21/08/2026
THÁNG 7 ÂM LỊCH TRONG VĂN HÓA LÀNG XÃ TƯ CAN
Mở đầu
Vùng đất Tư Can (nay là thôn Châu Can, xã Chuyên Mỹ, thành phố Hà Nội) vốn có truyền thống Nho học, khoa bảng lâu đời từ thời Hậu Lê. Các Nho sĩ có tiếp thu lời hay ý đẹp của văn học cổ Trung Hoa (Kinh Thi), nhưng đặc sắc ở chỗ đã Việt hóa để địa danh Tư Can tuy vẫn là nơi địa linh nhân kiệt nhưng lại trở nên gần gũi trong cộng đồng làng xã địa phương. Theo Từ điển Hán - Việt của tác giả Thiều Chửu thì: Tư (斯) có nghĩa là “tách rời ra” hoặc “này”, “đây”; Can (干) có rất nhiều nghĩa nhưng tác giả sử dụng với nghĩa là “bến nước”, “bờ” để khái quát mô tả đặc trưng vị trí địa lý, cảnh quan sông nước của vùng đất này từ khi dân cư khai hoang lập nên xóm làng. Dân cư sinh sống tại bờ bên này của dòng sông, còn bờ bên kia là đồng ruộng, bãi bồi, sông nước bao la. Vì lẽ đó nên xưa dòng sông có tên là Nguyệt Tư giang hoặc Tư giang. Vậy tên chữ của làng có ý nghĩa là “bờ sông bên này”. Tháng 7 âm lịch hiện nay được mọi người xem là tháng cô hồn với những điều kiêng kị, là “tháng xấu”. Tuy nhiên trong thời kì phong kiến đến trước năm 1945, tại khu vực làng xã Tư Can (nay là thôn Châu Can, xã Chuyên Mỹ, Hà Nội) lại coi tháng 7 âm lịch gắn liền với những sự kiện trọng đại trong đời sống văn hóa làng xã dân cư. Căn cứ theo các bản Hương ước sưu tầm được tại Tư Can qua các thời kì, các sắc phong chữ Hán tại đình làng, nghiên cứu về lịch sử chùa Hồng Ân tại địa phương, tác giả lại có một góc nhìn khác. Tháng 7 ở Tư Can có ngày lễ Thụ phong dịp rằm tháng 7, những ngày trong tháng 7 kỉ niệm sự kiện các triều vua đăng quang, thượng thọ, ban tặng thêm sắc phong cho Thành Hoàng làng tại địa phương. Và đặc biệt là trong giai đoạn từ tháng 7 âm lịch năm 1925 – tháng giêng 1926 , khi vừa lập nên xã mới, bộ máy chính quyền làng xã mới vận hành, khi chùa Hồng Ân đang trong giai đoạn thành lập chùa, dựng cột cất nóc, hoàn thiện hệ thống tượng pháp, đồ thờ tự và khánh thành cũng gắn với sự kiện lịch sử của 2 vị vua cuối cùng của chế độ Phong kiến Việt Nam là Vua Khải Định và vua Bảo Đại. Có thể vì những nguyên nhân đó nên người dân địa phương tạo tác nên một pho tượng Ngọc Hoàng tuyệt đẹp kết tinh tất cả những sự kiện lịch sử vừa nêu trên, phản ánh xã hội đương thời mấy trăm năm thăng trầm thịnh suy đã trôi qua tại vùng đất này.
1. Tiết thụ phong
Căn cứ theo bản Hương ước 73 điều, lập ngày 11 tháng 11 năm Tự Đức 4 (1851) và 6 điều bổ sung sửa đổi, viết ngày 26 tháng 5 năm Thành Thái 2 (1890), sao lại ngày 29 tháng 7 năm Khải Định 3 (1918): Theo Điều 8, hằng năm vào ngày 16 tháng 7 có tiết Thụ phong, lễ phẩm tùy nghi sửa biện. “Tiết Thụ phong” (受封節) là dịp lễ hoặc thời điểm mà một người chính thức nhận tước vị, phong hiệu, hoặc sắc phong do vua ban tặng. Trong ngữ cảnh lịch sử phong kiến, từ "tiết" ở đây mang nghĩa là thời kỳ, dịp hay buổi lễ trọng thể ghi nhận việc ban thưởng của vua.
2. Sắc phong cho việc thờ phụng Thành Hoàng làng của các triều đại
Lại căn cứ theo các bản sắc phong Thành Hoàng làng thờ phụng tại đình Tư Can:
- Ngày 1/7 năm Đồng Khánh 2 (1887) gia phong Dực Bảo Trung Hưng. Dực Bảo Trung Hưng (翊保中興) là một mỹ tự thời phong kiến nhà Nguyễn từ năm Đồng Khánh 2 trở đi ban sắc phong cho các vị Thần trong nước, dùng để chỉ công gắng sức phò tá, bảo vệ và phục hưng cơ nghiệp của triều đình. Trong tiếng Hán Việt, "dực bảo" (翊保) nghĩa là phù trợ và che chở, bảo vệ; "trung hưng" (中興) nghĩa là làm cho một triều đại đang suy yếu được hưng thịnh trở lại.
- Năm Duy Tân nguyên niên (1907), vua tấn quang đại lễ (lên ngôi). Ngày 11/08 năm Duy Tân 3 (1909), vua đặc chuẩn cho dân phụng sự như cũ.
- Ngày 29/7 năm Khải Định 9 (1924), nhân dịp vua tứ tuần đại khánh có đăng trật phong Tủng Bạt Trung Đẳng Thần. Nghĩa là nhân dịp vua mừng thọ 40 tuổi, vua nâng bậc phẩm hàm, gia phong thêm mỹ tự cho Thần Hoàng làng là vị Trung đẳng Thần hiên ngang.
3. Vấn đề cải lương hương chính thời vua Khải Định dẫn đến tách xã Tư Can, lập chùa Hồng Ân
Khoảng thời gian 1919 - 1924 dưới thời vua Khải Định nở rộ việc cải lương hương ước. Hương ước cải lương (còn gọi là cải lương hương chính) nghĩa là "sửa đổi cho tốt hơn" đối với quy chế quản lý làng xã, xuất hiện vào đầu thế kỷ XX. Đây là bước chuyển tiếp quan trọng nhằm sửa đổi các hủ tục cổ truyền, tinh giản bộ máy và tài chính làng xã theo sự định hướng của chính quyền thực dân Pháp kết hợp cùng triều đình nhà Nguyễn. Ở Bắc Kì, chủ trương “cải lương hương chính” của chính quyền Pháp được thực hiện vào những năm 20 của thế kỉ XX, đặc biệt phổ biến ở các tỉnh Bắc Kì sau khi ban hành Nghị định ngày 12 tháng 8 năm 1921 của Thống sứ Bắc Kì. Cải lương hương chính là chính sách được chính quyền thực dân đưa ra nhằm can thiệp vào chính quyền làng xã. Lúc này thôn Tư Can tách ra khỏi xã Bài Nhiễm để lập lên xã mới Tư Can. Lập nên xã mới nên dân cũng lập chùa mới.
4. Ý nghĩa tượng Ngọc Hoàng tại chùa Hồng Ân
Ngày 29/7 năm Khải Định 9 (1924), vua Khải Định mừng tứ tuần đại khánh. Nhưng không được bao lâu thì 1 năm sau vào ngày 6 tháng 11 năm 1925 (tức ngày 20 tháng 9 năm Ất Sửu), vua Khải Định băng hà do lâm bệnh nặng. Ông trị vì triều Nguyễn được 10 năm (từ năm 1916 đến năm 1925), sau đó ngai vàng được truyền lại cho con trai duy nhất là hoàng tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại sau này). Căn cứ theo niên đại nóc thượng lương tòa Tam Bảo chùa Hồng Ân được dựng cột cất nóc vào giờ Hoàng Đạo ngày Ất Hợi mùng 2 tháng 11 năm Ất Sửu niên hiệu Khải Định thứ 10 nước Đại Nam, cầu chúc cho toàn thể dân xã an lành thịnh vượng. Tức là vua đã băng hà ngày 20 tháng 9 năm Ất Sửu, chùa cất nóc ngày 2 tháng 11 năm Ất Sửu sau khi vua băng hà nhưng hoàng tử vẫn chưa lên ngôi nên vẫn là niên hiệu Khải Định năm thứ 10. Vậy có thể chùa được khởi công động thổ và bắt đầu tạc tượng, hoành phi, câu đối vào tháng 8 âm lịch năm đó bởi tháng 8 tại xã có rất nhiều ngày lễ hội lớn. Đến ngày 8 tháng 1 năm 1926 (ngày 24 tháng 11 năm Ất Sửu), vua Bảo Đại lên ngôi. Lại căn cứ theo bức hoành phi cổ nhất trong chùa Hồng Ân có chữ Hán “Liên Trì Hải Hội” có dòng lạc khoản “Long Phi Bảo Đại Bính Dần Xuân” cho ta biết thông tin vào mùa xuân năm Bính Dần, niên hiệu Bảo Đại (năm 1926 dương lịch), nhân dịp vua mới lên ngôi (long phi) thì chùa Hồng Ân được khánh thành. Lúc vua Khải Định băng hà, hoàng tử đang du học bên Pháp.
Lễ quốc tang vua Khải Định diễn ra trọng thể vào cuối tháng 1 tháng 1926 tại Kinh đô Huế. Lễ an táng chính thức bắt đầu từ ngày 29/1/1926 sau khi vua Bảo Đại lên ngôi. Vua thì ở kinh đô trong Huế, không phải ai cũng có điều kiện được một dịp trong đời nhìn thấy biết đến vua. Chùa đã khánh thành thì hệ thống tượng pháp, đồ tế khí chắc chắn đầy đủ. Lệ quốc tang được quy định từ thời Chúa Nguyễn Phúc Thái (chúa Nghĩa) như sau: Tôn thất và thân thần để tang ba năm; từ cai đội trở lên để tang hai tuần Trung nguyên; nội ngoại đội trưởng, văn chức, câu kê thì để tang đến giỗ đầu; còn quân và dân thì để tang đến Tết Trung nguyên (rằm tháng bảy). Xâu chuỗi các sự kiện lịch sử trên, có thể hiểu rằng tuy là tượng Ngọc Hoàng trong chùa nhưng đồng thời cũng là hình ảnh của tượng vua Khải Định để nhân dân thờ vọng trong thời điểm diễn ra quốc tang.
Kết luận
Về khía cạnh Phật giáo, hình tượng quốc vương (vua) tượng trưng cho quốc gia xã tắc chính trị. Việc một ngôi chùa thờ tượng vị quân vương vô cùng phổ biến tại các chùa Bắc Bộ bởi hàng trăm năm nay miền Bắc vốn có truyền thống Tam Giáo Đồng Nguyên, và trên hết điều người tín đồ Phật tử luôn coi trọng tứ trọng ân là ân cha mẹ, ân Tam Bảo (thầy tổ), ân quốc gia xã hội, ân đàn na thí chủ.
Hình tượng Ngọc Hoàng tại chùa Hồng Ân cũng không ngoài ý nghĩa trên. Đặc biệt lại có những nét riêng trong đời sống tâm linh tinh thần của người dân làng xã Tư Can. Họ thờ Trời, thờ phụng Đức Thành Hoàng làng cầu nguyện các Ngài che chở cho dân thôn quốc gia xã tắc được mưa hòa gió thuận, nước mạnh dân an, tri ân tưởng nhớ các vị vua các triều đại, gần gũi nhất là những vị vua cuối thời Nguyễn gắn bó với các sự kiện trọng đại của làng. Câu chuyện lịch sử về Vua Khải Định (1885 – 1925) là một chương đầy mâu thuẫn trong lịch sử nhà Nguyễn. Ông không được nhớ đến như một vị vua yêu nước chống Pháp, cũng không phải là một minh quân trị nước, mà hiện lên như một "ông vua nghệ sĩ" kỳ lạ, sống giữa những tranh cãi về sự xa hoa và thân phận bù nhìn. Dù bị phê phán về chính trị, nhưng không thể phủ nhận Khải Định là một người có óc thẩm mỹ độc đáo. Ông đã để lại cho Cố đô Huế một công trình kiến trúc đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật khảm sành sứ (Mosaic Style) và những tác phẩm này gần như vĩnh cửu, không bị phai màu theo thời gian như Ứng Lăng (Lăng vua Khải Định), Điện Kiến Trung, Cung An Định, Cửa Hiển Nhơn và Cửa Chương Đức[1].
Trở lại làng xã Tư Can thời vua Khải Định trị vì. Mặc dù vua chưa về đến Tư Can một ngày nào nhưng việc vua sắc phong Thành Hoàng làng tại đình Tư Can là bậc Trung Đẳng Thần dịp tháng 7 theo truyền thống lễ tiết Thụ phong, chính sách cải lương hương chính tác động gián tiếp đến việc thôn Tư Can tách ra khỏi xã Bài Nhiễm lập nên xã mới, lập nên chùa mới vì “trống làng nào làng đấy đánh”, sao lập lại hương ước làng xã. Nhờ đó mà sau này dân địa phương được đón danh hiệu làng văn hóa nhờ có bề dày lịch sử, có ngôi đình Tư Can được công nhận di tích cấp quốc gia và ngôi chùa Hồng Ân để nhiều thế hệ ông bà đến đời con cháu có nơi để nương tựa tâm linh.
-----------------------
[1] Tất cả các công trình tiêu biểu thời vua Khải Định đều thuộc Quần thể Di tích Cố đô Huế, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới. Ngay cả các bản khảm sành sứ chữ Hán tại lăng Khải Định cũng nằm trong “Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế" được vinh danh là Di sản tư liệu thế giới. Về mặt di sản, ông đã để lại những công trình có giá trị nghệ thuật đặc sắc, làm phong phú thêm kho tàng văn hóa nhân loại mà UNESCO đang bảo tồn.