Tử vi luận giải

Tử vi luận giải

Share

Hơn 10 năm nghiên cứu, giảng dạy và tư vấn bộ môn Tử vi nam phái

04/04/2025

TIẾT THANH MINH (清明節)

I. Thanh Minh là gì?

Thanh Minh (清明) là một trong hai mươi bốn tiết khí (二十四節氣) theo âm dương lịch phương Đông, thường bắt đầu vào ngày 4 hoặc 5 tháng 4 dương lịch. Đây là thời điểm khí hậu ôn hòa, trời quang mây tạnh, cây cỏ tốt tươi, đúng như ý nghĩa của tên gọi:

"Thanh" (清): trong trẻo, thanh khiết.

"Minh" (明): sáng sủa, rõ ràng.

Tiết Thanh Minh đánh dấu sự chuyển giao giữa mùa xuân và đầu hạ, khi dương khí thịnh, vạn vật sinh trưởng mạnh mẽ. Đây cũng là lúc con cháu thực hiện tảo mộ (掃墓) để tưởng nhớ tổ tiên, làm tròn đạo hiếu.

---

II. Nguồn gốc Tiết Thanh Minh

Tiết Thanh Minh có nguồn gốc từ Trung Hoa, gắn liền với điển tích vua Tấn Văn Công (晉文公) thời Xuân Thu (722-481 TCN) và vị trung thần Giới Tử Thôi (介子推).

Tương truyền, khi Tấn Văn Công còn lưu vong, Giới Tử Thôi từng cắt thịt trên đùi để nấu cho vua ăn. Sau này, khi lên ngôi, nhà vua ban thưởng cho những người có công nhưng lại quên mất Giới Tử Thôi. Ông không oán trách, mà lặng lẽ đưa mẹ vào rừng tu hành. Khi biết chuyện, nhà vua hối hận, cho người tìm nhưng không thấy.

Nghe lời quan quân, ông hạ lệnh đốt rừng (火燒山) để ép Giới Tử Thôi ra, nhưng không ngờ ông cùng mẹ đều thiêu thân trong lửa đỏ. Nhà vua đau lòng, lập miếu thờ và ban lệnh dân gian kiêng lửa trong ba ngày (寒食節 - Hàn Thực Tiết), chỉ ăn đồ nguội để tưởng nhớ.

Dần dần, Hàn Thực Tiết kết hợp với Tiết Thanh Minh, trở thành ngày tảo mộ, tri ân tiên tổ ở nhiều nước Đông Á.

---

III. Phong tục và nghi lễ trong Tiết Thanh Minh

1. Tảo mộ tổ tiên (掃墓)

Tảo mộ là nghi lễ quan trọng nhất của Tiết Thanh Minh, thể hiện lòng hiếu thảo. Con cháu tập trung về phần mộ tổ tiên, thực hiện:

Quét dọn, nhổ cỏ dại, đắp lại mộ để giữ sạch sẽ, vững chãi.

Bày lễ vật: hương, trầu cau, rượu, hoa quả, xôi, gà...

Đốt vàng mã (燒紙錢) để gửi vật dụng cho người quá cố.

Cúng bái, khấn nguyện, xin tổ tiên phù hộ cho con cháu.

Có câu:

"掃墓不掃心" (Tảo mộ không bằng tảo tâm)

Nghĩa là việc tảo mộ không chỉ là dọn dẹp mồ mả, mà quan trọng hơn là sửa đổi tâm mình, sống trọn nghĩa hiếu đạo.

---

2. Cúng gia tiên tại nhà (祭祖 - tế tổ)

Sau khi tảo mộ, nhiều gia đình còn bày mâm cơm cúng tại nhà để kính mời ông bà về hưởng lộc. Đây cũng là dịp để gia đình quây quần, nhắc nhở con cháu về cội nguồn.

---

3. Các phong tục khác

🔹 Hội đạp thanh (踏青節): Người xưa thường đi dạo ngoài trời, thưởng hoa, làm thơ để tận hưởng tiết xuân.

🔹 Thả diều (放風箏): Ở một số nơi, trẻ em thả diều vào dịp này để cầu mong điều may mắn.

🔹 Kiêng kỵ trong Tiết Thanh Minh:

Tránh cười đùa, gây ồn ào ở nơi tảo mộ.

Không bẻ cành cây hay hái hoa tại nghĩa trang.

Người đang để tang không nên đi tảo mộ người khác để tránh động mộ.

---

IV. Tiết Thanh Minh trong thơ ca

Thanh Minh gợi nhiều cảm xúc u hoài, nhắc nhở con người về sự vô thường của cuộc sống. Nhà thơ Đỗ Mục (杜牧) thời Đường đã viết:

清明 (Thanh Minh)

清明時節雨紛紛,
路上行人欲斷魂。
借問酒家何處有?
牧童遙指杏花村。

Phiên âm:
Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn.
Tá vấn tửu gia hà xứ hữu?
Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn.

Dịch nghĩa:
Tiết Thanh Minh, mưa phùn rả rích,
Người lữ khách trên đường lòng buồn da diết.
Hỏi quán rượu đâu để giải sầu,
Mục đồng xa xa chỉ làng Hạnh Hoa.

Bài thơ không chỉ miêu tả cảnh sắc Thanh Minh mà còn gợi lên nỗi niềm nhân sinh: khi trời đất chuyển mùa, lòng người cũng trở nên man mác, nhớ về những điều đã qua.

---

V. Suy ngẫm về Thanh Minh

Tiết Thanh Minh không đơn thuần là một ngày lễ, mà là dịp để mỗi người dừng lại giữa dòng đời vội vã, tưởng nhớ công ơn tổ tiên và suy ngẫm về nhân sinh.

Trong một năm, con người bận rộn với công danh sự nghiệp, đôi khi quên mất “gốc rễ” của mình. Thanh Minh là lời nhắc nhở rằng, dù cuộc sống có thay đổi thế nào, đạo hiếu (孝道) vẫn là điều bất biến.

Cổ nhân có câu:

“百善孝為先” (Bách thiện hiếu vi tiên)
Trong trăm điều thiện, hiếu đứng đầu.

Hiếu không chỉ là chăm sóc cha mẹ khi còn sống, mà còn là tưởng nhớ, gìn giữ gia phong, để thế hệ sau biết kính trên nhường dưới, giữ gìn truyền thống gia đình.

Trời đất xoay vần, xuân tàn hạ đến, đời người cũng hữu hạn. Nhưng lòng hiếu đạo, tình thâm nghĩa trọng thì mãi mãi lưu truyền.

☯️ Thanh Minh – không chỉ là tảo mộ, mà là tảo tâm.

Nguồn: fb Thái Dương
Thanh minh 04/4/2025

10/02/2025

Tướng diện khi sao Văn xương thủ mệnh

Người có Văn xương tọa thủ cung Mệnh có khuôn mặt tròn, sắc mặt vàng có ánh xanh trắng. Trung niên và về già cũng vẫn giữ sắc mặt này.
Người có Văn xương tọa thủ cung Mệnh đều có ngũ quan cân đối, ngoại hình nho nhã, thanh tú. Nếu Văn xương tọa chỗ miếu vượng nên theo lĩnh vực văn hóa văn nghệ. Văn xương lạc hãm tọa thủ cung Mệnh, lại có Liêm trinh, Hỏa tinh, Dương nhẫn chiếu Mệnh là người có dung mạo đẹp đẽ nhưng lại có mệnh làm kỹ nữ. Mệnh nam tương tự.
Người có Văn xương tọa thủ cung Mệnh, vì thế người này thường mang vẻ mặt yếu đuối. Nếu cung Mệnh không ở chỗ vượng, lại có thêm sát tinh đến xung phá tất cơ thể suy nhược, ốm yếu, trên mặt có nhiều tàn nhang. Cung Mệnh có Văn xương hóa kỵ chủ về người trên mặt có nhiều tàn nhang mà lông mày thưa thớt, kém thông minh. Người có Văn xương tọa thủ cung Mệnh có tính tình ngay thẳng, lầm lì nên họ thường mang vẻ mặt cao ngạo, khó gần. Đồng thời họ cũng sẽ rất khách khí đối với người mới quen.
***
Người có sao Văn xương tọa thủ cung Mệnh, bất luận là cung Mệnh ở chỗ vượng hay nhược đều là người có chiều cao vừa tầm. Đốỉ với nam giới sẽ có chiều cao từ 1m65 đến 1m78, còn đối với nữ giới sẽ có chiều cao từ 1m58 đến 1m65.
Đặc trưng ngoại hình: Người có Văn xương tọa thủ cung Mệnh tại Tỵ, Dậu, Sửu là người có dáng người cao, hơi gầy, khuôn mặt dài vuông, hoặc vuông tròn, thuộc khuôn mặt dài, dáng vẻ bên ngoài nho nhã, mi thanh mày tú, cử chỉ thanh tao. Người này sau tuổi trung niên sẽ hơi béo, tính cách thận trọng, có lúc cô độc không hòa đồng với tập thể.
Văn xương tọa thủ cung Mệnh nếu như có nhiều sát tinh ở đối cung hoặc ở vị trí tam hợp xung chiếu thì người này có vóc dáng thanh thoát không hài hòa. Cũng có thể là khuôn mặt, đôi mắt thanh tú nhưng lại có cử chỉ thô tục, lòng dạ hiểm ác, nếu Văn xương tọa thủ cung Mệnh chỗ hãm thì điều này càng biểu hiện rõ.
Người có Văn xương tọa thủ cung Mệnh tại Dần, Ngọ, Tuất chỗ hãm nhược sẽ có thân hình thấp bé, gầy yếu hoặc thấp béo, dáng dấp thô xấu, trên khuôn mặt sẽ có nhiều tàn nhang hoặc vết thâm. Những người này đa phần là có kỹ năng đặc thù để mưu sính, tuy nhiên sức khỏe thường không tốt, mắc bệnh liên miên, thường là bệnh nan y khó chữa.
Người có Văn xương tọa ở cung Mệnh chỗ vượng địa đa phần sẽ có cơ thể cường tráng, có tướng mạo của bậc văn nhân, thường sẽ công tác trong lĩnh vực văn hóa. Người có Văn xương hóa kỵ tại cung Mệnh trên khuôn mặt ắt sẽ có tàn nhang, mụn nhọt. Còn Văn xương và Dương nhẫn tọa ở cung Mệnh thì người này sẽ có tình trạng môi hồ, trán dô.

Tướng diện khi sao Văn khúc thủ mệnh:

Người có Văn khúc tọa thủ cung Mệnh có khuôn mặt dài tròn, nhỏ, trên mặt nhất định có nốt ruồi hoặc tàn nhang, bớt nhưng hầu hết đều là nốt ruồi. Mặt của họ thường tương đối tròn, sắc mặt thường có màu vàng xanh.
Người có Văn khúc tọa thủ cung Mệnh thường có tài ăn nói, giỏi biện. Một số người có miệng rộng. Họ thường có tính tình lầm lì nhưng lại rất thích đàm luận, đồng thời nhiều khi lài biểu hiện tính tình cổ quái. Người có Văn Khúc lạc hãm tọa thủ cung Mệnh thường nói năng thiếu chính xác nên rất ít nói.
Người có Văn khúc tọa thủ cung Mệnh thường rất ưa hình thức, sĩ diện thể hiện tài hoa, đồng thời cũng thích thể hiện sự hấp dẫn trước người khác giới. Những người có Văn khúc là sao chính phái tọa thủ cung Mệnh thì chủ tinh của cung đối diện cũng thường là sao chính phái. Nếu chủ tinh của cung đổì diện là Cự môn, Liêm trinh, Tham lang, Dương nhẫn, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh chủ về người gian trá, hơn nữa lại không có ngoại hình, phong độ, lại thường là người tà dâm.
Người có Văn khúc hóa kỵ tọa thủ cung Mệnh thường hay nói nhảm nên thường chuốc nhiều thị phi.
***
Người có Văn khúc tọa thủ cung Mệnh đa phần có vóc dáng cao vừa tầm, thân hình của người này so với người có Văn xương tọa ở cung Mệnh thì thấp hơn. Đối với chiếu cao của nam giới thường là từ 1m60 đến 1m70, còn đối với nữ giới là từ 1m58 đến 1m63.
Đặc trưng ngoại hình: Người có sao Văn khúc tọa ở cung Mệnh là người có vóc dáng thấp, lúc trẻ khá gầy, sau 30 tuổi sẽ tráng kiện. Khuôn mặt hơi tròn hoặc hơi dài, trên khuôn mặt có thể có nốt ruồi, nước da xanh vàng hơi trắng, tướng mạo thanh tú lanh lợi, thích khuyên bảo người khác, không giống như vẻ cô độc không hòa đồng với tập thể của người có sao Văn xương tọa ở cung Mệnh. Đây là vì Văn khúc tọa ở cung Mệnh có quan hệ rất mật thiết đến đào hoa. Người có Văn khúc tọa ở cung Mệnh được xem là cung Mệnh không có sao chủ tọa, nên cần phải xem cát tinh và hung tinh ở đối cung cung Mệnh để phán đoán tính cách và sự cát hung của người này. Văn khúc tọa ở cung Mệnh tại Tỵ, Dậu, Sửu tuy là ở chỗ miếu địa, nhưng khi Văn khúc tọa ở cung Mệnh chỗ Tỵ, đối cung có Liêm trinh, Tham lang tọa ở chỗ hãm tương chiếu, nếu lại có Đà la cùng lúc xung chiếu thì người này một đời phong lưu, phóng túng đa tình, không có thành tựu. Còn Văn khúc tọa ở cung Mệnh chỗ Sửu, có Vũ khúc, Tham lang tương chiếu, người này tính cách cố chấp, làm chính sự điên đảo, là người có trình độ hạn chế. Còn người có Văn khúc tọa ở cung Mệnh chỗ Dậu, lại có Thái dương, Thiên lương tương chiếu, hoặc có Thiên cơ, Cự môn chiếu lẫn nhau thì khá tốt, chủ về một đời có thành tựu khá cao, nhưng cung Dậu là đất đào hoa nên ắt có vấn đề về phong lưu.
Người có Văn khúc tọa thủ cung Mệnh, tại chỗ vượng địa đều là người có tài giao tiếp, cảm nhận của cơ thể tốt, cho nên thích hợp làm nghệ sĩ biểu diễn xiếc hoặc khiêu vũ, có duyên với người khác giới, dễ rơi vào lưới tình.
(Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

09/02/2025

Ai là người có thể giữ kín bí mật cho bạn?

1. Sao Thiên Lương

Người có chủ tinh là sao Thiên Lương có tính tình cẩn trọng, về cơ bản sẽ không bàn luận hay đề cập tới những chuyện riêng tư của người khác. Nếu trong nhóm người trò chuyện mà có ai nói những lời có ảnh hưởng không tốt tới đương sự, Thiên Lương thậm chí còn đứng ra mắng cho người đó một trận mất mặt, để bảọ vệ sự riêng tư và thể diện của người kia. Cho nên, sao Thiên Lương chắc chắn là người có thể giữ kín như bưng chuyện của bạn bè.

2. Sao Thái Âm

Người có sao Thái Âm chiếu mệnh khá hoà đồng, nhưng họ xưa nay không bao giờ dùng những lời lẽ sắc nhọn để bàn về chuyện tốt xấu của người khác, luôn mang dáng vẻ của một người tốt, cũng có thể là người biết giữ bí mật.

3. Sao Thiên Cơ

Người thuộc sao Thiên Cơ tuy thông minh nhạy bén, nhưng trước những chuyện lặt vặt thị phi họ đều có chừng mực, dù là để tạo không khí rôm rả, họ cũng biết điểm dừng, sẽ không nói ra những điều liên quan tới chuyện riêng tư của người khác.

4. Sao Thiên Phủ

Người thuộc sao Thiên Phủ không thích tranh đấu, tấm lòng nhân hậu, sẽ không dùng những lời lẽ cay độc để bình luận về người khác, đối với việc nào cũng luôn giữ một thái độ lạc quan, tiến bộ. Tuy nhiên, thỉnh thoảng họ cũng sẽ không khỏi buông ra một vài lời bàn tán.

(200 câu hỏi về Tử vi đẩu số – Minh Đường biên dịch)

08/02/2025

Tướng diện khi sao Vũ khúc thủ mệnh

Người có Vũ khúc tọa thủ cung Mệnh đại đa số là người có khuôn mặt vuông tròn, cao vừa hoặc thấp, khỏe mạnh, tiếng nói vang trong, tính cương trực, rộng lượng, ngoan cố, mừng giận không bộc lộ ra ngoài. Làm việc nhanh, quyết đoán, chăm chỉ nhanh nhẹn, dốc sức dốc lòng.
***
Người có Vũ khúc tọa thủ Mệnh có khuôn mặt tròn vuông, cằm nhỏ (ngắn), mắt to, dáng người hơi thấp. Thủa nhỏ có sắc mặt vàng nhạt tái xanh, về già sắc mặt vàng xanh.
Người có Vũ khúc độc tọa cung Mệnh đa phần đều rất khéo giao tiếp, tính cách cương trực, hay nói thẳng, biết điều, ưa lẽ phải nên không làm đối phương phật lòng. Vì thế, sắc mặt thường lộ rõ vẻ cương nghị, hơn nữa giọng nói lại rất vang trong. Do đó, chúng ta rất dễ nhân ra đặc điểm của người có Vũ khúc tọa thủ cung Mệnh.
Người có Vũ khúc tọa thủ cung Mệnh mà cung Mệnh có sao hóa kỵ hoặc có Dương nhẫn đồng cung, hội chiếu thường chủ về người gầy hoặc cao gầy, khuôn mặt thường gầy, nhọn. Đây là vì quan hệ “Hình tài”.
***
Người có Vũ khúc tọa thủ cung Mệnh thường có thân hình tầm thước, hơi thấp. Mệnh nam cao từ 1m60 đến 1m66, thường duy trì ở chiều cao 1m65. Mệnh nữ cao từ 1m55 đến 1m60, phần lớn cao từ khoảng 1m56 đến 1m58.
Đặc trưng ngoại hình: Người có Vũ khúc tọa thủ cung Mệnh thường có thân hình tầm thước, vạm vỡ. Họ thường không quá béo cũng không quá gầy, khuôn mặt vuông hoặc tròn nhỏ nhưng giọng nói lại vang mà trong. Tính tình cương trực, nói làm là làm vì thế họ hành động rất nhanh mà không dây dưa, lề mề. Thủa nhỏ có nước da trắng xanh, trung niên và về già có nước da vàng sạm. Khi vui vẻ thường hiếu động nhưng khi ưu sầu lại thích trầm tư, dễ vui dễ buồn.
Người có Vũ khúc hóa kỵ tọa thủ cung Mệnh, lại thêm Dương nhẫn đồng cung hoặc tương chiếu thường có thân hình hơi cao gầy, trên mặt thường có sẹo. Đây là người thuộc cách cục “Hình tài” nên cũng thường vì tiền tài mà sinh phiền não.
(Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

22/01/2025

Tướng diện khi sao Thái âm thủ mệnh

Người có Thái âm tọa thủ cung Mệnh thường có khuôn mặt tròn vuông, tính cách ôn hòa, điềm đạm, hay e thẹn, có sức hấp dẫn với người khác giới. Thủa nhỏ có sắc mặt trắng xanh, trung niên và về già sắc mặt ám xanh.
Người có Thái âm tọa thủ cung Mệnh là người hướng nội, hào hoa phong nhã, ngoài cương trong nhu, giàu tình cảm nên rất dễ làm việc theo cảm tính. Người này rất trầm tĩnh nhưng cũng đa nghi và dễ bị kích động. Người có Thái âm tọa thủ cung Mệnh đều có ngũ quan cân đối, đẹp đẽ, bất luận là nam hay nữ đều thích để tóc dài, ham mê tửu sắc. Cằm của người này cũng tương đối nhỏ mà nhọn.
***
Người có Thái âm tọa thủ cung Mệnh có thân hình tầm thước, hơi cao. Cung Mệnh miếu vượng tọa ở cung Dậu, Tuất, Hợi chủ về người hơi béo. Cung Mệnh lạc hãm ở cung Mão, Thìn, Tỵ chủ về người hơi gầy và thấp. Mệnh nam cao khoảng 1m65 đến 1m76, mệnh nữ cao khoảng 1m53 đến 1m65.
Đặc trưng ngoại hình: Người có Thái âm tọa thủ cung Mệnh mà cung Mệnh miếu vượng là người có thân hình tầm thước, hơi cao và mập. Khuôn mặt hình bầu dục. Người có cung Mệnh lạc hãm là người tương đối thấp và gầy, cử chỉ nho nhã, nhẹ nhàng nên được người khác giới quý mến. Thời trẻ có sắc mặt trắng xanh, trung niên và về già có sắc mặt vàng xanh. Họ thường là người hào hoa phong nhã, lễ độ, đáng yêu, vận số tốt đẹp. Đa phần đều là người trầm tính, thâm trầm nhưng đa nghi, hay suy nghĩ, tâm tư phức tạp, dễ thay đổi tình cảm. Họ thường e dè với người mới quen nhưng với người thân lại rất nhiệt tình, hồ hỏi. Đa phần là người trọng tình cảm mà không trọng lý lẽ.
Người có Thái âm tọa thủ cung Mệnh mà cung Mệnh lại có Dương nhẫn thì người này thường có cằm nhọn, hay đa nghi. Họ dễ vì chuyện tình cảm mà dẫn đến tư tưởng chán chường bi quan.
(Tử Vi Đẩu Số – Nhận Biết Diện Tướng Và Vận Hạn – ThS Vũ Mê Linh)

16/01/2025

THIÊN LƯƠNG

(VƯƠNG ĐÌNH CHI ĐÀM TINH)

(Dịch và bình chú: Hà Phong)

Tương truyền vào thời cổ đại người nghiên cứu về “sao” cho rằng: Nam đẩu chủ sinh, Bắc đẩu chủ tử, Thiên Lương chính là sao quản về tuổi thọ của chòm Nam đẩu, Tham Lang chính là sao quản về tai ách tử vong của chòm Bắc đẩu. (古代星家相传, 南斗主生, 北斗主死, 天梁即为南斗司寿之星, 贪狼为北斗司灾厄死亡之星.)

Cho nên cung Mệnh hoặc cung Tật Ách gặp Thiên Lương, chủ phùng hung hóa cát, tiêu tai giải ách. Còn Tham Lang nếu như gặp sát kị hình hao hội hợp, lại thêm lưu-sát xung khởi, tức sẽ là điềm tử vong, tai ách rất kị gặp Liêm Trinh hóa Kị.

Song việc Thiên Lương có thể tiêu tai giải ách, từ một phương diện khác mà nói, thì tất cần có tai ách phát sinh, rồi sau đó năng lực tiêu tai giải ách mới bắt đầu phát huy. Cho nên phàm người mệnh Thiên Lương, một đời tất nhiều tai nan (không phải tai nạn) (一生灾难必重), khi còn nhỏ tất có tai ách nguy chứng, cuối cùng lại có thể phùng hung hóa cát, nguy mà không nguy vậy.

Thiên Lương không ưa đóng tại 3 cung Tị, Ngọ, Mùi. Đại khái lúc này sẽ hội với Thái Dương lạc hãm ở 3 cung Hợi, Tý, Sửu và vì Thái Dương lạc hãm nên không đủ khả năng giải trừ tính cô khắc hình kị của Thiên Lương (不足以解天梁孤克刑忌之性).

Thiên Lương tại Tị, thì dù không gặp các sao sát kị hình, vẫn chủ một đời nhiều tai nan, hoặc lắm bệnh hoạn, hoặc là làm những công việc có tính chất nguy hiểm. Nếu lại gặp các sao sát kị hình, thì chủ cửu tử nhất sinh, duy là nhất định sẽ vượt qua đại nạn. Mệnh lệ loại này gặp nhiều đến mức quen thuộc, độ chuẩn xác cao. Từng có người bị trói đến pháp trường (để chém/treo cổ), đến lúc cuối cùng lại được cứu.

Thiên Lương tại 2 cung Ngọ, Mùi thì đều chủ dễ bị người ta xa lánh/gạt bỏ/loại trừ. Lại càng đáng chú ý hơn khi Thiên Lương đồng độ với Lộc Tồn, hoặc Thiên Lương hội hợp với Hóa Lộc, đều là cấu trúc rất dễ vời thị phi (皆易招是非尤怨). Nếu như đồng độ với sát diệu, tức thì khẩu thiệt thị phi càng nặng, (mà lại còn) dễ bị đả kích, duy có điều cuối cùng (đều) có thể hóa giải được.

Bất quá, Thiên Lương tại 2 cung Ngọ, Mùi sẽ tương đối cô độc, rất ít nhân duyên, mà lại còn không cậy nhờ được vào lục thân, một đời tương đối gian khổ.

Thiên Lương tại Ngọ mà đồng độ với Văn Khúc thì ngược lại lại là dấu hiệu của đại quí.

Nếu như Thiên Lương và Âm Sát/âm sát đồng độ, lại gặp Thiên Cơ và sát diệu, thì chủ cho người có âm nhãn, có thể nhìn thấy ma quỉ (则主人有阴眼, 能见鬼魅), nếu lại có Linh Tinh đồng cung, thì tính chất này càng nghiêm trọng, có thể phát triển thành suy nhược thần kinh. Chỉ khi được cát hóa và gặp cát diệu, thì người xưa cho rằng mới có thể tránh được vật âm tà (则前人认为可令阴物回避).

Lúc có các sao không hao sát đồng cung, thì đa phần sẽ có khuynh hướng về tôn giáo và thần bí, thời cổ đại thì là thuộc vào tăng đạo (在古代即为僧道之流).

Cổ nhân nói: Cơ Lương hội hợp thiện đàm binh, nhưng mà chương “Chư tinh vấn đáp” trong “Tử Vi đẩu số toàn thư” lại nói: Gặp Thiên Cơ và hao tinh, tăng đạo thanh nhàn. 2 điều này phân biệt là ở chỗ hao tinh.

Cái gọi là hao tinh, thông thường là chỉ Phá Quân, nhưng mà Thiên Lương trong tam phương tứ chính không thể gặp Phá Quân, cho nên có người cho rằng hao tinh là Đại Hao, (chỉ là) Đại Hao chỉ là tạp diệu, tác dụng không có gì là to lớn.

Trong vấn đề này, có thể nói là cổ nhân làm ra thứ huyền hư, tình hình trong thực tế là: Thiên Cơ Thiên Lương đồng độ tại 2 cung Thìn, Tuất, chủ cho người có hứng thứ trên nhiều phương diện (嗜好广泛), đặc biệt là thích khoa trương tài hoa (尤其喜爱炫耀才华), nhưng cũng chỉ là hư ảo/hư ảnh/không ngôn đàm binh (但浮光掠影), chỉ là ngồi một chỗ mà nói chuyện xa ngàn dặm mà không làm được gì/không bắt tay vào làm (坐言万里不能起行). Thời cổ loại văn nhân chỉ giỏi đàm luận binh pháp, vẻ ngoài giống như văn võ toàn tài, chính là kiểu người này (古代文人以能谈兵法为文武兼资, 即是此类).

Thiên Lương là thọ tinh, cho nên khi Thiên Lương và Thiên Thọ đồng cung, thường thường tượng trưng cho việc trong các mối quan hệ có sự khác biệt lớn về tuổi tác.

Ví dụ như, cung Phu Thê gặp Thiên Lương Thiên Thọ đồng cung, nữ mệnh thì lấy chồng lớn hơn mình từ 12 tuổi trở lên (hoặc không thì sẽ ngược lại, lấy chồng nhỏ hơn mình từ 1 đến 3 tuổi); nam mệnh thì lấy vợ ít tuổi hơn mình từ 8 tuổi trở lên (hoặc không sẽ ngược lại, vợ sẽ nhiều hơn 1, 2 tuổi).

Nếu như Thiên Lương đóng tại cung Tử Tức, Thiên Thọ đồng cung, sẽ chủ vãn niên sinh con, hoặc con gái và con trai sẽ có sự chênh lệch khá lớn về tuổi tác.

Nếu như cấu trúc trên ở vào cung Phụ Mẫu, thì tuổi tác của bố mẹ sẽ có sự chênh lệch lớn.

Nếu lại là ở cung Huynh Đệ, thì chủ tự người đó là trưởng nam hoặc trưởng nữ, và có cách biệt lớn về tuổi tác với các em, hoặc là có anh chị em do mẹ kế sinh ra.

Những điều vừa thuật trên có độ chứng nghiệm cao, trong khi quan sát tinh bàn rất có tác dụng.

Mệnh Thiên Lương, thường là chủ sống thọ. Hoặc đối cung (cung Thiên Di) có Thiên Lương cũng như vậy.

Nhưng khi có các sao sát kị hao đồng độ với Thiên Lương, thì sống thọ không đồng nghĩa với sự khỏe mạnh (所谓有寿却不等于健康), có khả năng là sống lâu nhưng có bệnh, hoặc là phục dược để kéo dài tuổi thọ (từng có người hút/hít nha phiến để trị bệnh khạc ra máu, cũng tức là một ví dụ về việc phục dược kéo dài tuổi thọ).

Vì thế Thiên Lương cũng là tinh diệu của việc “uống độc dược” (天梁亦为吸毒服药的星曜), lại càng rõ tính chất này hơn khi hội với Thái Dương lạc hãm, (mà lại thêm) có Hỏa Linh đồng độ, lại thêm vào đó là những tạp diệu mang tính chất không tốt đẹp, thì sẽ chủ có khuynh hướng “uống độc dược” (trường kì dùng thuốc an thần cũng là một dạng uống độc dược).

Nước Trung Quốc thời cổ đại, danh sĩ tùy theo thời mà có thói quen dùng độc dược khác nhau, như là thời Ngụy Tấn danh sĩ dùng “ngũ thạch tán” (五石散), thời Đường Tống danh sĩ dùng “đan hống” (丹汞), cho đến đời Thanh thì danh sĩ dùng nha phiến (鸦片), đều thuộc loại mệnh cục này. Cho nên người mệnh Thiên Lương, cũng đa phần có phong độ của danh sĩ. Thiên Lương Thiên Đồng đối củng (Hà Phong: Đồng Lương đối củng ở Tị Hợi, Đồng Lương đồng cung ở Dần Thân) hội với sát diệu Không Kiếp, đa phần như trên miêu tả.

Sao Thiên Lương có phong phạm/khí chất của danh sĩ (名士风范), cho nên thích gặp Phụ Bật, Xương Khúc, Khôi Việt. Cổ nhân cho rằng: Thiên Lương và Văn Xương cư miếu vượng, vị tận đài cương (台纲 – vị trí giềng mối/cương lĩnh); Thiên Lương Tả Hữu Khúc gia hội, xuất tướng nhập tướng (出将入相 – trước làm tướng võ, sau làm tướng văn); Thiên Lương cư Ngọ đồng cung với Văn Khúc, vị trí đứng đầu tỉnh (台省之位). Đại khái từ thời Tống về sau, trọng danh sĩ hơn là trọng môn đệ, cho nên Thiên Lương ngộ cát (sẽ) chủ thanh quí (清贵 – trong sạch và quí hiển). Ở thời nay, sẽ là người làm chuyên môn (专业人士), mà cũng đa phần có vị trí hạt nhân trong lĩnh vực quản lí kế hoạch (且多居监核管理计划之职).

Nếu như Thiên Lương gặp các sao sát kị hình hao, tất khí chất danh sĩ biến thành lãng đãng bất kham (浪荡不羁, 羁 – Ki: dàm/cương ngựa). Cổ nhân cho rằng: Lương Đồng đối cung ở Tị Hợi nam lãng đãng, nữ đa dâm (thời cổ đại nữ nhân lãng đãng tức là xướng kĩ, cho nên mới đoán là đa dâm); Thiên Lương Thiên Mã hãm, là người phiêu đãng phong lưu; Lương tại Dậu, Nguyệt tại Tị, là khách phiêu bồng (Hà Phong: chú ý là lúc này Dương Lương đồng cung tại Dậu). Xấu nhất thì là Thiên Lương tại Tị, Hỏa Tinh Đà La đồng độ, thì không chỉ một đời nhiều tai ách, mà còn cô khắc lục thân, đời người lãng đãng không có chỗ dựa/che chở.

Thiên Lương cũng là sao của “giới truyền thông” (传播之际星), tính chất truyền thông này, là do vì Thiên Lương mang sắc thái của văn diệu, cho nên khi có Xương Khúc Thiên Tài đồng độ, hoặc cung Quan Lộc có Cự Môn đồng cung hoặc đối củng, thì tất có khuynh hướng theo nghiệp truyền thông. (Hà Phong: an Cự Môn, thì tiếp theo là Thiên Tướng, rồi đến Thiên Lương; cho nên Mệnh Thiên Lương luôn luôn có Cự Môn ở cung Phu Thê, nên nhất định là đối cung với cung Quan Lộc).

Nhưng nếu Thiên Lương đồng cung với các sao đào hoa, thì có khuynh hướng của biểu diễn nghệ thuật, nếu lại gặp sát diệu, sẽ chủ vì sắc mà gặp họa (因色致祸), phàm người mệnh Thiên Lương, cung Phu Thê tất có Cự Môn, cho nên đối với hôn nhân nên có thêm sự chú ý/chú tâm.

Thiên Lương tại Tý, nếu (gặp) nhiều sao đào hoa, càng chủ tìm kiếm kích thích (尤其喜找寻刺激), lấy chuyện khốn nhiễu trong tình cảm làm việc vui (以感情困扰为乐事). Lúc này, nếu Xương Khúc hội hợp, thì Xương Khúc cũng trở thành đào hoa, tuyệt không chủ cho người có địa vị cao quí. Mà là một đời người nhiều lãng đãng bất định (且人生亦多浮荡无根).

Cho nên sao Thiên Lương, tuy có ý tứ của sự che chở (虽有荫庇之意), lại còn là thọ tinh, nhưng ngược lại lại không phải là trọn vẹn cát lợi (但却并非全吉), nên khi luận đoán nên lưu ý cung Phúc Đức, và việc hội hợp với Thái Dương là miếu vượng hay lạc hãm. Do vì Thiên Lương tại Mệnh cung, thì cung Phúc Đức nhất định có liên quan đến Thái Âm, cho nên luận Thiên Lương tất cần kiêm luận Nhật Nguyệt.

* Thiên Lương vốn được gọi là ấm tinh, nhưng xem ra không phải toàn vẹn tốt đẹp.

*Hà Phong: Thiên Lương vĩnh viễn tam hợp với Thái Âm, phàm Mệnh Thiên Lương thì cung Tài Bạch sẽ có Thái Âm, và Thái Âm luôn đối cung với cung Phúc Đức.

* Mệnh Thiên Lương thì tuyến Phu Quan luôn có Cự Môn, tuyến Phúc Tài luôn có Thái Âm. Cự là ám tinh, Nguyệt là âm tinh, xem ra một đời Thiên Lương không tránh khỏi âm ám trên phương diện tiền bạc, công việc, phúc đức và hôn nhân.

15/01/2025

Mệnh tương quan với 12 cung

Biểu Lý Tính Mệnh

Ta thường nói Tính Mệnh, vậy ảnh hưởng ở các địa vật là Tính và thụ bẩm ở thiên can trời phú là Mệnh nên lập Mệnh để biết thọ yểu. Mệnh là gốc của 12 cung số cần phải tốt đẹp. Ví như cây kia gốc rễ có to lớn bền chặt mới không sợ gió bão, và mới sinh được hoa thơm quả ngọt. Có thể cây kia to lớn xanh tốt, lại sinh hoa quả xấu, ví như Mệnh và Thân, nếu mạnh tốt Thân xấu là Mạnh cường Thân nhược thời cuộc đời tuy phú quý nhưng gặp nhiều vận hạn rủi ro. Mệnh xấu Thân tốt là Mệnh nhược Thân cường, thời cuộc đời tuy phú túc, có tiền tài nhưng ngu dốt, bệnh hoạn và hình khắc, ví như loại cây có hoa quả thơm ngọt nhưng gốc rễ bị hổng, sâu đục chắc không thể nào trường thọ được.

Nên quan niệm Mệnh Thân là duyên nợ của mình từ bao kiếp trước, tỷ như thuyết nhân quả của nhà Phật, nên trong cuộc sống hiện thực, có bao người giỏi giang, học thức mà vẫn thất bại. Trái lại, thiếu chi người khả năng kém mà lại thành công, hiển đạt; thật là: si tủng ấm á gia hào phú, trí tuệ thông minh khước thụ bần; bởi ảnh hưởng phúc đức thiện á từ bao kiếp trước của mình, cộng với công tội của cha mẹ ông bà kết hợp lại mà thành cái may mắn, hoặc tai họa của đời mình, nên ta thường nghe nói: cha ăn mặn con khát nước.

Cung Mệnh có ảnh hưởng chung cuộc sống, nhưng mạnh mẽ nhất là thời gian nửa cuộc đời trước nên Tử vi đã phân định, tam thập niên quan mạnh, mà nửa cuộc đời sau xin xem ở Thân, tam thập niên hậu khán thân.

Thân tương quan Mệnh

Thân là kết quả chịu trực tiếp các đức tính, các công, nghiệp của Mệnh mà thành, nên Mệnh là nhân và thân là quả của Mệnh. Mệnh chi phối toàn cuộc đời, lại gồm thêmsự thọ yểu mà Thân chỉ có nửa đời sau, nên Mệnh quan trọng hơn Thân nhiều, không thểnói mạnh hảo bất như thân hảo được. Thân hảo tuy có làm nên nhưng nếu mạnh yểu vong thời cũng là bỏ đi vậy. Cũng như Thân hảo bất như Hạn hảo thời nên luận xét Hạn là thời vận, mà Mệnh Thân gốc rễ; đã được phú quý rồi, nếu Thân Mệnh xấu dù có gặp được hạn tốt nữa, cũng chỉ như cơn mưa mát mặt dễ chịu lúc ấy thôi, sau phải bại vong ngay, vì Mệnh Thân xấu thời sao giữ được phú quí lâu dài. Phải lấy Mệnh là chủ, luận với Thân cũng như Mệnh Thân với Phúc đức vậy.

Phúc Đức liên hệ Mệnh Thân

Ta thường nói cung Phúc Đức là tối trọng, Phúc Đức đẹp mới làm nên được, nếu Phúc Đức xấu là xấu.

Định luật này đúng với các môn học khác vì Phúc Đức và các cung khác không có tuyến định phân rõ ràng, riêng ở Tử vi thời Phúc Đức 1 cung, Mệnh 1 cung, Thân cư cung nào luận Thân ở cung ấy, đã có giới hạn rõ ràng, không thể áp dụng như các môn học khác được.

Mệnh Thân phải tốt mới làm nên được, nếu Mệnh Thân xấu thời không làm nên phú quý hiển đạt được.

Thân cung chỉ để hợp luận với các cung mà thôi, nếu Phúc Đức tốt thời tăng thêm, xấu sẽ bị chiết giảm.

Phúc cung để khán cả một đại gia tộc, tam tứ đại và tương lai các con cháu sau này manh nha ở các môi trường phúc, thiện, hung, trong cung Phúc Đức mà chịu liên hệ cũng như Mệnh Thân chịu chung ảnh hưởng của Phúc cung.

Nếu nói sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy là phúc đức hệ lụy từ bao kiếp trước cùng với phúc ấm tổ tiên là nhân của Mệnh thời do thiện ác đã kết hợp nên Mệnh xấu hay tốt rồi.

Nên Mệnh tốt là kết quả của phúc ấm tốt mà phúc bạc thời hẳn Mệnh sẽ xấu.

Mệnh Thân xấu là hiển nhiên phúc ấm lưu truyền xấu nên không thể hiển đạt được.

Mệnh Thân tốt là kết quả của phúc đức tốt kết hợp lại nên sẽ được thịnh vượng.

Biểu lý Phúc cung

Thí dụ: Con 1 nhà quyền quí, có họ hàng nhiều người làm nên danh phận, trí khôn ngu muội, tuy học hành không thành, ra đời không chức tước nhưng được nhờ của cải hi lu li của cha mẹ và họ hàng mà được ấm thân thời lá số sẽ hiện ra Cung Thân xấu mà Phúc cung tốt đẹp; trái lại một người con nhà nghèo, ra đời công thành danh toại, vì có cung Mệnh Thân tốt đẹp mới làm nên được nhưng cung Phúc đâu có đẹp hoàn toàn, Các cung Tử-đức, Huynh-đệ, Phụ-mẫu, Mệnh Thân thời nên hiệp ảnh hưởng cung Phúc lại mà luận xét. Nếu thấy phúc tốt thời vì như có sẵn duyên phứơc căn bản để tăng tiến thêm sự tốt đẹp, riêng Mệnh Thân nếu xấu thời chỉ y thực túc hỷ mà thôi, không thể quý hiển được.

Nếu đã hiểu tiên tích đức nhi hậu tầm long thời ăn ở lấy phúc đức làm trọng để sau này hậu duệ được nở ngành xanh ngọn, không nên tác hung, tác họa mà sau sẽ tuyệt đường vinh danh hiển tổ.

Truyền tinh liên hệ

Ở Tử-vi học thường nói sinh đồng niên, nguyệt, nhật tại sao lại bất đồng phú quý là vì 2 trẻ sinh đồng giờ tất độ số tinh đẩu như nhau nhưng phải phối hợp số cha mẹ của 2 trẻ lại để xem.

Đứa trẻ không làm nên, tuy các sao ở cung Mạnh của nó cũng giống như các sao ở cung Mệnh của đức kia, nhưng cung Mệnh hay Phúc của nó không có sự truyền tinh với cung Phúc Mệnh của cha mẹ nó.

Một gia tộc đã vượng phát mấy đời, khi đem các lá số ra đối chiếu cũng thường thấy các sao cư Phúc và Mệnh truyền tinh mãi cho nhau, khi thấy các sao ở Phúc và Mệnh không truyền tinh là dấu hiệu suy tàn đã tới.

Cũng một định luật, địa-lý gia tại sao hạ la-bàn khán mộ thạch xong lại biết nam nữ thứ trưởng hay con út ngành nào phát, ngành nào bại và thường phát cho toàn thể các tuổi được.

Ở Tử-vi, lá số nào không truyền tinh là bại, trừ khi thấy có Cát diệu hội triều đẹp hơn so với các số trong gia đình tất nhiên có sự vượt lên, hay đã được hưởng phúc mới kết phát vậy.

Tương quan Mệnh và Tài

Nên luôn luôn coi cung Mệnh là chủ, ví như người cha trong một gia đình, không thể suy nhược yếu hèn được. Cũng như một cái hồ nước, có cứng chắc giầy bền thời chứa quá nhiều thời hồ sẽ bị bể, và nứơc tràn ra làm dơ bẩn thêm.

Nên Mệnh cường Tài nhượt thường phát phúc.

Nếu Mệnh nhược Tài cường năng chiêu họa.

Vậy tiền tài đến tay chưa chắc là phúc, vì nếu không đủ tài ba mẫn cán sẽ ngược lại là hạn họa.

Phu-Thê cung

Cũng như vợ chồng so đôi tuổi, thời phu khắc thê nghi tài, nghi tử, nghi phú, nghi quý. Mà thê khắc phu thì nghi bại nghi vong.

Khi nghiên cứu Đẩu-số mới thấy sự huyền diệu, vợ chồng là duyên kiếp, Thiên-lý ngộ, nếu có sự hòa hợp bách niên giai lão, lá số tất nhiên có sự truyền tinh ở cung Phu-Thê.

Nô Bộc

Các sao ở cung Mệnh dù hung tính hay cát tính cũng phải tốt đẹp hơn các sao ở cung Nô Bộc thời minh mới mong điều khiển các gia nhân giúp việc, tuân hành kỷ luật để phù trì cho nên công nghiệp.

Nếu lấy các sao ở Mệnh yếu hơn cung Nô-Bộc tức là mình sẽ giúp việc kẻ khác là lý đó vậy.

Điền Trạch

Nếu các sao cư ở cung Điền-trạch là Khoa Quyền Lộc, Thai Tọa, Tả Hữu, là hiển nhiên mình sẽ là gia nhân cho nhà phú quý, nếu các sao cư ở cung Mệnh quá yếu.

Như vậy không nên luận cung Điền-trạch tốt lắm mà lầm lỡ, nếu thấy cung Mệnh yếu.

Phụ Mẫu

Ngay như Phụ-mẫu là bậc sinh thành thời các sao cũng nên yếu hơn cung Mệnh Thân, vì cung Mệnh Thân là chủ trong 12 cung, nếu xác sao cát diệu cư ở các cung khác thời còn đâu sao tốt cư ở cung Mệnh Thân được?

Vả chăng con hơn cha là nhà có phúc, cho nên Mệnh tốt hơn Phụ-mẫu là điều đáng mừng chớ không đáng trách, Cung Mệnh phải là chủ thứ đến Thân Quan Tài không được yếu hơn các cung khác, cũng như Nữ phải Mạnh Thân Phu là trọng, các cung khác là thứ chi.

Vậy Nam hay Nữ ngoài cung Mệnh Thân Phu Quan Tài phải đặt cung Tử -tức thành một vần để hiệp thêm với Phúc-đức mà xét.

Vì cuộc đời tuy có bôn ba lao lực nhưng vẵn niên con cái thành đạt tất nhiên sẽ được an hưởng lúc tuổi già.

Tật Ách cung

Hơn nữa, cung Tật -ách nên coi là cung Mệnh thứ hai như bóng với bóng hình, tạo hạnh phúc hay tai tật cho cả cuộc đời.

Tật – ách là căn cứ để xem đám tang lớn lao ra sao khi chết, nên có thể phụ luận, mà biết được sự phú quý có trường tồn không, nếu các sao tượng cho một cuộc ma chay lớn, cũng là dấu hiệu để biết được sự quý hiển tới lúc chầu tiên cảnh. Phải căn cứ vào ngũ – hành của tinh diệu cư Tật -ách mà luận xét bệnh tật cũng như tính tình thụ bẩm từ từ ngũ hành vậy.

Trích dẫn từ cuốn sách TỬ VI ẢO BÍ – HÀ LẠC DÃ PHU VIỆT VIÊM TỬ

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Address

Trung Yên
Hanoi
100000