Đưa văn vào đời

Đưa văn vào đời

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Đưa văn vào đời, Education Website, Ho Chi Minh City.

09/04/2026

Bí mật của người giàu có
Nhiều bạn trẻ thấy người ta khởi nghiệp, cũng lật đật mở công ty, cửa hàng, quán café... nhưng chỉ được ba bữa. Vấn đề không phải là kinh nghiệm xử lí công việc, kiến thức chuyên môn, kiến thức quản trị hay tuổi tác, vấn đề là KỸ NĂNG LÀM CHỦ không có. Nên phải dẹp tiệm.
Muốn làm chủ, quan trọng nhất là phải có kĩ năng giao việc. Muốn có kĩ năng này, bản thân mình phải là người luôn chân luôn tay, luôn mắt luôn miệng, luôn tính tính toán toán TỪ BÉ. Tony tuyển một bạn từng học cấp 3 dân lập N, thi đại học 29 điểm. Nó nói tụi con học vì thành tích của trường, nên ban đêm thầy cô kèm truy bài đến 11 giờ. Bài toán vừa đưa ra, ông thầy đưa ngay công thức ráp vô giải. Để văn này chưa suy nghĩ dàn ý là cô giáo cung cấp ngay một bài văn mẫu. Nên tụi con mất khả năng tìm kiếm và tổng hợp thông tin. Việc ngồi lục lọi trong thư viện, tìm kiếm bằng Google, đọc hẩm bà lằng... để có thông tin mình cần LÀ KỸ NĂNG buộc phải có của người giỏi giang thật sự. Hằng ngày nó lên công ty, chờ ai giao việc thì làm, không thì ngồi đấy, cứ mỗi 5 phút ngáp 1 cái. Thấy kĩ năng ngáp tốt quá, phòng nhân sự bèn bố trí nó ngồi ở chỗ cửa ra vào. Từ đó, tuyệt đối không còn con ruồi nào bay được vào bên trong công ty nữa.
Tony quen với bốn đại lí bán phân ở một huyện ở miền Tây. Bốn đại lí này từng là người giúp việc cho ông Thoàn, một người giàu có trong làng. Ông Thoàn có hàng ngàn công đất, hàng trăm chiếc ghe hàng xáo, mấy nhà máy xay gạo, quán xá trên chợ, rồi vịt nuôi thả đồng, trại nuôi gà, nuôi heo, có nhà ở Sài Gòn Cần Thơ... và người ăn kẻ ở trong nhà lên tới hàng trăm. Cứ nhậu là bốn anh này kể chuyện “hồi xưa” với lòng biết ơn ông Thoàn vô hạn. Sáng nào cũng vậy, cứ đâu 4-5 giờ là ông Thoàn ngủ dậy, ngồi trên bộ ván (cái phản) bằng gỗ mun, sai gia nhân làm việc. Đố đứa nào mà rảnh tay rảnh chân với ông. Hồi đó thì tụi này bực mình với ông Thoàn vì ông bắt làm nhiều quá. Nhưng giờ nghĩ lại, thấy số mình may mắn. Mấy ảnh hỏi Tony chứ HAM LÀM VIỆC và BIẾT GIAO VIỆC có phải là bí mật của người giàu có không? Vì sáng sáng, thấy ông Thoàn cứ nhắp ngụm trà vô, kêu anh A làm gà, anh B ra đắp đất, chị C trồng rau, anh D chẻ củi, chị E lau nhà, chị F kiểm kho, chị G múc nước, anh H vô ruộng thăm lúa, anh I thu nợ... còn ông thì cộng cộng trừ trừ trong sổ đến khuya, suốt ngày nghĩ ra cái mới để làm ăn, mở rộng sản xuất. Tony nói đúng rồi, biết làm việc thì bình thường, nhưng biết giao việc là năng lực đặc biệt chỉ dành cho người rất giỏi, không phải cái đầu nào cũng nghĩ được việc cho người khác làm đâu. Càng nghĩ việc cho đông người làm thì càng tài năng. Đó là bí mật đầu tiên của người giàu có, nếu mình vẫn có thời gian rảnh rỗi trong ngày mà không biết phải làm gì, thì thôi đừng mở cái gì ra làm ăn cả nhé. Dẹp tiệm mất tiền rồi khóc.
Muốn giao việc, phải có óc quan sát, phải biết sắp xếp công việc theo khả năng của từng người, QUAN TRỌNG LÀ PHẢI TỪNG LÀM TỪ VỊ TRÍ THẤP NHẤT. Để mình giao người ta mình biết bao lâu thì xong, thế nào thì tốt. Ví dụ mình chưa nấu cơm bao giờ thì mình giao việc nấu cơm, nó quắt cho bốn tiếng mình không nói được. Rồi một nồi cơm ngon là thế nào mình cũng ko biết, có khó khăn gì trong quá trình nấu mình cũng không rành. Nên muốn thành đạt, phải biết làm việc nhà, quét váng nhện, rửa bát, bắt điện, sửa ống nước... khi còn nhỏ, lớn lên khi có tiền thì có thể không cần làm, mướn người khác làm, nhưng mình phải biết để nghiệm thu thử như vậy là tốt hay xấu, đạt hay không đạt. Đụng chuyện cũng phải biết làm, nửa đêm ống nước nhà bị vỡ không lẽ không biết bịt lại, thợ nào đến lúc nửa đêm? Nhiều tỉ phú đi lên từ công nhân, tài xế, giúp việc, lao công, buôn bán lẻ đường... Còn người thừa hưởng gia tài thì rất ít người giữ được cơ nghiệp.
Nghe xong, mấy ảnh nói em nói đúng quá Tony, ai từng làm cho ông Thoàn sau này cũng làm chủ hết, vì quen luôn tay luôn chân. Tụi anh ban đầu cũng làm mướn làm công thôi, nhưng chăm chỉ và có đầu óc nên tích lũy được ít tiền. Sau đó mới mạnh dạn mở ra làm, nhỏ trước, lớn sau. Mỗi lần nghe mấy đứa đòi khởi nghiệp mà hỏi “vốn đâu”, thấy mắc cười dễ sợ. Các bạn nghe đứa nào nói vậy thì đừng có đưa tiền cho nó. Nó đốt hết ngay. Có ông tỉ phú nào trên thế giới mà đẻ ra là có một đống tiền đưa sẵn? Toàn tích cóp 9 xu đổi lấy 1 hào cả. Rồi “tiền đẻ ra tiền”, có 2 hào, 5 hào rồi 1 tỉ đô la.
Mấy ảnh nói ở cái huyện này, ngoài tụi anh bán phân bán thuốc, mấy ông chủ cây xăng, chủ xưởng gỗ, chủ xưởng sản xuất vỏ lãi (tàu ghe), chủ đại lý xi măng sắt thép... đều là người làm công của ông Thoàn ngày xưa cả. Còn mấy đứa em ruột của tụi tui, lúc đó ở với ba mẹ, tưởng là sướng, bây giờ vẫn cứ nông dân nghèo. Vì cái gì tụi nó cũng ngại làm. Sáng ngủ dậy là không biết mình phải làm gì ngày hôm nay. NGHĨ KHÔNG RA VIỆC CHO MÌNH THÌ LÀM CHỦ GÌ ĐƯỢC.
Lúc ông Thoàn già yếu, ông vẫn chỉ đạo công việc nên nhà cũng còn khá giả, nhưng khi ổng mất đi thì mọi thứ cũng chấm hết. Cái dở của ông Thoàn là, dù chỉ đạo và sai việc các người làm rất tốt, nhưng lại không cho con cái ông động chân động tay vào việc gì. Gia tài chia xong, mấy đứa con quản lí không nổi vì không nghĩ ra việc cho người khác làm, rồi người làm bỏ đi hết. Mấy đứa con phải bán vàng, rồi bán đất, bán cơ sở làm ăn... thậm chí lấy đồ cổ trong nhà ra bán. Nhà từ đường là cái cuối cùng tụi nó bán để chia nhau ăn. Hết của, các con của ông Thoàn không kiếm sống được vì vừa dở vừa lười. Mấy anh gia nhân cũ, giờ đã có cơ ngơi làm ăn ngon lành, thấy vậy mới nhận mấy đứa con đứa cháu ông Thoàn vô làm bốc vác, coi kho, giao hàng, lau nhà lau cửa, bế em... Mấy ảnh nói vì tình nghĩa mới nhận vô chứ năng suất làm việc tụi nó chỉ bằng nửa người khác.
(Tony Buổi Sáng, Trên đường băng, tr.100-104, Nxb Trẻ, 2018.)

09/04/2026

Nước Đức và chủ nghĩa hoàn hảo trong công việc

Ít ai biết, từ năm 1992, tức chỉ hai năm sau khi thống nhất hai miền Đông Tây, nước Đức là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới, dù dân số chỉ khoảng 80 triệu so với khoảng 300 triệu của Mĩ và hơn một tỉ của Trung Quốc. Trị vì ngôi vô địch thế giới về xuất khẩu trong suốt 17 năm, đến năm 2009, Trung Quốc mới qua mặt nước Đức vì xuất rất nhiều sản phẩm là tài nguyên thiên nhiên, nhiều sản phẩm thâm dụng lao động, trong khi nước Đức phần lớn sản phẩm xuất khẩu là xe hơi, máy móc công nghệ và chất xám.
Vào nhà một người Đức, khó có thể phát hiện một sản phẩm nào mà không phải Made in Germany. Thậm chí bông ngoáy tai nước Đức cũng sản xuất, dù giá thành sản xuất là 10 USD so với 1 USD của người Trung Quốc. Khi Trung Quốc mở cửa và thành công xưởng của thế giới, các nước khác thấy không hiệu quả nếu tự họ sản xuất, nên qua Trung Quốc đặt hàng hết. Nhưng nước Đức thì không. Họ vẫn tự sản xuất cái cục gôm, cây bút chì, chiếc xe đạp... dù giá thành rất cao, và vì họ có một phân khúc thị trường riêng. Đó là những người quen dùng đồ Đức trên khắp thế giới.
Vì sao? Vì người Đức theo chủ nghĩa hoàn hảo trong công việc. Giữa sự chao đảo của suy thoái kinh tế, nước Đức vẫn không hề hấn gì, và là chỗ dựa cho bao nhiêu quốc gia khác trong cộng đồng chung châu Âu. Nền giáo dục Đức là nền giáo dục mà Tony thích nhất, vì nó đào tạo ra những người ra trường để làm chủ, để làm quản lý, để "cho việc" thay vì tốt nghiệp ra trường để đi “xin việc” cho tốt. Một nền giáo dục dựa trên sự kỉ luật vô cùng nghiêm khắc. Sự tập trung cao độ của người Đức còn thể hiện qua bóng đá, năm 2014, tại World Cup được tổ chức tại Brazil, dưới áp lực của hàng vạn khán giả nước chủ nhà trên sân, các chàng trai đến từ nước Đức không hề bị run chân run tay gì, thắng vẫn vui nhẹ nhàng, thua vẫn bình thản thi đấu, ai vị trí người đó, tổ chức tấn công phòng thủ bình thường, và họ đã đăng quang ở ngôi cao nhất. Ít ai biết người Đức đã sang Brazil bốn năm trước, xây dựng một khu resort riêng cho đội tuyển Đức sang ăn ở tập luyện cho quen khí hậu, với đầu bếp bác sĩ đến lao công đều là người Đức. Khu resort này sau World Cup được tặng lại cho nước chủ nhà như là một món quà kỉ niệm.
Ở trường, giáo viên Đức tỉ mỉ sửa cho học sinh từng lỗi dấu chấm, dấu phẩy... để tạo thành thói quen “hoàn hảo” trong mọi thứ. Giáo viên Đức tuyệt đối không bao giờ xuề xòa cho qua, vì như vậy là hại cá nhân từng học sinh, hại đến xã hội sau này vì thói quen làm sai, bất cẩn. Họ kiên quyết bắt sinh viên làm lại, bảo vệ lại một luận văn luận án đến khi nào hoàn hảo mới thôi. Nên khi ra trường, những sinh viên ấy có thói quen khắt khe từng chút trong công việc, không tốn thời gian sửa sai vô ích.
Người Đức quan niệm, trong cuộc đời con người, trong cuộc sống, có thể méo mó một chút để thú vị. Tuy nhiên, trong học tập, sản xuất và kinh doanh, chúng ta phải áp dụng chủ nghĩa hoàn hảo. Nếu bạn biết lái xe hơi, cầm vô lăng xe Đức sản xuất sẽ thấy cảm giác yên tâm hơn nhiều so với xe đến từ các nước khác. Anh bạn của Tony, một kĩ sư làm việc cho một hãng xe Đức ở Sài Gòn, hay kể Tony nghe về câu chuyện ông sếp người Đức đã dạy anh như thế nào. Anh nói, ở Việt Nam, mình hay nói đại khái sản phẩm này là tất cả tâm huyết của tao. Tâm huyết là tim và máu, tức cũng ghê gớm lắm rồi, nhưng với người Đức, tâm huyết có ý nghĩa gì đâu, họ còn đem cả tính mạng ra bảo lãnh.
Ở nhà Tony có một cái thau giặt đồ bằng nhựa, người thân mang về từ Đông Đức từ năm 1988, để ngoài nắng mưa gió sương nhưng bây giờ vẫn còn xài tốt, màu đỏ vẫn rực rỡ. Chỉ là một cái thau nhựa thôi, nhưng vì Made in Germany nên đó là một đẳng cấp khác, một sản phẩm do người Đức tạo ra. Còn nếu bạn học kiến trúc, một bộ bút vẽ Made In Germany là cái phải có của mọi kiến trúc sư chuyên nghiệp trên thế giới.
Ở Đức, giáo dục công lập được miễn phí kể cả đại học, áp dụng cho cả sinh viên nước ngoài nhưng với điều kiện là phải biết tiếng Đức và có bằng Abitur, tức tú tài. Giáo dục Đức phân cấp học sinh từ lúc tốt nghiệp tiểu học, tức ai giỏi thì bắt đầu lớp 5 sẽ đi theo hướng đào tạo hàn lâm, còn lại thì theo hướng thực hành. Cả hai hệ đều được xã hội tôn trọng như nhau, vì khả năng một đứa trẻ khác nhau nên cho nó học cái gì phát huy tối đa khả năng của nó. Ví dụ bạn Anne không tưởng tượng ra được cái hình cầu nội tiếp trong hình nón, mở hai vòi nước không tính được sau bao nhiêu phút thì đầy cái bồn, thì thôi định hướng cho Anne học văn, sử, địa, âm nhạc nghệ thuật. Chứ bắt nhớ sin cos làm gì cho nóng não?
Cái cuối cùng chính là kỉ luật của người Đức, nhiều bạn trẻ ngại nếu phải học hay làm với họ. Họ chấp hành tuyệt đối các luật lệ, các qui tắc của tổ chức một khi là thành viên. Nói 8 giờ sáng bắt đầu học là đúng khi kim giây vừa chỉ số 12 của 8 giờ là cửa trường đóng lại, vô trễ năn nỉ cỡ nào bảo vệ cũng không cho vô. Trong lớp đúng 8 giờ là thầy trò bắt đầu mở sách vở ra và học. Khi gửi con vô trường công lập ở Đức, hay hệ thống trường quốc tế Đức, phụ huynh học sinh sẽ ký vào một nội quy dài ngoằng, trong đó có nhiều cam kết, đại loại là không được ăn cắp (tức quay bài, đạo văn), nói dối (tức cha mẹ làm giùm bài cho con, nói dối thầy cô)... Nếu vi phạm, học sinh sẽ phải ngồi suy nghĩ về hành vi của mình một ngày. Nếu tái phạm, học sinh đó sẽ bị đuổi học, các trường công lập khác cũng không muốn nhận, nếu muốn học tiếp thì vô trường tư sẽ rất đắt đỏ. Tony hỏi hiệu trưởng một trường quốc tế Đức ở Thượng Hải vì sao có qui định đó, ông nói vì giáo dục nước Đức không tạo ra sản phẩm ăn cắp và nói dối. Đứa ăn cắp và nói dối thì không kiêu hãnh được, không ngẩng đầu được. Thế thì tại sao phải đuổi học? Ông nói vì nó đã cam kết mà vẫn tái phạm thì không có lòng tự trọng. Không có lòng tự trọng thì không nên đào tạo, nó có trình độ học vấn cao thì lại nguy hiểm cho người khác.
Để sang và chảnh, người ta phải tự mình giỏi giang, tự mình đạo đức, tự mình tử tế, tự mình văn minh. Bạn trẻ nào theo chủ nghĩa hoàn hảo trong công việc thì không bao giờ sợ bị thất nghiệp. Và may mắn thay, hồng phúc thay cho doanh nghiệp nào có được nhân viên theo chủ nghĩa hoàn hảo này, làm ăn với họ sẽ vô cùng yên tâm vì không lo sai sót.
Bắt đầu chủ nghĩa hoàn hảo đầu tiên với bản thân mình, sạch sẽ thơm tho trí tuệ thể lực đều không thể ngon hơn, rồi trong 1m bán kính quanh mình, giữ sạch sẽ gọn gàng không thể sạch đẹp hơn. Rồi bắt đầu lên bán kính 2m, 5m, 100m, cả ngôi nhà, cả khu phố,... tất cả đều phải hoàn hảo, hoàn hảo...
(Tony Buổi Sáng, Trên đường băng, tr.79-83, Nxb Trẻ, 2018.)

08/04/2026

Thầy đã cất công ngồi soạn ra, chắc các bạn cũng chịu khó đọc phải không ?
👇👇👇👇👇
Tháng sáu, 1911.
Hoa điệp thắp chói đỏ từng mảng trời thành phố Sài Gòn. Mặt đường lấm tấm những cánh hoa như xác pháo sau đêm giao thừa.
Anh Ba bước chầm chậm. Những cánh hoa điệp rơi lả tả xuống dấu chân anh. Anh bâng khuâng nghĩ về lời hẹn của ông chủ sự cảng Nhà Rồng: “Ngày mồng hai tháng sáu này, tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin từ Tua-ran vào sẽ cập Bến Nhà Rồng, ở lại vài ba ngày và có thể họ tuyển thêm bồi tàu. Tôi hứa sẽ giới thiệu anh với ông thuyền trưởng Lu-i Ê-đu-a Mai-sen...”
Anh Ba càng băn khoăn, nghĩ ngợi sẽ nói gì với cha lần gặp cuối cùng này. Liệu anh có cầm được nước mắt trước mặt cha lúc anh phải nói lên cái điều “dứt áo ra đi biệt xứ” không?
Đường phố yên tĩnh và êm ả. Anh Ba hơi tần ngần trước cửa lữ quán. Một người đàn ông đã luống tuổi ngồi ngay lối vào cửa quán. Anh vừa bước lên thềm, ông ta hỏi ngay:
- Anh hỏi gì?
- Thưa... tôi xin gặp ông phó bảng Nguyễn Sinh Huy ạ.
Người coi quán nhìn anh Ba từ đầu xuống chân và hơi nhíu mày lúc nhắc thấy anh đi dép “cu li”.
- Anh là ai mà dám gặp quan phó bảng?
- Dạ... tôi là con...
- Anh hống đùa chứ?
- Đâu dám !
Người coi quán lại đảo mắt xuống đôi dép “cu li” dưới chân anh Ba, chưa hết ngờ vực. Nhưng lúc ông nhìn lên bắt gặp cặp mắt anh Ba sáng long lanh, ông đổi giọng:
- Mời cậu ấm lên lầu. - Ông chỉ tay về lối cầu thang.
Anh Ba vừa đặt chân lên bậc thang gác, ông ta lại chạy tới, vồn vã:
- Cậu ấm lên khỏi thang gác này thì quẹo theo hành lang phía tay trái, đến phòng có chữ Cửu treo trên cửa ra vào, cậu kéo dây chuông, nghe cậu.
Anh Ba cúi đầu cảm tạ và nhẹ nhàng bước lên cầu thang gỗ đen màu sừng. Hành lang hẹp, gỗ nhẵn bóng. Ánh sáng lờ mờ, hành lang như con đường dưới đêm trăng lu. Anh hồi hộp dừng bước trước cửa phòng treo chữ Cửu. Cái dây chuông thòng lòng ngang tầm tay. Anh đưa ngón tay trỏ định kéo dây chuông nhưng thụt lại ngay và anh úp bàn tay hồng đỏ lên vầng trán nóng ran. Anh đứng dựa vào lan can một lát. Vuốt lại mái tóc, anh lại bước đến cửa, mạnh dạn kéo dây chuông rồi lại tới dựa lan can, đợi...
Cánh cửa hé mở. Một ông già bước ra. Hai người cùng quan sát lẫn nhau. Anh Ba lễ phép bước đến hỏi trước:
- Thưa bác, xin bác cho cháu được gặp ông phó bảng Nguyễn Sinh Huy.
Ông già nhíu đôi lông mày trắng như hai mũi bông, tóc ông xếp làn sóng đổ dài xuống quá ót và bạc phơ. Bộ râu ba chòm rung rinh theo nhịp miệng, ông nói:
- Anh là người có quan hệ chi với quan lớn? - Mắt ông già không ngừng xem xét diện mạo và đôi dép “cu li” dưới chân anh Ba.
Hiểu được thái độ ông già, anh Ba lễ phép thưa:
- Cháu là con quan phó bảng Huy, thưa bác.
- Tr...ời đất! - Ông già rướn cao đôi mày, ngạc nhiên chắp hai tay trước bụng. - Xin lỗi cậu ấm. Tôi đâu dè cậu là con quan phó bảng Nguyễn Sinh Huy. - Ông bước lại gần anh Ba: - Tôi hống đeo kiếng nên đâu có nhìn rõ ! - Ông chìa hai tay: - Mời cậu ấm vô ạ.
Anh Ba bước vào phòng. Ông già dẫn anh đến bên chiếc giường con:
- Đây là nơi quan lớn nghỉ. Cậu ấm ngồi tạm. Quan lớn hiện đang dùng trà với ông cử dưới Lục tỉnh lên chơi ngoài phòng khách.
Anh nhìn theo ông già, lắc đầu nói thầm:
- Cha mình đã bỏ cái ghế quan trường như bỏ cái tấm giẻ rách lau chân, nhưng mọi người lại trọng vọng nó ngợp cả mắt. Tội nghiệp!
Ông già trở ra, chìa tay:
- Quan lớn mời cậu vô.
Anh Ba cúi đầu đáp lễ và đi vào sau tấm bình phong.
Phòng trà lữ quán mà ông Huy đang tiếp khách là một gian nhà vuông vức, sàn gỗ đen bóng. Bộ bàn trà kê sát cửa sổ lớn. Ngoài cửa sổ là vườn cây râm mát, bóng trúc ngoắt ngọn vào khung cửa. Hoa ngoài vườn đưa hương vào phòng trà. Ông phó bảng Huy ngồi ở chiếc ghế kê sát cửa sổ. Màu xanh ngoài vườn trúc tỏa vào quanh nơi ông ngồi. Ông cử nhân miền Lục tỉnh ngồi đối diện. Hương chè quyện hương vườn xuân đưa vào ngọt cả không gian.
Anh Ba bước vào chắp tay đằng trước cúi chào cha và khách của cha. Anh đứng nghiêm trang, tay vẫn giữ trước ngực. Ông khách chìa tay ra phía trước:
- Mời cậu ấm an tọa.
Anh Ba cúi đầu đáp lễ. Nhưng anh chưa được cha cho phép nên vẫn đứng nguyên vị trí. Ông phó bảng nhìn con, giọng nghiêm mà ấm:
- Quan bác đã cho phép, con ngồi vào ghế.
Anh Ba bưng chiếc ghế lùi xuống một chút, không dám ngồi ngang hàng với những người bề trên mình. Vị khách cầm ấm sứ lễ phép mẫu mực gia phong của anh. Ông khách ân cần mời anh uống trà. Anh Ba đỡ lấy chén trà trên tay vị khách. Ông phó bảng giới thiệu với bạn:
- Cháu là Tất Thành, con thứ ba của tôi.
Ông cử miền Lục tỉnh gật gù nhưng mắt vẫn ánh lên sự băn khoăn khó hiểu về bộ quần áo vải thô và đôi dép “cu li” nhuộm vẻ phong trần của người thanh niên có khuôn mặt tuấn tú này. Anh Ba hơi bối rối. Ông khách vẫn nhìn anh Ba, và trong mắt ông lộ rõ niềm xúc động khó tả. Ông phó bảng Huy giục con:
- Thành chuyên trà mời quan bác, con!
Anh Ba thay ấm trà cũ. Anh tráng ấm chén qua nước sôi và đang chuyên trà thì khách đã xin cáo lui:
- Xin phép quan bác, tôi còn ở Sài thành sẽ còn tới hầu chuyện quan bác. Giờ này để quan bác và cậu ấm bàn bạc việc nhà.
Ông phó bảng đứng lên, tay chắp trước bụng. Ông cử nhân Lục tỉnh nhìn anh Ba, nói:
- Tôi đã kính mộ quan bác: một đại nhơn, đại đức. Nay tôi càng kính phục quan bác có một người con, đúng như cổ nhơn dạy: “Ty dĩ tự mục, khiêm nhi dũ quang, tiến đức tu nghiệp”.
Ông phó bảng chắp tay xá ông bạn và mỉm cười. Anh Ba hơi bối rối về lời khen mình, anh lễ phép:
- Thưa bác, cháu cũng chỉ học hỏi theo người xưa là “Lập nghiệp thúy ưu tu thân” thôi ạ.
Ông cử đặt bàn tay lên vai anh Ba, nói giọng cảm phục:
- Cậu ấm ơi ! Hậu sanh khả úy. Hậu sanh khả úy. Nhìn thấy cậu, tôi đã nói ngay với quan bác: một con người thành nhân trước khi thành nghiệp...
- Dạ không dám, thưa bác, cháu chỉ là...
Anh Ba chưa nói hết điều định nói, ông cử đã chắp tay xá xá đi ra...
Không khí trong phòng lặng ngắt. Ông phó bảng Huy vẻ băn khoăn hỏi:
- Sao con vẫn còn quanh quẩn ở đây?
- Thưa cha, con sắp đi xa Tổ quốc. Con gặp cha lần này có lẽ... có lẽ... - Anh Ba rưng rưng nước mắt.
Ông Huy sắc mặt biến đổi, giọng hơi dịu:
- Con đi xuất dương đến nước nào?
- Dạ, con sang Pháp và có thể còn đi nhiều nước khác nữa để học hỏi...
- Đế quốc Pháp là kẻ thù của Việt Nam mình, sao con lại sang Pháp để mưu việc cứu nước?
- Dạ, thưa cha, con đã giải bày với cha cái điều ấy từ hồi còn ở kinh đô Huế ạ.
- Bấy giờ con hãy còn thơ, vừa qua tuổi vị thành niên. Nay cha muốn biết được điều suy nghĩ của con ở tuổi hai mươi.
Từ ngày con ngồi trên ghế trường Quốc học Huế, con học lịch sử nước Pháp, con chú ý nhiều về cuộc cách mạng 1789. Họ đã lật đổ chế độ vua quan phong kiến. Rồi con đọc sách, tìm thấy ở nước Pháp có tự do, bình đẳng, bác ái. Đặc biệt là coi trọng nhân quyền. Có tổ chức bảo vệ nhân quyền, gọi là Hội Nhân Quyền. Con muốn được nhìn thấy tận mắt cái nước Pháp có nhân quyền lại vừa là nước Pháp đi xâm lược các nước nhỏ yếu khác.
Ông phó bảng chống tay xuống thành ghế, bước đến bên con trai. Anh Ba đứng lên, môi anh mím mím, sợ bật lên tiếng khóc. Ông phó bảng đưa vòng tay khoác vào cổ anh Ba và đứng tựa bên khung cửa sổ rợp bóng trúc xanh. Ông nói:
- Thành à! Bây giờ cha mới thực tin con quyết chí ra đi. Con đi vì một mục đích lớn. Con có thể thực hiện được cái điều mà cha và lớp người như cha phải bó tay. Con ơi! (Anh Ba níu chặt cánh tay cha. Nước mắt của hai cha con nhỏ xuống khung cửa). - Ông nói, giọng đằm thắm: - Xưa nay cha vốn ít nói. Với các con, cha càng ít nói nữa. Cha chỉ nói khi thấy không nói không được. Lần này là lần đầu mà cũng có lẽ là lần chót cha nói nhiều với con. Bởi cha con mình gặp nhau lần này, chưa biết rồi đây còn có dịp được gặp lại nữa không? Con đi xa nước, xa cha. Sinh ly có khác gì tử biệt, con ! Có khi "nỗi đau tử biệt không bằng sinh ly". Nhưng cha khóc lần này không chỉ vì đau buồn mà còn có phần tự hào về con nữa.
- Con biết, con đi xa, cha ở lại đây một mình...
- Đừng, con đừng nghĩ về cuộc sống của cha! - Ông khoát tay, nói cao giọng. - Cha đang tự hào về chí lớn của con. Con phải gạt bỏ những tính toán bé nhỏ, tầm thường. Cha rất vui trong lòng về mục đích con đi tìm độc lập cho nước, tự do cho dân. Nhất là nhân quyền... Con nói tới hai tiếng ấy, cha nghe mà nao nao lòng! Cũng như vừa rồi, ông Diệp Văn Cương nói với cha lúc cùng ông Hồ Tá Bang ngoài Phan Thiết vô thăm các bằng hữu là: Hội Nhân Quyền bên Pháp đòi trả tự do cho ông Phan Chu Trinh. Cha lấy làm lạ vì những tên Pháp ở trên đất chúng ta thật đáng nguyền rủa, sao bên Pháp lại có nhân quyền, có Hội Nhân Quyền bênh vực cho cả người nước thuộc địa của họ. Con đi sang bên đó coi thực sự có nhân quyền không.
- Con cũng rất ngờ về những "nhân quyền", "tự do", "bình đẳng", "bác ái"... là những cái nhãn đẹp thôi, cha ạ!
- Có thể là như vậy. Ông Mạnh Tử nói: "Dân vi quý, quân vi khinh" cũng chỉ nói để mà nói chứ chẳng là sự thật ở trên đời này. Nhưng con phải ra thiên hạ xem. Cha ngẫm thấy từ thuở lập quốc tới giờ ở đất nước mình có rất nhiều vị anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm, cứu nước vô cùng oanh liệt, mà chưa từng có một vị anh hùng nào vừa cứu được nước thoát vòng nô lệ vừa đem lại tự do hạnh phúc cho nhân dân.
- Quyền lợi nhân dân có phần trong quyền lợi của Tổ quốc rồi cha?
- Tổ quốc, nhân dân tuy một mà là hai, con ạ. Nước độc lập mà chắc gì dân có hạnh phúc, có cơm no, áo ấm hả con⁽¹⁾.
Anh Ba chớp chớp mắt để lắng vào tâm hồn mình lời cha tâm sự. Ông phó bảng vẫn nhìn ra vườn xanh phất phơ bóng trúc, giọng trầm trầm:
- Cha nói với con về bát cơm manh áo và địa vị làm người của lương dân là điều mà cha đã nghĩ nhiều về nó...
Ông nén tiếng thở dài và bá vai con cùng đi quanh phòng. Anh Ba nén xúc động trước cử chỉ đặc biệt của cha mà suốt cả quãng đời niên thiếu anh chưa từng được thấy. Cho nên, anh đi sóng bước với cha mà lòng lâng lâng nghe cha nói như đang trong một giấc mơ:
- Nhân dân ta có một đặc tính quý vô giá, con ạ. Kẻ ngoại bang kéo đến dù là Hán, là Đường, là Tống, là Nguyên, là Minh, là Thanh... bất kể chúng nó mạnh, chúng nó đông mức nào, dân ta vẫn không biết sợ mà lo sao có một đấng minh quân biết đưa họ đi dẹp giặc cứu nước. Một khi giặc ngoại xâm bị quét sạch ra khỏi bờ cõi, các triều đại vua quan muốn đối xử với bất kể chính sách gì, dân mình đều nghe theo. Sống có trên, có dưới một lòng. Cả những khi nước nhà gặp phải ông vua bạo ngược, hoang dâm vô độ, dân mình cũng chỉ có than thầm, oán trộm. Cốt giữ sao đừng để sơ hở cho kẻ thù bên ngoài lợi dụng nhảy vào cướp nước. Tổ quốc là tài sản thiêng liêng nhất của mọi người dân. Nhân dân mình trung hậu vậy đó. Nhưng nước mình ít có ông vua thương dân, dành cho dân một quyền sống xứng đáng. Lê Lợi, từ một người bình thường ở xứ Thanh, trước cảnh nước mất nhà tan, ngài đã phất cờ tụ nghĩa ở chốn Lam Sơn. Sau ngài vào đứng chân ở đất Nghệ. Dân ta đã từng phò đấng minh quân, nuôi nghĩa quân, một lòng một dạ kháng chiến cứu nước. Nhưng lấy lại được độc lập, Lê Lợi lên ngôi làm Lê Thái Tổ, còn dân ta trước sau vẫn là (…). Nếu có được ông vua nhân từ, thỉnh thoảng đi vi hành, ghé thăm nhà dân là quý lắm rồi. Nhưng con ơi: Vua đến nhà dân vua được tiếng, dân mất buổi cày.
Anh Ba rót nước mời cha. Ông phó bảng uống ngụm trà nóng, mắt ông hướng về anh Ba. Ông nói, vẻ mệt mỏi:
- Cha luôn ngẫm nghĩ đến những gì bất công, nhưng cha, không thể làm được gì hơn. Cha chỉ còn có mong ở con, trút hết nỗi lòng với con như mẹ con đã bóc cái bánh trao tay con vậy. Cha yên tâm thấy con đã biết nhìn vào lịch sử của dân tộc, con biết nghĩ đến sự giải phóng nhân dân trong khi đi tìm đường cứu nước. Cha dặn thêm: Dân Nam ta sống nặng với nghĩa nước tình nhà. Cả làng chung nghe một tiếng trống đình: tiếng trống họp làng, tiếng trống thu thuế, tiếng trống tế thần, tiếng trống hộ đê, tiếng trống có cướp... Cả nhà ăn chung một nồi, đầu đũa chấm chung một bát nước chấm mặn, ngọt, cay, chua. Khi đi xa đất nước, con hãy nhớ, hãy nghĩ về những điều bình thường ấy, con sẽ thấy trong tâm hồn mình cả một quê hương, cả một dân tộc... Thôi. Cha nói đã có phần nhiều lời, - ông đứng lên, - mà cũng chỉ nói được với con lần này thôi. Từ nay con đi... đi vào tương lai. Cha từ đây thuộc về dĩ vãng (Anh Ba ôm mặt khóc). Đừng khóc lúc này, con! Phút quyết định đừng nhỏ lệ. Con nhìn cha xem. Mắt cha chỉ còn lại niềm tin đợi chờ nước độc lập, dân hạnh phúc. Đây. - Ông lấy cái ví lận trong lưng quần tai tượng. Ông nói, giọng khỏe: - Cha định ninh sẽ có một ngày con ra đi. Cha dành số tiền này để góp vào số lộ phí cho con lên đường. Số tiền tuy ít, nhưng là tiền cha ra vốn cho con... Sống phải có “tiền lưng gạo bị”, con ạ.
Anh Ba lau nước mắt, đỡ lấy tay cha. Anh thốt lên:
- Cha !
Ông phó bảng ngăn lại:
- Đừng ! Con đừng gọi cha lúc này ! Con phải gọi: Tổ quốc ! Đồng bào ! Đi... đi con !
Những ngọn trúc quân tử ngoài vườn xanh gục đầu vào cửa sổ chiêm ngưỡng hai trái tim thương nước thương dân.
(Sơn Tùng, Búp sen xanh, tr.324-335, Nxb Kim Đồng, 2024.)

08/04/2026

Đoạn dưới đây rất nổi tiếng nha. Đây là đoạn mẹ Bác Hồ mất tại Huế nè các bạn
🥹🥹🥹🥹🥹
Bệnh hậu sản của chị cử Sắc ngày càng nặng. Sức khỏe của chị suy sụp rất nhanh từ sau ngày anh vắng nhà.
Với cái tuổi lên mười, Côn đã phải nấu cháo, sắc thuốc, chăm sóc bệnh tình của mẹ. Hằng ngày, Côn còn phải bế em sang hàng xóm xin những bà mẹ đang nuôi con thơ cho em được bú nhờ. Các bạn nhỏ trong thành nội cũng thường bế em giúp Côn đi xin sữa và gọi bằng cái tên thân mật: em Xin. Từ đó mọi người quên hẳn cái tên Nguyễn Sinh Nhuận.
Thấm thoát đã hết năm 1900 - năm cuối cùng của thế kỷ mười chín. […]Ngày Tết mà mệ chưa khỏi bệnh, cha, anh Khiêm vẫn chưa về, nhà ta mất Tết, con lại chẳng được ngồi canh nồi bánh tét, không được đốt pháo đón giao thừa !
Mệ sẽ cho con tiền mua bánh pháo dài, con đốt bằng thích.
Con thích có bánh tét, bánh chưng hơn, mệ ạ. Còn pháo thì để anh Khiêm đốt cho vui nhà trong ngày Tết chứ con không ưa tiếng nổ inh tai, nhức óc mô.
Đêm tháng chạp. Gió hú dài trên đường thành.
Côn đặt tay lên ngực mệ, hỏi:
- Mệ ơi! Mệ có làm sao không?
- Mệ không sao đâu. Con ngủ đi, trằn trọc mãi vậy. - Chị Sắc thở dài: - Con săn sóc mệ ốm, lại chăm nom em nữa... e chừng con sụp mất !
- Mệ đừng lo. Con vững lắm. Còn có các đứa bạn con, chúng nó tốt bụng với con lắm.
- Ừ. Con có những đứa bạn rất tháo miếng ăn, đối với con cứ như anh chị em trong một nhà ấy.
- Con bận mấy thì bận, con cũng giúp bạn con cách bồi bìa sách, đóng quyển học (vở học). Các bạn con cứ biểu con có hoa tay, mệ ạ.
- Phải rồi. Bạn đối xử tốt với mình thì mình càng phải ăn ở tốt với bạn. - Chị Sắc sợ con làm quá sức, dặn: - Từ mai, con đừng nấu nướng chi mà xách vạm (dụng cụ đựng cơm bằng sành) ra hàng cơm gánh hoặc con đến trại lính mua một suất cơm về ăn và nhá cho em. Con cần có thì giờ nghỉ, chơi nhởi, con ạ.
- Ngày 22 tháng chạp năm Canh Tý (10-2-1901), kinh thành Huế nhuộm màu ảm đạm. Nền trời chì. Gió hiu hiu thổi. Người đi chợ Tết đông như hội. Dưới sông, thuyền hàng, đò dọc, đò ngang đi về như mắc cửi. Nhiều người đã sắm hoa Tết, vác những cành mai, bưng chậu thủy tiên, vẻ hớn hở.
Côn xách một vịm cơm trong cái gióng mây ba tao vừa đi vừa theo dõi con chim sâu mới ra ràng đang nhảy nhót trên hàng cây hoa đại sau cửa Đông Ba. Côn định đặt vịm cơm xuống bãi cỏ đuổi bắt con chim con. Bỗng tiếng Công tôn nữ Huệ Minh gọi yếu ớt: “Côn... ơi! Mệ... Côn... ch...ết... Côn... ơi...!”
Côn ném vịm cơm xuống. Cái vịm sành vỡ làm đôi, cơm tung tóe trên vạt cỏ úa vàng... Côn chạy một mạch về nhà, miệng la lớn: M...ệ... Mệ... ô...ii!...
- Một ông từ phía đại nội chạy tới níu lấy Côn và bịt miệng, không cho Côn khóc la:
- Náu lặng! Náu lặng ngay không thì mất đầu... Đây là nơi gần với cung vua, gần tòa sứ các quan làm việc, không ai được la to, mi đã rõ chưa?
Huệ Minh, Kỷ và đám trẻ thành nội cũng chạy theo Côn về nhà. Côn mím chặt môi không cho bật ra tiếng khóc. Càng chạy nhanh càng dồn nén nỗi đau tắc nghẹn, nước mắt trào giàn giụa, đất trời quay tít trước mặt. Côn lao lên khóc khi thấy mẹ đã thông một cánh tay xuống bên thành giường, một tay vẫn ôm vòng qua cổ bé Xin và bé Xin không biết mẹ chết cứ ngậm vú mẹ nhay nhay. Côn phủ phục xuống bên mẹ gọi: Mệ ! Mệ ! Mệ ! M...ệ...ô...ii ! Mệ bỏ chúng con... sao... mệ... ơi ! Cha... chưa... kịp... về... mệ... ơi !
Huệ Minh chạy vào bế bé Xin ra khỏi vòng tay thi hài chị cử Sắc. Bé Xin giãy nảy, chuồi chuồi chân, khóc thét... Ngoài sân, hàng xóm đã tới khá đông và có tiếng nhắc nhở:
- Khóc khẽ thôi. Luật lệ cấm mọi tiếng động mạnh đó, nghe.
Nhiều tiếng tắc lưỡi và xuýt xoa:
- Tội nghiệp bà cử! Cha con ông cử vẫn chưa về...
- Tội thân anh em bé Côn ! Mệ chết mà chẳng có một ai thân thích ở gần !
- Giữa lúc năm hết, Tết đến mà mệ chết, cha vắng nhà, ở giữa đất khách quê người này, liệu anh em bé Côn sẽ sống ra sao đây?
- Vậy ra... ông bà cử Nghệ không có ai là người ruột thịt ở miệt ni à?
- Chẳng có một người nào cả.
- Vậy thì, chị em ta, ta là láng giềng gần, mỗi người một tay để đưa bà Cử về nơi an nghỉ cuối cùng.
Vì luật của triều đình, những người chết trong thành nội không được phép làm đám ma ở đó, phải chuyển áo quan ra bên ngoài để hành lễ.
Kinh thành Huế nghiêng nghiêng dưới gầm trời u ám cuối năm. Chiếc quan tài bà cử Sắc - Hoàng Thị Loan - phủ chiếc chiếu hoa “song thọ”, trên nắp áo quan đặt đĩa đèn dầu cháy leo lét, vật vờ. Sáu người đàn ông dân ra hai hàng khiêng tay chiếc áo quan đi từ từ ra phía cửa hậu, luôn qua Đông Thành Thủy Quan. Nguyễn Sinh Côn, đầu đội khâu rơm, mặc áo đại tang, chống gậy, chân đất, đi sau quan tài mẹ. Huệ Minh bế bé Xin đi sóng bước với Côn. Một đoàn bạn nhỏ thành nội, tay cầm hoa huệ, hoa tam vị, cành đại... mặt em nào cũng buồn rượi đi bên Côn. Những người hàng xóm đi đưa đám bà cử Sắc phải đi phía cửa Đông Ba ra sông Hương đợi thuyền chở quan tài từ Đông Thành Thủy Quan tới. Chiếc quan tài đặt vào lòng con đò. Côn gục đầu xuống nắp áo quan mẹ. Ở đầu áo quan, sáp nến chảy dài và tụ lại thành cục, thành hòn dưới chân cây nến. Dòng khói hương cuộn cuộn. Bé Xin vừa mút tay vừa gào mẹ... Côn vừa khóc nấc dồn dập, toàn thân rung lên. Các bạn nhỏ thành nội xúm xít bên Côn.
- Con đò chở áo quan tách khỏi bến, những chiếc đò chở người đưa đám nối theo sau.
- Ngôi mộ bà cử Sắc đã được vun cao. Mọi người thành kính đặt một nắm đất cuối cùng lên mộ rồi lần lượt ra về. Người nào cũng ngoảnh lại, cảm cảnh nhìn hai anh em bé Côn...
- Bãi tha ma Nam Giao hoang vắng. Bóng chiều ôm tròn ngôi mộ màu đất mới nghi ngút khói hương. Côn phủ phục xuống lạy tạ trước tấm bia gỗ trên đầu ngôi mộ mang hàng chữ đen: Hoàng Thị Loan sinh năm Mậu Thìn (1868) tại làng Hoàng Trù, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, từ trần ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-2-1901) tại kinh đô Huế.
Chôn cất mẹ xong, Côn lại bế em về với ngôi nhà hoang vắng trong thành nội. Bà con hàng xóm, các nhà có con học ông cử Sắc đều muốn đón anh em Côn về ở với gia đình họ. Nhưng Côn không đến ở nhà ai. Em còn nhỏ, đang làm bệnh lạ chảy, lại là ngày Tết, nhà nào cũng có cỗ bàn sang trọng, khách hứa đông vui, người ta sẽ khó chịu về sự có mặt của hai đứa trẻ mồ côi mẹ này! Những đêm đầu tiên vắng mẹ, Côn thấy rờn rợn trong đầu. Bé Xin nhớ hơi mẹ, thèm sữa gào khóc; không dỗ được em nín, khổ quá, Côn khóc luôn với em. Tiếng “eng éc” của con chim cú lợn kêu từ đêm trước lại hiện đến trong Côn với cảm giác như bị cái cật nứa cứa vào bàn tay. Côn cất tiếng ru (…).
Cái cảm giác sợ hãi đã bay biến thì nỗi cô đơn lại bao trùm lấy tâm trí Côn lúc cả kinh thành bay lên theo tiếng pháo giao thừa. Côn phải dỗ em bằng kẹo, bánh của các bạn đem đến cho. Tuy em Xin chưa biết nói, Côn vẫn trò chuyện với em như nó đã tiếp nhận được mọi điều của anh nói ra:
Em ăn cái bánh ni ngon hơn mọi thứ bánh khác, đây là lộc của đức Hoàng phi Thành Thái cho anh em mình đó. Em có biết không, mệ Công tôn nữ Huệ Minh thưa với đức Hoàng phi về tình cảnh của anh em mình, cha mình là cử nhân, là giám sinh đang chấm thi ngoài tỉnh Thanh...
Mặc anh dỗ dành, nựng chiều, bé Xin vẫn không ăn bánh, không đòi bú và cả tiếng khóc cũng đang đuối dần ! Côn bế em vào lòng, tựa lưng bên bàn thờ mẹ nhìn đau đáu trong đêm quanh quê mịt mù...
(Sơn Tùng, Búp sen xanh, tr.105-112, Nxb Kim Đồng, 2024.)

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address

Ho Chi Minh City