: Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội

Quy mô dân số, diện tích 3 tỉnh, thành phố Đông Nam Bộ
- Sau khi sắp xếp, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên hơn 6.772 km2, quy mô dân số hơn 14 triệu người. Thành phố Hồ Chí Minh giáp các tỉnh: Đồng Nai, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Tây Ninh và Biển Đông.
- Sau khi sắp xếp, tỉnh Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 12.737km2, quy mô dân số gần 4,5 triệu người. Tỉnh Đồng Nai giáp tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh và Vương quốc Campuchia.

- Sau khi sắp xếp, tỉnh Tây Ninh có diện tích tự nhiên hơn 8.536km2, quy mô dân số là 3.254.170 người. Tỉnh Tây Ninh giáp tỉnh Đồng Nai, tỉnh Đồng Tháp, Thành phố Hồ Chí Minh và Vương quốc Campuchia.
Nguồn: Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội

Photos from Tình đất đỏ miền Đông's post 23/04/2025

TPHCM tôn vinh các cá nhân tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển thành phố

Ngày 23-4, Thành ủy – HĐND – UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM tổ chức Lễ tôn vinh các cá nhân tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển TPHCM (1975-2025).

Dự có các đồng chí: Trương Tấn Sang, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước; Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM; Trương Mỹ Hoa, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch nước; Nguyễn Văn Được, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TPHCM; Nguyễn Thị Lệ, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND TPHCM; Nguyễn Phước Lộc, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM.

Cùng dự có các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước; nguyên lãnh đạo TPHCM qua các thời kỳ; đặc biệt là những cá nhân tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển TPHCM.

Các cá nhân tiêu biểu được tôn vinh có xuất thân từ nhiều vai trò, cương vị khác nhau, nhưng tất cả đều hội tụ với lòng yêu quê hương, đất nước tha thiết, với quyết tâm cao độ và khát vọng cháy bỏng, sẵn sàng cống hiến trong sự nghiệp xây dựng, phát triển TPHCM “vì cả nước, cùng cả nước”, hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Photos from Tình đất đỏ miền Đông's post 23/04/2025

Báo Nhân Dân công bố đợt truyền thông đặc biệt chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Ngày 23/4, tại trụ sở 71 Hàng Trống (Hà Nội), Báo Nhân Dân tổ chức lễ công bố đợt truyền thông đặc biệt chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2025). Đồng chí Võ Thị Ánh Xuân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước tham dự sự kiện.

Link chi tiết ở comment

23/04/2025

🚅 🇻🇳
Chuẩn bị khởi công đường sắt TPHCM – Cần Thơ trong 2027, Cần Thơ – Cà Mau trong 2028

23/04/2025

Xe buýt Thành phố Hồ Chí Minh đồng loạt treo cờ Tổ quốc

Tham gia các hoạt động hưởng ứng kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2025), tất cả phương tiện xe buýt của Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện treo cờ Tổ quốc.

Trung tâm Quản lý Giao thông công cộng (Sở Giao thông công chánh Thành phố) cho biết, các đơn vị kinh doanh vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt treo cờ trên phương tiện xe từ hôm nay đến hết ngày 5/5.
Trung tâm cũng lưu ý: Cờ Tổ quốc được treo trên xe buýt phải được kiểm tra để bảo đảm luôn sạch sẽ, không rách nát, bạc màu, đúng quy cách, bảo đảm treo đúng hướng cờ, nếu hư hỏng phải thay thế ngay.
Vị trí treo cờ Tổ quốc phía trên thanh gắn kính chiếu hậu bên tay phải của lái xe, cán cờ được cố định chắc chắn, không dễ gãy khi di chuyển; đồng thời bảo đảm an toàn giao thông, không gây ảnh hưởng đến tầm nhìn của lái xe hoặc ảnh hưởng tới các phương tiện khác khi tham gia giao thông.
Kích thước cờ treo là 26,6cm x 40cm.

- Nhân Dân -

24/02/2025

BỘ MÁY LÃNH ĐẠO CHỦ CHỐT CỦA TP HCM

Đến ngày 20-2, TP HCM đã kiện toàn hệ thống chính trị và bộ máy chính quyền sau sắp xếp, tinh gọn

Nguồn: NLĐO

Photos from Tình đất đỏ miền Đông's post 18/02/2025

Sau sắp xếp, tinh gọn, Chính phủ nhiệm kỳ 2021-2026 có 14 Bộ, 3 Cơ quan ngang Bộ và 5 cơ quan thuộc Chính phủ.

Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 176 về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và Nghị quyết số 177về cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.

02/02/2025

Tự hào về Đảng quang vinh, xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng

Hôm nay, trong không khí rộn ràng của mùa Xuân mới, toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta vui mừng kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam, Ðảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Cách đây 95 năm, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã quyết định thống nhất Ðông Dương Cộng sản Ðảng, An Nam Cộng sản Ðảng và Ðông Dương Cộng sản Liên đoàn thành một đảng duy nhất lấy tên là Ðảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó, ngày 3/2/1930 là một mốc son lịch sử, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong chặng đường đấu tranh giải phóng dân tộc, mở ra thời đại rực rỡ, huy hoàng - thời đại Hồ Chí Minh.
Dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc, muôn người như một, vùng lên đạp đổ xiềng xích nô lệ, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta, từng bước giành những thắng lợi, thành tựu vĩ đại có ý nghĩa lịch sử và thời đại, lật đổ thực dân Pháp, ách thống trị của phát-xít Nhật, đánh đuổi đế quốc Mỹ, giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ non sông, xây dựng, phát triển đất nước.
Suốt những chặng đường đấu tranh cách mạng, Ðảng ta với đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo và dựa vào dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, đã tập hợp được sức mạnh vô cùng to lớn của toàn thể dân tộc, vượt mọi hiểm nguy, gian khó, đi tới bến bờ vinh quang. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Ðảng luôn nắm vững bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, biến những thách thức thành cơ hội, làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, là nền tảng vững chắc để đất nước vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng xã hội của dân, do dân và vì dân.

Lịch sử đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Ðảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi. Trải qua những chặng đường cách mạng gian khổ, Ðảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, không ngừng đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo, tăng cường sức mạnh chiến đấu trong mọi hoàn cảnh, xứng đáng với sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, với sự tin tưởng và kỳ vọng của nhân dân. Ôn lại lịch sử 95 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Ðảng, tự hào về Ðảng quang vinh, chúng ta biết ơn vô hạn công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Người đã sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Ðảng ta. Chúng ta mãi mãi khắc ghi sự cống hiến, hy sinh của các vị lãnh đạo tiền bối, các anh hùng, liệt sĩ, những người con ưu tú của dân tộc, đã kiên cường chiến đấu, đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Ðảng, của dân tộc.
Tiếp nối ngọn lửa truyền thống, chúng ta nguyện quyết tâm đoàn kết một lòng bảo vệ vững chắc những thành quả cách mạng của dân tộc, kiên định đường lối độc lập, tự chủ, kiên trì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, lập nên những kỳ tích trong giai đoạn phát triển mới.
Năm 2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, năm cuối cùng thực hiện Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng, tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Ðại hội lần thứ XIV của Ðảng - Ðại hội đánh dấu thời điểm đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân thực sự quyết tâm, với những giải pháp quyết liệt, tăng tốc thực hiện thành công các nhiệm vụ của năm 2025 và của cả nhiệm kỳ 2021-2026, phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu phát triển đã đề ra, nhất là chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cho các năm tiếp theo; chú trọng thực hiện các giải pháp phát triển nhanh, bền vững; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo tốt nhất đời sống của người dân; giữ vững quốc phòng, an ninh; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại.
Các bộ, ngành, địa phương, đơn vị chuẩn bị và tổ chức tốt đại hội đảng bộ các cấp, nâng cao chất lượng văn kiện đại hội và công tác nhân sự; tiếp tục khẩn trương sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục thực hiện tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng trong sạch, vững mạnh; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
Mỗi tổ chức đảng và đảng viên không ngừng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; nêu gương tiền phong, gương mẫu để củng cố niềm tin của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội. Trong mọi công việc, các cấp ủy, chính quyền phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc", thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền giám sát, quyền làm chủ của nhân dân.
Xuân mới, thắng lợi mới. Toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân tin tưởng tuyệt đối vào con đường mà Ðảng ta và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn, không ngừng nỗ lực với ý chí quyết tâm cao, hành động quyết liệt, đạt cho được những mục tiêu phát triển đã đề ra, xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng hùng cường, thịnh vượng.

Nguồn: báo Nhân dân
https://nhandan.vn/tu-hao-ve-dang-quang-vinh-xay-dung-dat-nuoc-hung-cuong-thinh-vuong-post858421.html

Photos from Tình đất đỏ miền Đông's post 27/11/2024

Học viện Chính trị khu vực II tiếp đón và làm việc với đoàn đại biểu Trường Chính trị - Hành chính tỉnh Champasak, Lào

Ngày 27/11, Học viện Chính trị khu vực II đã có buổi tiếp đón và làm việc cùng đoàn công tác đến từ Trường Chính trị - Hành chính tỉnh Champasak, Lào. Đây là một trong những hoạt động hợp tác quốc tế của Học viện Chính trị khu vực II diễn ra trong năm 2024.

Tại buổi làm việc có sự tham dự của PGS-TS Nguyễn Quốc Dũng, Uỷ viên Ban Thường vụ Đảng uỷ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Bí thư Đảng uỷ, Giám đốc Học viện Chính trị khu vực II cùng lãnh đạo một số phòng, ban của Học viện Chính trị khu vực II.

Về phía đoàn công tác của Trường Chính trị - Hành chính tỉnh Champasak có sự tham dự của ông Somsack Sauvarat, quyền Hiệu trưởng; ông Boualay Thongsavathady - quyền Chánh văn phòng - hành chính tổ chức và lãnh đạo các phòng hợp tác quốc tế, phòng quản lý giảng dạy, phòng đào tạo.
Phát biểu tại buổi làm việc, PGS-TS Nguyễn Quốc Dũng đã khẳng định mối quan hệ Việt Nam – Lào là mối quan hệ đặc biệt. Với sự chung tay gây dựng, gìn giữ và dày công vun đắp từ thời của những nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối như: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong. Từ đó tạo nên tình hữu nghị vĩ đại, đoàn kết gắn bó chặt chẽ và liên minh chiến đấu của cách mạng hai nước.

“Hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước luôn kiên định gìn giữ, vun đắp và phát triển quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam ngày càng đi vào chiều sâu, mãi vững bền và mang lại lợi ích thực tế nhiều hơn cho nhân dân hai nước. Trong trái tim của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam mãi mãi khắc sâu lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Việt - Lào hai nước chúng ta, tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”, PGS-TS Nguyễn Quốc Dũng nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, lãnh đạo Học viện Chính trị khu vực II cũng đánh giá cao vai trò của Trường Chính trị - Hành chính tỉnh Champasak, được xem như là một trong những ngôi trường quan trọng trong hệ thống đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý của Lào. Chính vì vậy, Học viện Chính trị khu vực II và trường Chính trị - Hành chính tỉnh Champasak có rất nhiều điểm tương đồng trong sứ mệnh đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của hai nước. Qua đó, buổi làm việc này sẽ giúp hai trường có thể trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong công tác đào tạo cũng như công tác nghiên cứu khoa học.

Đại diện đoàn công tác, ông Somsack Sauvarat, quyền Hiệu trưởng Trường Chính trị - Hành chính tỉnh Champasak cũng chia sẻ về những khó khăn, thách thức của trường. Với việc được xây dựng từ năm 1997, Trường Chính trị - Hành chính tỉnh Champasak còn nhiều vấn đề về cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ và cán bộ. Do đó, ông Somsack Sauvarat cũng bày tỏ sự kỳ vọng có thể ghi nhận và học hỏi thêm được nhiều kinh nghiệm, từ đó áp dụng cho các hoạt động tại nhà trường và địa phương.
Trước những khó khăn của Trường Chính trị - Hành chính tỉnh Champasak, PGS-TS Nguyễn Quốc Dũng hy vọng kết quả chuyến thăm và làm việc này có thể gợi mở ra thêm hướng phát triển cho Trường Chính trị - Hành chính tỉnh Champasak. Đồng thời, trong dự án xây dựng học viện cấp khu vực ở tỉnh Champasak, phía Việt Nam sẽ có nhiều trách nhiệm để tiếp tục vun đắp mối quan hệ hai nước Việt Nam – Lào ngày càng bền chặt hơn.

Buổi làm việc giữa hai trường đã diễn ra trên tinh thần trao đổi, chia sẻ thẳng thắn, cởi mở với nhiều nội dung liên quan đến hoạt động quản lý vận hành, giảng dạy đào tạo và ứng dụng nghiên cứu. Bên cạnh đó, đoàn công tác của Trường Chính trị - Hành chính tỉnh Champasak cũng được thăm quan cơ sở vật chất và một số lớp đào tạo của Học viện Chính trị khu vực II.

Nguồn: Báo Nhà báo & Công luận
https://www.congluan.vn/hoc-vien-chinh-tri-khu-vuc-ii-tiep-don-va-lam-viec-voi-doan-dai-bieu-truong-chinh-tri--hanh-chinh-tinh-champasak-lao-post323127.html

Photos from Tình đất đỏ miền Đông's post 04/11/2024

Một số nhận thức cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Ngày 31-10, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo sư, Tiến sĩ Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có buổi trao đổi một số nội dung về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tổng Bí thư Tô Lâm chia sẻ kỷ nguyên là một giai đoạn lịch sử được đánh dấu bởi những đặc điểm quan trọng hoặc sự kiện có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội - văn hóa - chính trị - tự nhiên.

Kỷ nguyên thường được sử dụng để phân chia thời gian trong lịch sử theo những biến cố lớn hoặc có sự thay đổi căn bản trong đời sống chính trị hay khoa học, công nghệ, môi trường.

Ví dụ: Kỷ nguyên Công nghiệp, Kỷ nguyên Thông tin, Kỷ nguyên Kỹ thuật số, Kỷ nguyên Vũ trụ. Còn trước đây là Kỷ nguyên Đồ đá, Kỷ nguyên Cổ đại, Kỷ nguyên Trung cổ…

Kỷ nguyên vươn mình hàm ý tạo sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt, tích cực, nỗ lực, nội lực, tự tin để vượt qua thách thức, vượt qua chính mình, thực hiện khát vọng, vươn tới mục tiêu, đạt được những thành tựu vĩ đại…

Nguồn: TTXVN

Photos from Tình đất đỏ miền Đông's post 30/10/2024

Sự thật lịch sử về vùng đất Nam Bộ của Việt Nam
Trong những năm gần đây, các hội nhóm Khmer Campuchia Krom như: Liên đoàn Khmer Campuchia Krom (KKF) và các đối tượng phản động người Khmer lưu vong thường xuyên tuyên truyền, xuyên tạc về vùng đất Nam bộ của Việt Nam, với luận điệu cho rằng: Vùng đất Nam bộ là của Campuchia Krom bị Pháp cắt khỏi lãnh thổ Campuchia và cho sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam, chịu sự quản lý của chính quyền Việt Nam, qua đó kích động sư sãi, đồng bào Khmer ở các tỉnh Nam Bộ của Việt Nam đấu tranh, biểu tình đòi lại đất.

Vậy sự thật như thế nào? Qua các tư liệu lịch sử và các di tích khảo cổ học và văn bản của Nhà nước Pháp, Việt Nam, Cam puchia cho thấy:

Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII, Nam Bộ là vùng đất thuộc Vương quốc Phù Nam, một quốc gia ven biển (tương ứng với vùng đất Nam Bộ ngày nay). Trong thời kỳ Phù Nam cường thịnh, nhiều nước nhỏ thần phục Phù Nam với tư cách là những thuộc quốc hoặc chư hầu, trong đó có Chân Lạp.

Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVI, Nam Bộ thuộc về Chân Lạp. Chân Lạp là một quốc gia xuất hiện ở vùng trung lưu sông Mê Kông, gần Biển Hồ. Vào đầu thế kỷ VII, khoảng sau năm 627, nhân lúc Phù Nam suy yếu, Chân Lạp đã đánh chiếm và tiêu diệt Phù Nam. Sau khi tiêu diệt Phù Nam, Chân Lạp dồn sức phát triển vùng trung lưu sông Mê Công, khu vực Biển Hồ và hướng nỗ lực bành trướng sang phía Tây, trong suốt thời kỳ này, vùng đất Nam Bộ chưa có sự quản lý về mặt hành chính của Nhà nước Chân Lạp. Cho đến thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ còn thưa thớt. Bắt đầu từ thế kỷ XIV, Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của các vương triều Xiêm (Thái Lan ngày nay), từ phía tây. Sang thế kỷ XVI, nhất là từ thế kỷ XVII, do sự can thiệp của Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc, nội bộ tranh giành quyền lực, dần bước vào thời kỳ suy vong. Trong bối cảnh như vậy, Chân Lạp hầu như không có khả năng kiểm soát đối với vùng đất còn ngập nước ở phía Nam.

Từ thế thứ XVII cho đến nay, Nam Bộ trở thành một bộ phận của nước Việt Nam. Trong các giai đoạn lịch sử, giữa nhà Nguyễn của Việt Nam và triều đình Chân Lạp đã tồn tại mối quan hệ hữu nghị và hòa bình. Năm 1620, vua Chân Lạp là Chey Chetta II cưới Công nữ Ngọc Vạn, con gái của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên làm Hoàng hậu. Quan hệ hữu hảo này đã tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt vốn đã có mặt từ trước và từ các nơi khác di cư tới khai khẩn đất hoang, làm ăn sinh sống trên vùng đất Nam Bộ. Năm 1623, để quản lý và thu thuế trong cư dân người Việt, chúa Nguyễn đã lập ở vùng Sài Gòn ngày nay một trạm thu thuế.

Cùng thời kỳ này, một số quan lại nhà Minh (Trung Quốc) không thần phục nhà Thanh đã vượt biển đi về phía Nam đến đây và xin phép chúa Nguyễn được cư trú. Từ năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần đã tạo điều kiện để nhóm Dương Ngạn Địch tổ chức khai phá và phát triển kinh tế vùng Tiền Giang (Mỹ Tho); nhóm Trần Thượng Xuyên chiêu dân, mở mang vùng Biên Hòa - Đồng Nai. Năm 1671, Mạc Cửu cùng với 400 người Trung Quốc đến vùng đất hoang vu trong vịnh Thái Lan và xin thần phục vương triều Chân Lạp. Năm 1681, vua Jayajettha IV cho Mạc Cửu khai thác vùng đất dọc bờ biển phía Nam Chân Lạp, năm 1708, Mạc Cửu xin quy phục và dâng toàn bộ đất đai thuộc quyền cai quản cho Chúa Nguyễn. Với sự có mặt của các nhóm người Hoa cùng với người Việt, người Khmer sinh cơ, lập nghiệp từ trước, đã hình thành nên các trung tâm kinh tế quan trọng với nhiều làng mạc, khu dân cư tập trung, chợ, bến thuyền... ở vùng đất Nam Bộ. Năm 1698, Chúa Nguyễn cử thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý vùng đất Nam Bộ và cho lập ra ở đây một đơn vị hành chính lớn là phủ Gia Định. Đó là sự xác lập quyền lực, khẳng định chủ quyền trên thực tế của vương triều Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ. Năm 1757, vua Chân Lạp là Nặc Tôn (Pra Bát Ong Thong) trao cho chúa Nguyễn đất Tầm Phong Long (tương đương với vùng Tứ giác Long Xuyên ngày nay) để đền ơn cứu giúp giành lại ngôi vua, đánh dấu quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ của các vương triều Việt Nam trên toàn bộ vùng đất Nam Bộ cơ bản hoàn thành.

Cùng với quá trình khai thác những vùng đất còn hoang vu của cư dân vùng Nam Bộ, Triều đình nhà Nguyễn đã liên tục thực hiện việc quản lý lãnh thổ với tư cách là chủ nhân vùng đất này. Vua Gia Long cho đào kênh Thoại Hà (An Giang; Vua Minh Mạng cho đào kênh Vĩnh Tế dài trên 70km, nối Châu Đốc với Hà Tiên,... Về trách nhiệm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, các Chúa Nguyễn đã kiên quyết đánh bại các hành vi xâm phạm lãnh thổ ở vùng đất Nam Bộ của quân Xiêm vào các năm 1715, 1771. Năm 1785, anh hùng Nguyễn Huệ đã đánh tan sự xâm lược của quân Xiêm trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút (Tiền Giang). Đầu thế kỷ XIX, các vua nhà Nguyễn đã cho xây dựng hệ thống các đồn lũy trấn thủ dọc theo biên giới để bảo vệ lãnh thổ.

Năm 1858, Pháp xâm lược Việt Nam. Năm 1862, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông của Việt Nam là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường buộc triều đình Huế phải ký Hiệp ước nhường quyền cai quản các tỉnh này cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm các tỉnh còn lại là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, Triều đình Huế phải ký Hiệp ước năm 1874, nhượng tiếp cho Pháp 3 tỉnh miền Tây. Trước hành động xâm lược của Pháp và các Hiệp định ký kết giữa triều đình nhà Nguyễn với chính phủ Pháp, Nhà nước Campuchia và các nước khác lúc đó không có bất cứ một phản ứng gì. Điều đó chính là sự thừa nhận chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất này. Đồng thời, cũng chính Nhân dân Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước đã đứng lên chống thực dân Pháp, chứ không phải là Nhà nước Campuchia tổ chức chống Pháp ở Nam Bộ.

Cùng thời gian này, năm 1863, Vương quốc Campuchia ký hiệp ước chịu sự bảo hộ của Pháp. Trong hiệp ước này, Vương quốc Campuchia không hề đề cập tới phần lãnh thổ do Pháp chiếm ở Nam Kỳ.

Sau khi hoàn tất việc đặt Campuchia dưới chế độ bảo hộ (năm 1863) và Nam Kỳ dưới chế độ thuộc địa (năm 1867), Pháp đã thay mặt Việt Nam thỏa thuận với Campuchia quy định ranh giới giữa Nam Kỳ và Campuchia.

Ngày 16/3/1870, một ủy ban Pháp - Campuchia đã được thành lập để nghiên cứu và thực hiện phân vạch một đường ranh giới ở vùng Tây Ninh, Côngpôngchàm. Ngày 15/7/1873, Thống đốc Nam Kỳ và vua Nôrôđôm ký Công ước hoạch định vĩnh viễn đường biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia từ Tây Ninh - Côngpôngchàm đến Hà Tiên - Kămpốt, ấn định 124 cột mốc (đánh số thứ tự liên tục từ N°1 đến N°124), mốc N°1 đặt ở Tây Ninh - Côngpôngchàm, mốc N°124 đặt ở Hà Tiên - Kămpốt. Đến năm 1876, việc cắm mốc giới trên thực địa đã hoàn thành.

Sau khi hoàn thành việc phân giới và cắm mốc trên toàn bộ đường biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia theo Công ước ngày 15/7/1873, do có những phát sinh trong quá trình quản lý thực tế, Toàn quyền Đông Dương đã ban hành một số văn bản để điều chỉnh, sửa đổi một số điểm trên biên giới, cụ thể: (xem tiếp trong hình đính kèm)

Ngay sau khi được thành lập tháng 9/1945, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định chủ quyền vùng đất Nam Bộ, bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ liên tục được tất cả các hiệp định có giá trị pháp lý quốc tế sau đó công nhận, như: Luật số 49-733, do Quốc hội Pháp thông qua và được Tổng thống Pháp lúc đó là Vincent Auriol ký vào ngày 04/6/1949, với nội dung chính là: Trả lại Nam Kỳ cho ''Quốc gia Việt Nam", đại điện là Bảo Đại. Đây là văn bản pháp lý chính thức của Nhà nước Pháp và phù hợp với thực tế lịch sử, bởi trước đó, trong các năm 1862 và 1874 chính nhà Nguyễn của Việt Nam đã ký hiệp ước nhượng 3 tỉnh miền Đông và 3 tỉnh miền Tây cho Pháp; nay Pháp phải trả lại Việt Nam. Trước thắc mắc của Campuchia, ngày 08/6/1949, Chính phủ Pháp đã có thư chính thức gửi Quốc vương Campuchia lúc đó là Sihanouk, nói rõ cơ sở pháp lý và lịch sử của quyết định trên. Với bức thư này, Pháp không chỉ thừa nhận một thực tế lịch sử chứng tỏ người chủ thực sự của vùng đất Nam Bộ là Nhà nước Việt Nam, mà còn nêu lại một lần nữa cơ sở pháp lý khẳng định vùng đất Nam Bộ đã thuộc chủ quyền của Việt Nam từ trước khi Pháp đặt chân đến Nam Bộ.

Như vậy, ngay trong giai đoạn từ năm 1873 - 1942, việc phân định biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia đã được Pháp tiến hành và xác định rõ phần đất của Campuchia, phần đất của Nam Kỳ (nay là Nam Bộ của Việt Nam); Luật số 49-733 do Quốc hội Pháp thông qua và được Tổng thống Pháp là Vincent Auriol ký vào ngày 04/6/1949 chỉ là một lần nữa khẳng định vùng đất Nam Bộ là của Việt Nam, không phải là việc cắt đất của Campuchia giao cho Việt Nam.

Hiệp định Geneve (năm 1954) về Đông Dương; Hiệp định Paris (năm 1973) về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam; được các nước Ủy viên Thường trực Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc là Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc công nhận; chính phủ Lào, chính phủ Campuchia và các nước trên thế giới thừa nhận theo đường biên giới mà Pháp đã phân định.

Ngày 03/3/1964, ông Huot Sambath - Quốc vụ khanh đặc trách ngoại giao của Campuchia gửi cho Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk một dự thảo tuyên bố về nền trung lập của Campuchia kèm theo dự thảo Nghị định thư, trong đó có đoạn nêu rõ ranh giới của Campuchia với Việt Nam là: “đường biên giới trên các bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương (Service Géographique de rindochine) thông dụng trước các Hiệp định Giơnevơ năm 1954”. Tiếp đến, ngày 20/6/1964, Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc gửi thư cho Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ, mong muốn gặp Chủ tịch để trao đổi ý kiến về vấn đề biên giới. Trong thư nói rõ: “Chúng tôi từ bỏ mọi đòi hỏi về lãnh thổ để đổi lấy sự thừa nhận chính thức đường biên giới đã được vạch hiện nay và chủ quyền của chúng tôi trên các đảo ven bờ mà chính quyền Sài Gòn đã yêu sách”. Đến ngày 18/8/1964, Nôrôđôm Xihanúc lại gửi thư cho Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, trong đó khẳng định: “Về phần mình, Campuchia chỉ đòi sự công nhận đường biên giới hiện tại trên đất liền của mình như được vẽ trên các bản đồ thông dụng đến năm 1954 và công nhận chủ quyền của Campuchia đối với các đảo ven bờ mà chế độ Sài Gòn đã đòi hỏi mà không có một chút lý lẽ gì để biện hộ được".

Ngày 08/6/1967, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà tuyên bố: (1) Công nhận và cam kết tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia trong biên giới hiện tại; (2) Hoàn toàn tán thành tuyên bố ngày 31/5/1967 của Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam công nhận biên giới hiện tại giữa miền Nam Việt Nam và Campuchia.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Nhà nước Việt Nam với chính quyền Campuchia đã có quan hệ hợp tác, thể hiện sự tôn trọng đường biên giới giữa hai nước. Lực lượng cách mạng hai nước đã giúp đỡ lẫn nhau, cùng đấu tranh chống xâm lược. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia, quân đội và Nhân dân Việt Nam đã cùng Nhân dân Campuchia chống lại sự xâm lược của Mỹ. Thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam và cách mạng Campuchia vào tháng 4/1975 có sự đóng góp của sự đoàn kết quốc tế giữa lực lượng cách mạng và Nhân dân hai nước.

Những năm 1975 - 1978, chính quyền Khmer đỏ ở Campuchia đưa quân sang xâm lược Việt Nam. Quân đội và Nhân dân Việt Nam vùng biên giới đã đánh trả đích đáng kẻ xâm lược, bảo vệ vững chắc biên giới, lãnh thổ của Tổ quốc. Tháng 12/1978, đáp lại lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, quân đội và Nhân dân Việt Nam đã giúp đỡ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ Khmer đỏ (ngày 07/01/1979), cứu Nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, giúp Campuchia hồi sinh và xây dựng cuộc sống mới.

Sau khi chính quyền Khmer đỏ ở Campuchia bị lật đổ, nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia được thành lập. Ngày 18/02/1979, hai nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Campuchia đã ký Hiệp ước “Hòa bình, hữu nghị và hợp tác” tại Điều 4 đã thống nhất: “Hai bên cam kết sẽ giải quyết bằng thương lượng hòa bình tất cả những bất đồng có thể nảy sinh trong quan hệ hai nước. Hai bên sẽ đàm phán để ký một hiệp định hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước trên cơ sở đường biên giới hiện tại; quyết tâm xây dựng đường biên giới này thành biên giới hòa bình, hữu nghị lâu dài giữa hai nước”. Đến nay, hai bên đã phân giới được 920km trong tổng số 1.137km đường biên giới. Trên đường biên có tổng chiều dài 1.137km, chạy qua 10 tỉnh của Việt Nam và 9 tỉnh của Campuchia, hai nước Việt Nam - Campuchia đã hoàn thành phân giới khoảng 1.045km đường biên giới, xây dựng được 2.047 cột mốc tại 1.553 vị trí (chưa kể cột mốc không số cắm tại ngã ba biên giới Việt Nam - Campuchia - Lào). Từ đó, góp phần duy trì và củng cố đường biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia luôn hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác phát triển bền vững, vì lợi ích của hai quốc gia cũng như hạnh phúc, thịnh vượng, phồn vinh của Nhân dân hai nước.

Là cư dân sống lâu đời trên mảnh đất Tây Nam Bộ, đồng bào Khmer Trà Vinh cùng với đồng bào người Kinh, người Hoa… luôn giữ vững tinh thần đoàn kết để chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, dày công khai phá, cải tạo những vùng đất hoang vu, khô cằn trở nên phì nhiêu, biết bao mồ hôi, nước mắt và xương máu của đồng bào các dân tộc đã đổ xuống mảnh đất này. Vì vậy, trong tâm thức của đồng bào Khmer, đây chính là nơi chôn rau, cắt rốn, là quê hương, đất nước của mình. Từ nhận thức ấy, đã hun đúc cho đồng bào tình yêu quê hương, đất nước và ý chí đấu tranh kiên cường chống kẻ thù xâm lược, biết bao cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Khmer đã sát cánh cùng đồng bào người Kinh, người Hoa đứng lên đánh Pháp, đuổi Mỹ giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước và tham gia 2 cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc.

Trong quá trình chinh phục thiên nhiên và đấu tranh với kẻ thù xâm lược đã tạo nên truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa đồng bào Khmer với các dân tộc anh em cùng chung sống trên địa bàn. Chính tình yêu quê hương, đất nước và truyền thống đoàn kết với các dân tộc anh em đã tạo nên sức mạnh giúp cho đồng bào khi đương đầu với bao khó khăn, gian khổ, hy sinh, mát mát, với những âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt của các thế lực phản động, thù địch, đồng bào vẫn kiên trung, một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Từ những vấn đề nêu trên, tất cả cán bộ, đảng viên và Nhân dân Trà Vinh đặc biệt là đối với các vị chư tăng và đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh Trà Vinh cần nâng cao cảnh giác trước các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các hội nhóm Khmer Kampuchia Krom về Lịch sử vùng đất Nam Bộ của Việt Nam,… đây thực chất là những âm mưu thủ đoạn nhằm kích động hận thù dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; không nghe theo những luận điệu kích động đấu tranh; không tham gia các hoạt động kỷ niệm ngày mất đất (04/6) hoặc biểu tình đòi đất, cũng như các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của Nhân dân Việt Nam.

TRẦN BÌNH TRỌNG/Báo Trà Vinh
Link nguồn: https://www.baotravinh.vn/chinh-tri/su-that-lich-su-ve-vung-dat-nam-bo-cua-viet-nam-41002.html?zarsrc=31&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address

Ho Chi Minh City