Chùa Hồng Ân - thôn Tư Can

Chùa Hồng Ân - thôn Tư Can Chùa Hồng Ân - thôn Châu Can - xã Chuyên Mỹ - Hà Nội Trang nhà không giữ bản quyền. Mọi hình thức sao chép đều được hoan nghênh.

Thư từ, bài vở đóng góp xin gửi về số điện thoại: 0393159638

Đoạn văn Than trong một khoa cúng tiếp linh miền Bắc, cúng nhờ Ngài Địa Tạng Bồ Tát mời gọi Vong linh về tại ban thờ. Vì...
21/08/2026

Đoạn văn Than trong một khoa cúng tiếp linh miền Bắc, cúng nhờ Ngài Địa Tạng Bồ Tát mời gọi Vong linh về tại ban thờ. Vì theo Phật giáo thì Ngài Địa Tạng Bồ Tát chính là vị Giáo chủ cõi U Minh, phả độ chúng sinh ở cõi U Minh tối tăm. Ngài cầm trong tay phải một cây tích trượng và tay trái một hạt minh châu. Ngài xuống địa ngục làm giáo chủ, dùng tích trượng đập phá cửa địa ngục để cứu vớt chúng sinh, nếu chúng sinh chí thành niệm danh hiệu của Ngài.

"Kham thán" có nghĩa là đáng than thở, đáng ngậm ngùi hay đáng xót xa. “Kham thán” trước kiếp người vô thường: ba cõi thăng trầm, bốn loài bức bách, mộ phần khép kín, đường âm dương cách biệt. Văn mô tả những nẻo hậu sinh - kẻ nương sen về An Dưỡng, người rơi vào thai sinh thấp kém, có kẻ bị giam Phong Đô, lại có người lưu lạc cõi Kham Nhẫn - giữa chiều tối cô quạnh của thức thần. Trước bờ mép sinh tử ấy, chỉ nhờ Phật lực từ bi mà hương linh được dìu dắt; vì vậy tín chủ một lòng tịnh tín, mở đàn Lục độ kính thỉnh vong linh về chiếu pháp.

KHAM THÁN!

Ôi sinh tử thăng trầm ba cõi,

Thương bốn loài nhiều nỗi đắng cay

Quang âm vùn vụt mau thay,

Than ơi! thế sự giang tay vô thường.

Mới ngày nào ngồi bên cửa sổ

Mà hôm nay nấm cỏ xanh rì

Âm dương hai ngả biệt ly

Dương gian là khách, Âm Ty quê nhà.

Việc tội phúc gần xa khôn tỏ

Cảnh thăng trầm cũng khó đo lường.

Liên bào chất thác tựa nương

Hồn về chơi chốn quê hương an nhàn.

Hoặc sinh chốn nguy nan hiểm trở.

Bước chân vào cảnh lạ xa hoa.

Hoặc sinh trong cõi Sa – bà

Phong đô lục thủ, hoặc là đến nơi.

Chiều một bóng lẻ loi hiu hắt.

Thức thần kia phảng phất mơ màng,

Hoàng tuyền đường lối bóng vang,

U hồn cách biệt dương gian xa vời.

Không nhờ Phật các ngài tế độ,

Thì hồn sao biết chỗ về đây

Vậy nên Tín (hiếu) chủ hôm nay,

Lập đàn siêu độ tu chay một lòng,

Trên nhờ Phật thần thông quảng đại,

Tiếp vong linh được tới nghe kinh,

Họ hàng (Đại chúng) một niệm kính thành,

Đại vì Tín (hiếu) chủ rước vong lên chùa (về đàn).

THÁNG 7 ÂM LỊCH TRONG VĂN HÓA LÀNG XÃ TƯ CAN Mở đầuVùng đất Tư Can (nay là thôn Châu Can, xã Chuyên Mỹ, thành phố Hà Nội...
21/08/2026

THÁNG 7 ÂM LỊCH TRONG VĂN HÓA LÀNG XÃ TƯ CAN
Mở đầu
Vùng đất Tư Can (nay là thôn Châu Can, xã Chuyên Mỹ, thành phố Hà Nội) vốn có truyền thống Nho học, khoa bảng lâu đời từ thời Hậu Lê. Các Nho sĩ có tiếp thu lời hay ý đẹp của văn học cổ Trung Hoa (Kinh Thi), nhưng đặc sắc ở chỗ đã Việt hóa để địa danh Tư Can tuy vẫn là nơi địa linh nhân kiệt nhưng lại trở nên gần gũi trong cộng đồng làng xã địa phương. Theo Từ điển Hán - Việt của tác giả Thiều Chửu thì: Tư (斯) có nghĩa là “tách rời ra” hoặc “này”, “đây”; Can (干) có rất nhiều nghĩa nhưng tác giả sử dụng với nghĩa là “bến nước”, “bờ” để khái quát mô tả đặc trưng vị trí địa lý, cảnh quan sông nước của vùng đất này từ khi dân cư khai hoang lập nên xóm làng. Dân cư sinh sống tại bờ bên này của dòng sông, còn bờ bên kia là đồng ruộng, bãi bồi, sông nước bao la. Vì lẽ đó nên xưa dòng sông có tên là Nguyệt Tư giang hoặc Tư giang. Vậy tên chữ của làng có ý nghĩa là “bờ sông bên này”. Tháng 7 âm lịch hiện nay được mọi người xem là tháng cô hồn với những điều kiêng kị, là “tháng xấu”. Tuy nhiên trong thời kì phong kiến đến trước năm 1945, tại khu vực làng xã Tư Can (nay là thôn Châu Can, xã Chuyên Mỹ, Hà Nội) lại coi tháng 7 âm lịch gắn liền với những sự kiện trọng đại trong đời sống văn hóa làng xã dân cư. Căn cứ theo các bản Hương ước sưu tầm được tại Tư Can qua các thời kì, các sắc phong chữ Hán tại đình làng, nghiên cứu về lịch sử chùa Hồng Ân tại địa phương, tác giả lại có một góc nhìn khác. Tháng 7 ở Tư Can có ngày lễ Thụ phong dịp rằm tháng 7, những ngày trong tháng 7 kỉ niệm sự kiện các triều vua đăng quang, thượng thọ, ban tặng thêm sắc phong cho Thành Hoàng làng tại địa phương. Và đặc biệt là trong giai đoạn từ tháng 7 âm lịch năm 1925 – tháng giêng 1926 , khi vừa lập nên xã mới, bộ máy chính quyền làng xã mới vận hành, khi chùa Hồng Ân đang trong giai đoạn thành lập chùa, dựng cột cất nóc, hoàn thiện hệ thống tượng pháp, đồ thờ tự và khánh thành cũng gắn với sự kiện lịch sử của 2 vị vua cuối cùng của chế độ Phong kiến Việt Nam là Vua Khải Định và vua Bảo Đại. Có thể vì những nguyên nhân đó nên người dân địa phương tạo tác nên một pho tượng Ngọc Hoàng tuyệt đẹp kết tinh tất cả những sự kiện lịch sử vừa nêu trên, phản ánh xã hội đương thời mấy trăm năm thăng trầm thịnh suy đã trôi qua tại vùng đất này.

1. Tiết thụ phong
Căn cứ theo bản Hương ước 73 điều, lập ngày 11 tháng 11 năm Tự Đức 4 (1851) và 6 điều bổ sung sửa đổi, viết ngày 26 tháng 5 năm Thành Thái 2 (1890), sao lại ngày 29 tháng 7 năm Khải Định 3 (1918): Theo Điều 8, hằng năm vào ngày 16 tháng 7 có tiết Thụ phong, lễ phẩm tùy nghi sửa biện. “Tiết Thụ phong” (受封節) là dịp lễ hoặc thời điểm mà một người chính thức nhận tước vị, phong hiệu, hoặc sắc phong do vua ban tặng. Trong ngữ cảnh lịch sử phong kiến, từ "tiết" ở đây mang nghĩa là thời kỳ, dịp hay buổi lễ trọng thể ghi nhận việc ban thưởng của vua.
2. Sắc phong cho việc thờ phụng Thành Hoàng làng của các triều đại
Lại căn cứ theo các bản sắc phong Thành Hoàng làng thờ phụng tại đình Tư Can:
- Ngày 1/7 năm Đồng Khánh 2 (1887) gia phong Dực Bảo Trung Hưng. Dực Bảo Trung Hưng (翊保中興) là một mỹ tự thời phong kiến nhà Nguyễn từ năm Đồng Khánh 2 trở đi ban sắc phong cho các vị Thần trong nước, dùng để chỉ công gắng sức phò tá, bảo vệ và phục hưng cơ nghiệp của triều đình. Trong tiếng Hán Việt, "dực bảo" (翊保) nghĩa là phù trợ và che chở, bảo vệ; "trung hưng" (中興) nghĩa là làm cho một triều đại đang suy yếu được hưng thịnh trở lại.
- Năm Duy Tân nguyên niên (1907), vua tấn quang đại lễ (lên ngôi). Ngày 11/08 năm Duy Tân 3 (1909), vua đặc chuẩn cho dân phụng sự như cũ.
- Ngày 29/7 năm Khải Định 9 (1924), nhân dịp vua tứ tuần đại khánh có đăng trật phong Tủng Bạt Trung Đẳng Thần. Nghĩa là nhân dịp vua mừng thọ 40 tuổi, vua nâng bậc phẩm hàm, gia phong thêm mỹ tự cho Thần Hoàng làng là vị Trung đẳng Thần hiên ngang.
3. Vấn đề cải lương hương chính thời vua Khải Định dẫn đến tách xã Tư Can, lập chùa Hồng Ân
Khoảng thời gian 1919 - 1924 dưới thời vua Khải Định nở rộ việc cải lương hương ước. Hương ước cải lương (còn gọi là cải lương hương chính) nghĩa là "sửa đổi cho tốt hơn" đối với quy chế quản lý làng xã, xuất hiện vào đầu thế kỷ XX. Đây là bước chuyển tiếp quan trọng nhằm sửa đổi các hủ tục cổ truyền, tinh giản bộ máy và tài chính làng xã theo sự định hướng của chính quyền thực dân Pháp kết hợp cùng triều đình nhà Nguyễn. Ở Bắc Kì, chủ trương “cải lương hương chính” của chính quyền Pháp được thực hiện vào những năm 20 của thế kỉ XX, đặc biệt phổ biến ở các tỉnh Bắc Kì sau khi ban hành Nghị định ngày 12 tháng 8 năm 1921 của Thống sứ Bắc Kì. Cải lương hương chính là chính sách được chính quyền thực dân đưa ra nhằm can thiệp vào chính quyền làng xã. Lúc này thôn Tư Can tách ra khỏi xã Bài Nhiễm để lập lên xã mới Tư Can. Lập nên xã mới nên dân cũng lập chùa mới.

4. Ý nghĩa tượng Ngọc Hoàng tại chùa Hồng Ân
Ngày 29/7 năm Khải Định 9 (1924), vua Khải Định mừng tứ tuần đại khánh. Nhưng không được bao lâu thì 1 năm sau vào ngày 6 tháng 11 năm 1925 (tức ngày 20 tháng 9 năm Ất Sửu), vua Khải Định băng hà do lâm bệnh nặng. Ông trị vì triều Nguyễn được 10 năm (từ năm 1916 đến năm 1925), sau đó ngai vàng được truyền lại cho con trai duy nhất là hoàng tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại sau này). Căn cứ theo niên đại nóc thượng lương tòa Tam Bảo chùa Hồng Ân được dựng cột cất nóc vào giờ Hoàng Đạo ngày Ất Hợi mùng 2 tháng 11 năm Ất Sửu niên hiệu Khải Định thứ 10 nước Đại Nam, cầu chúc cho toàn thể dân xã an lành thịnh vượng. Tức là vua đã băng hà ngày 20 tháng 9 năm Ất Sửu, chùa cất nóc ngày 2 tháng 11 năm Ất Sửu sau khi vua băng hà nhưng hoàng tử vẫn chưa lên ngôi nên vẫn là niên hiệu Khải Định năm thứ 10. Vậy có thể chùa được khởi công động thổ và bắt đầu tạc tượng, hoành phi, câu đối vào tháng 8 âm lịch năm đó bởi tháng 8 tại xã có rất nhiều ngày lễ hội lớn. Đến ngày 8 tháng 1 năm 1926 (ngày 24 tháng 11 năm Ất Sửu), vua Bảo Đại lên ngôi. Lại căn cứ theo bức hoành phi cổ nhất trong chùa Hồng Ân có chữ Hán “Liên Trì Hải Hội” có dòng lạc khoản “Long Phi Bảo Đại Bính Dần Xuân” cho ta biết thông tin vào mùa xuân năm Bính Dần, niên hiệu Bảo Đại (năm 1926 dương lịch), nhân dịp vua mới lên ngôi (long phi) thì chùa Hồng Ân được khánh thành. Lúc vua Khải Định băng hà, hoàng tử đang du học bên Pháp.
Lễ quốc tang vua Khải Định diễn ra trọng thể vào cuối tháng 1 tháng 1926 tại Kinh đô Huế. Lễ an táng chính thức bắt đầu từ ngày 29/1/1926 sau khi vua Bảo Đại lên ngôi. Vua thì ở kinh đô trong Huế, không phải ai cũng có điều kiện được một dịp trong đời nhìn thấy biết đến vua. Chùa đã khánh thành thì hệ thống tượng pháp, đồ tế khí chắc chắn đầy đủ. Lệ quốc tang được quy định từ thời Chúa Nguyễn Phúc Thái (chúa Nghĩa) như sau: Tôn thất và thân thần để tang ba năm; từ cai đội trở lên để tang hai tuần Trung nguyên; nội ngoại đội trưởng, văn chức, câu kê thì để tang đến giỗ đầu; còn quân và dân thì để tang đến Tết Trung nguyên (rằm tháng bảy). Xâu chuỗi các sự kiện lịch sử trên, có thể hiểu rằng tuy là tượng Ngọc Hoàng trong chùa nhưng đồng thời cũng là hình ảnh của tượng vua Khải Định để nhân dân thờ vọng trong thời điểm diễn ra quốc tang.

Kết luận
Về khía cạnh Phật giáo, hình tượng quốc vương (vua) tượng trưng cho quốc gia xã tắc chính trị. Việc một ngôi chùa thờ tượng vị quân vương vô cùng phổ biến tại các chùa Bắc Bộ bởi hàng trăm năm nay miền Bắc vốn có truyền thống Tam Giáo Đồng Nguyên, và trên hết điều người tín đồ Phật tử luôn coi trọng tứ trọng ân là ân cha mẹ, ân Tam Bảo (thầy tổ), ân quốc gia xã hội, ân đàn na thí chủ.
Hình tượng Ngọc Hoàng tại chùa Hồng Ân cũng không ngoài ý nghĩa trên. Đặc biệt lại có những nét riêng trong đời sống tâm linh tinh thần của người dân làng xã Tư Can. Họ thờ Trời, thờ phụng Đức Thành Hoàng làng cầu nguyện các Ngài che chở cho dân thôn quốc gia xã tắc được mưa hòa gió thuận, nước mạnh dân an, tri ân tưởng nhớ các vị vua các triều đại, gần gũi nhất là những vị vua cuối thời Nguyễn gắn bó với các sự kiện trọng đại của làng. Câu chuyện lịch sử về Vua Khải Định (1885 – 1925) là một chương đầy mâu thuẫn trong lịch sử nhà Nguyễn. Ông không được nhớ đến như một vị vua yêu nước chống Pháp, cũng không phải là một minh quân trị nước, mà hiện lên như một "ông vua nghệ sĩ" kỳ lạ, sống giữa những tranh cãi về sự xa hoa và thân phận bù nhìn. Dù bị phê phán về chính trị, nhưng không thể phủ nhận Khải Định là một người có óc thẩm mỹ độc đáo. Ông đã để lại cho Cố đô Huế một công trình kiến trúc đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật khảm sành sứ (Mosaic Style) và những tác phẩm này gần như vĩnh cửu, không bị phai màu theo thời gian như Ứng Lăng (Lăng vua Khải Định), Điện Kiến Trung, Cung An Định, Cửa Hiển Nhơn và Cửa Chương Đức[1].
Trở lại làng xã Tư Can thời vua Khải Định trị vì. Mặc dù vua chưa về đến Tư Can một ngày nào nhưng việc vua sắc phong Thành Hoàng làng tại đình Tư Can là bậc Trung Đẳng Thần dịp tháng 7 theo truyền thống lễ tiết Thụ phong, chính sách cải lương hương chính tác động gián tiếp đến việc thôn Tư Can tách ra khỏi xã Bài Nhiễm lập nên xã mới, lập nên chùa mới vì “trống làng nào làng đấy đánh”, sao lập lại hương ước làng xã. Nhờ đó mà sau này dân địa phương được đón danh hiệu làng văn hóa nhờ có bề dày lịch sử, có ngôi đình Tư Can được công nhận di tích cấp quốc gia và ngôi chùa Hồng Ân để nhiều thế hệ ông bà đến đời con cháu có nơi để nương tựa tâm linh.

-----------------------

[1] Tất cả các công trình tiêu biểu thời vua Khải Định đều thuộc Quần thể Di tích Cố đô Huế, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới. Ngay cả các bản khảm sành sứ chữ Hán tại lăng Khải Định cũng nằm trong “Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế" được vinh danh là Di sản tư liệu thế giới. Về mặt di sản, ông đã để lại những công trình có giá trị nghệ thuật đặc sắc, làm phong phú thêm kho tàng văn hóa nhân loại mà UNESCO đang bảo tồn.

Ngày 20/8/2026 (ngày 08 tháng 7 năm Bính Ngọ), trường hạ Viên Minh - xã Đại Xuyên trang nghiêm tổ chức LỄ TẠ PHÁP, hoàn ...
20/08/2026

Ngày 20/8/2026 (ngày 08 tháng 7 năm Bính Ngọ), trường hạ Viên Minh - xã Đại Xuyên trang nghiêm tổ chức LỄ TẠ PHÁP, hoàn thành chương trình tu học “BÁCH TRƯỢNG TÙNG LÂM THANH QUY CHỨNG NGHĨA KÝ”.

Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải (749–814) đời Đường biên soạn, quy định nếp sống, giới luật, uy nghi và sinh hoạt Thiền môn.
Đời Thanh được Diệu Vĩnh hiệu duyệt, Nghi Nhuận chứng nghĩa; tại Việt Nam được Sa-môn Thích Tiến Đạt – chùa Đại Từ Ân dịch sang Việt ngữ. Học Thanh Quy để hiểu pháp – giữ uy nghi – sống hòa hợp – gìn giữ gia phong Thiền môn.

BÁCH TRƯỢNG THANH QUY – CHÍN CHƯƠNG GHI NHỚ
Bách Trượng Thanh Quy lưu truyền,
Hoài Hải Đường lập thiền nguyên muôn đời.
Thiền môn nếp sống sáng ngời,
Nghi lễ phép tắc người người noi theo.
Một Chúc Ly – Lễ nguyện cầu.
Hai Báo Ân – Đền đáp thâm sâu bốn ơn.
Ba Báo Bản – Nhớ cội nguồn.
Bốn Tông Tổ – Giữ tông môn truyền thừa.
Năm Trụ Trì – Giáo hóa chùa.
Sáu Lưỡng Tự – Chức sự phân minh.
Bảy Đại Chúng – Giữ luật nghi.
Tám Tiết Lạp – An cư hạ kỳ.
Chín Pháp Khí – Đạo cụ uy nghi.
Chín chương ghi nhớ, hành trì chẳng quên.

NAM MÔ AN CƯ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT.

19/08/2026
SƯ CỤ THÍCH ĐÀM HIỆN MỘT ĐỜI GIẢN DỊ GIỮ CHÂN QUÊNguồn: Trang Phật giáo đời sốnghttps://phatgiaodoisong.vn/su-cu-thich-d...
13/08/2026

SƯ CỤ THÍCH ĐÀM HIỆN
MỘT ĐỜI GIẢN DỊ GIỮ CHÂN QUÊ
Nguồn: Trang Phật giáo đời sống
https://phatgiaodoisong.vn/su-cu-thich-dam-hien-mot-doi-gian-di-giu-chan-que/?zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo
Sáng ngày 29/6/Bính Ngọ (Dương lịch: 11/8/2026), tại chùa Phúc Linh, thôn Cổ Châu, xã Chuyên Mỹ, thành phố Hà Nội đã trang nghiêm diễn ra lễ bách nhật trai tuần cố Ni trưởng Thích Đàm Hiện – trụ trì chùa Hồng Ân, thôn Châu Can, xã Chuyên Mỹ, Hà Nội.
Sư cụ Thích Đàm Hiện, thế danh Nguyễn Thị Hiện, sinh năm 1937. Nguyên quán tại xã Tư Can, tổng Bạch Sam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là thôn Châu Can, xã Chuyên Mỹ, thành phố Hà Nội). Nhờ đã gieo trồng thiện căn từ nhiều đời mà sư cụ đã sớm giác ngộ cõi đời là mộng huyễn, thế sự là phù du nên khi hội tụ đủ thiện căn phúc đức nhân duyên, sư cụ đã xin phép song thân xuất gia đầu Phật, nhận sư cụ Thích Đàm Hựu tu ở sơn môn Mạnh Tân (nay là chùa Mạnh Tân, thôn Đông Lỗ, xã Ứng Hòa, thành phố Hà Nội) làm thầy thế độ. Đời này cụ sớm đã như bản nguyện “Chính tín xuất gia, đồng chân nhập đạo”.
Kể từ khi dân làng Tư Can sang chốn Tổ Mạnh Tân thỉnh sư cụ Thích Đàm Hựu về trụ trì chùa Hồng Ân thôn Tư Can, hai thầy trò sư cụ phần lớn đã gắn bó toàn bộ cuộc đời tu hành và hoạt động cách mạng tại ngôi chùa và địa phương nơi đây. Thực hành theo tư tưởng “Phật Pháp ở trong thế gian, không lìa thế gian mà có sự giác ngộ”, ngoài việc chuyên tâm tu tập, sư cụ Thích Đàm Hiện còn tích cực tham gia các hoạt động của làng xã, hòa nhập gắn bó đạo và đời, chăm lo đời sống tín ngưỡng tâm linh của nhân dân địa phương, phát huy hạnh nguyện nhập thế hành đạo Bồ tát, phụng sự Tổ quốc, nhân sinh.
Ngôi chùa Hồng Ân thôn Châu Can nằm ven dòng sông Nguyệt Tư giang thơ mộng như một nhân chứng lịch sử cách mạng hào hùng tại địa phương trong trọn vẹn một thế kỷ từ khi dựng cột cất nóc năm 1925, góp phần tích cực to lớn phục vụ kháng chiến thắng lợi của dân tộc. Một số dấu mốc lịch sử quan trọng như năm 1964 - 1965, Đế quốc Mỹ cho máy bay đánh phá miền Bắc, tổ hợp thợ may làng Dâu (thôn Cổ Châu) may hàng quân nhu cho bộ đội ở gần khu Cầu Giẽ đã sơ tán về hoạt động tại chùa Tư Can. Năm 1966 – 1967, máy bay Mỹ bắn phá ác liệt Cầu Giẽ cùng nhiều địa phương khác. Trong thời gian này, nhiều đơn vị pháo cao xạ phòng không về thôn Tư Can đã gửi tại chùa Hồng Ân rất nhiều đạn pháo cao xạ các loại. Có đơn vị ở tại chùa hàng tuần lễ, nấu cơm ăn nghỉ, nhà chùa luôn cưu mang, nuôi giấu các chiến sĩ cách mạng và cất giữ vũ khí, đạn pháo không để xảy ra mất mát, hư hỏng. Có thời gian Ủy ban nhân dân xã Châu Can cũ đã mượn địa điểm tại chùa Tư Can để làm trụ sở làm việc. Ngoài ra còn có thời điểm học sinh mẫu giáo, cấp một cũng học tại chùa. Đến năm 1985 – 1986, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tây mới về lấy nốt số đạn còn gửi trong chùa, hai thầy trò sư cụ Thích Đàm Hiện đã cùng với cán bộ nhân dân khiêng mìn, đạn pháo đi tiêu hủy.
Hòa bình lập lại, cuộc sống còn vô vàn gian truân, thử thách ý chí, nghị lực của người đệ tử Phật, nhưng sư cụ Thích Đàm Hiện vẫn phát huy đức hạnh siêng năng, học hỏi, một lòng thị sư học đạo không hề quản ngại, chấp tác tại các chốn Tổ lớn quanh vùng.
Căn cứ theo Chứng nhận Tăng Ni số 4059/CNTN của Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp ngày 15/12/2000, sư cụ Thích Đàm Hiện thụ giới Tỷ khiêu Ni ngày 6/8/1978, giới đàn do Tỉnh hội Phật giáo Hà Tây tổ chức. Sư cụ Thích Đàm Hiện đã từng tòng Tăng an cư tại các trường hạ của tỉnh Hà Tây thời bấy giờ như trường hạ chùa Đỏ (Hà Đông), trường hạ Hội Xá (Thường Tín). Nhờ sự tinh tiến tu học, sư cụ sớm triêu chiều mộ thỉnh chuông niệm Phật, hầu Phật hầu Tổ tại chùa Hồng Ân.
Với bản tính siêng năng tháo vát, từ khi nhận được lời thỉnh mời của nhân dân các thôn lân cận, sư cụ Thích Đàm Hiện được thầy nghiệp sư giao trọng trách trông nom, thắp hương thờ Phật gánh vác trọng trách của một sứ giả Như Lai hướng dẫn nhân dân tín đồ sống tốt đời đẹp đạo. Các ngôi chùa được sư cụ Thích Đàm Hiện về kế đăng như Phúc Sơn, Bảo Sơn, Phúc Linh, Phả Am, Bài Lễ tại khu vực Châu Can và Đông Lỗ đều dần dần tố hảo, đầy đủ tượng pháp, sạch cỏ đỏ đèn, các tòa tháp lịch đại Tổ Sư các chùa đều được trùng tu khang trang, là nơi để dân các làng nương tựa cầu nguyện quốc thái dân an, đạo pháp hưng long, an cư lạc nghiệp.
Hình ảnh vị sư già thanh bần giản dị áo vải quần nâu, thức khuya dậy sớm, tần tảo chợ búa ruộng vườn, chăm lo các đám xá trong làng, vun vén chùa cảnh, phụng sự Phật Thánh đã in sâu vào tâm khảm của nhiều thế hệ người dân làng xã Châu Can:
Tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc năm 2017, sư cụ Thích Đàm Hiện được tấn phong lên hàng giáo phẩm Ni trưởng. Trong suốt cuộc đời tu hành, để tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức, sư cụ đã tiếp độ được hai đệ tử xuất gia, ủy thác công việc chăm lo chùa cảnh cho các đệ tử, dặn dò công việc trước sau.
Và rồi tấm thân tứ đại cũng như cỗ xe đã cũ kỹ cũng đến ngày ngừng lăn bánh. Sư cụ đã thuận lý vô thường, từ bỏ huyễn thân, thâu thần thị tịch vào hồi 15 giờ ngày 18 tháng 3 năm Bính Ngọ (tức ngày 4/5/2026 dương lịch), trụ thế 90 tuổi, giới lạp 45 năm. Mới đây thôi, hình ảnh vị tôn sư vẫn ngày ngày lên chùa thỉnh chuông hương đăng tại ngôi chùa Hồng Ân nơi cụ gắn bó tu hành mấy chục năm qua mà giờ đây cụ đã an nhiên tự tại tiêu dao nơi Lạc cảnh.
Một kiếp tu hành nguyện lớn viên dung nơi pháp giới;
Nghìn thu tịch diệt tâm hương còn đượm chốn nhân gian.
Hình bóng, công đức, đạo hạnh tu hành của sư cụ mãi tỏa sáng trong tâm tư, ký ức của chư vị Tăng, Ni địa phương và Phật tử nhân dân nhiều làng, xã từng gắn bó với sư cụ Thích Đàm Hiện mấy chục năm trời.
Một đời giản dị giữ chân quê,
Nâu sồng khắc kỷ ngát hương huê.
Sa - bà vắng bóng còn lưu dấu,
Tịnh Độ thong d**g rộng lối về.
(Thượng toạ Thích Quảng Tĩnh - chùa Thiên Trúc cảm niệm)
Nam mô Liên Hoa Bảo tháp Ma ha Tỷ khiêu Ni Bồ tát giới Thích Đàm Hiện giác linh thuyền tọa hạ.

Mùa sen nở năm Bính Ngọ - Dương lịch 2026
Phật tử Bùi Thế Cương kính ghi

ĐIỂN TÍCH HỒNG NHẠN TRONG VĂN HỌC CỔ TRUNG HOA, VIỆT NAMBài trước đã nói đến điển tích Tư Can trong văn chương cổ. Nay t...
07/08/2026

ĐIỂN TÍCH HỒNG NHẠN TRONG VĂN HỌC CỔ TRUNG HOA, VIỆT NAM
Bài trước đã nói đến điển tích Tư Can trong văn chương cổ. Nay tiếp tục giới thiệu về điển tích Hồng Nhạn (鸿雁), Hồng Lạc (鴻 貉) và đặc biệt là chữ Hồng (鸿). Bởi hệ thống câu đối tại đình Tư Can, chùa Tư Can đều sử dụng các chữ Hán trên.
Tại cổng nghi môn đình Tư Can, thôn Châu Can, xã Chuyên Mỹ, thành phố Hà Nội có đôi câu đối chữ Hán:
閣 嚴 莊 鴻 貉 之 輿 圖 淨 地
江 流 顯 赫 斯 干 之 廟 貌 常 春
Đình Tư Can đã được Bộ Văn Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2008.
Hoành phi câu đối cổ trong chùa Hồng Ân, thôn Châu Can, xã Chuyên Mỹ, thành phố Hà Nội có đôi câu đối chữ Hán:
Hoành phi treo gian hậu cung tòa Tam Bảo, tạo tháng 8 âm lịch năm Quý Mùi 1943: 鴻恩寺 (HỒNG ÂN TỰ)
Đôi câu đối trong chùa:
佛界靈光鴻渚満天瀀法⾬
民⽅倚賴斯⼭隨地蔭慈雲
https://tapchinghiencuuphathoc.vn/y-nghia-hoanh-phi-cau-doi-tai-chua-hong-an-ha-noi.html
Vùng đất Tư Can vốn có truyền thống Nho học, khoa bảng lâu đời. Các Nho sĩ có tiếp thu lời hay ý đẹp của văn học cổ Trung Hoa (Kinh Thi), nhưng đặc sắc ở chỗ đã Việt hóa để địa danh Tư Can tuy vẫn là nơi địa linh nhân kiệt nhưng lại trở nên gần gũi trong cộng đồng làng xã địa phương. "Hồng Nhạn Chi Thập" (鸿雁之什) là tập hợp một nhóm 10 bài thơ trong Tiểu Nhã của Kinh Thi. Trong đó có hai bài thơ Hồng Nhạn (鸿雁) và Tư Can (斯干).
Hồng 鴻 vốn là tên một loại chim lớn ở ven bờ nước, họ nhạn, thường hiểu là chim hồng (ngỗng trời) và chim hộc (thiên nga). Đây là các loài chim lớn, có khả năng bay cao và bay xa. Trong văn hóa và lịch sử Á Đông, hình ảnh này thường được dùng làm biểu tượng cho những người có chí hướng lớn, hoài bão cao cả. Người xưa gọi chung những cánh chim thiên di ngàn dặm là “hồng nhạn”, coi nó như biểu tượng của tự do và viễn vọng. Trong văn ngôn, chữ Hồng này thường mang ý cao xa, rộng lớn do đó hay đi đôi với các từ chỉ sự thịnh vượng, hùng vĩ hoặc mang sắc thái trang trọng như hồng ân, hồng hy, hồng đức, hồng chí,... Những từ quen thuộc trong tiếng Việt như Hồng Bàng, hồng mao,... cũng dùng nghĩa của chữ Hồng này. Trong lịch sử Việt Nam, Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn từng dùng hình ảnh đôi cánh chim hồng hộc để răn dạy về sự đoàn kết, nền tảng vững chắc để làm nên nghiệp lớn. Câu nói nổi tiếng của Trần Hưng Đạo: “Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở 6 xương trụ cánh. Nếu không có 6 trụ cánh ấy thì cũng chim thường thôi".
Trở lại câu đối chữ Hán tại cổng nghi môn đình, chữ Hán trong câu đối đã thay chữ Hồng Nhạn thành Hồng Lạc vẫn mang tên một loài chim. Trong tâm thức người Việt, cụm từ "con Lạc cháu Hồng" gắn liền với niềm tự hào về nguồn gốc con Rồng cháu Tiên. Chữ "Hồng" bắt nguồn từ Hồng Bàng triều đại truyền thuyết của các Vua Hùng. Năm 1925, làng Tư Can lập nên ngôi chùa mới lấy tên chữ “Hồng Ân tự” (鴻 恩 寺), khác với tên chữ “Hồng Phúc tự” (洪 福 寺) thôn Trung; Chữ "Lạc" gắn liền với tên gọi tộc người cổ xưa (Lạc Việt, Lạc hầu, Lạc tướng; nền văn minh lúa nước Lạc điền). Và bên dòng sông cổ hình bán nguyệt thơ mộng trữ tình, ngôi đình cổ được dân làng xây dựng nên với quy mô bề thế nguy nga thờ phụng Đức Thánh, cầu nguyện ngài chở che phù hộ cho dân được hưng thịnh. Thần tích của vị Thành Hoàng làng được nhân dân Tư Can tôn thờ tại đình như sau: Dưới thời vua Hùng, giặc Ân kéo đến xâm lược. Ngài đã phù giúp Phù Đổng Thiên vương đánh giặc. Sau khi đất nước thanh bình, ngài trở về trời. Triều đình trao cho dân Tư Can phụng sự.
Điển tích Tư Can trong Kinh Thi đã phân tích tại bài trước. Tư Can (斯 干) tiếp cận theo nghĩa Hán Việt khái quát cảnh quan sông nước địa phương: Theo Từ điển Hán – Việt của tác giả Thiều Chửu thì: Tư (斯) có nghĩa là “tách rời ra” hoặc “này”, “đây”; Can (干) có rất nhiều nghĩa nhưng tác giả sử dụng với nghĩa là “bến nước”, “bờ” để khái quát mô tả đặc trưng vị trí địa lý, cảnh quan sông nước của vùng đất này từ khi dân cư khai hoang lập nên xóm làng. Dòng sông chảy ven xóm làng vốn là một nhánh nhỏ tách ra từ sông Nhuệ chảy từ địa phận Cổ Trâu (古 鄒) qua địa phận Tư Can rồi lại chảy qua ruộng đồng thôn Trung tạo thành hình bán nguyệt. Dân cư sinh sống tại bờ bên này của dòng sông, còn bờ bên kia là đồng ruộng, bãi bồi, sông nước bao la. Vì lẽ đó nên xưa dòng sông có tên là Nguyệt Tư giang hoặc Tư giang. Vậy tên chữ của làng có ý nghĩa là “bờ sông bên này”.
Ý nghĩa chung của các đôi câu đối ca ngợi vẻ đẹp trang nghiêm, thanh tịnh của ngôi đình, chùa nằm trên vùng đất lịch sử lâu đời của dân tộc con cháu Hồng Lạc bên cạnh dòng sông Tư linh thiêng, đồng thời cầu chúc cho xã tắc luôn vững bền, thịnh vượng cùng thời gian.

Tại cổng nghi môn đình Tư Can, thôn Châu Can, xã Chuyên Mỹ, thành phố Hà Nội có đôi câu đối chữ Hán:閣 嚴 莊 鴻 貉 之 輿 圖 淨 地江...
07/08/2026

Tại cổng nghi môn đình Tư Can, thôn Châu Can, xã Chuyên Mỹ, thành phố Hà Nội có đôi câu đối chữ Hán:
閣 嚴 莊 鴻 貉 之 輿 圖 淨 地
江 流 顯 赫 斯 干 之 廟 貌 常 春
Đình Tư Can đã được Bộ Văn Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2008.

Phiên âm:
"Đài các nghiêm trang Hồng Lạc chi dư đồ tĩnh địa
Giang lưu hiển hách Tư Can chi miếu mạo thường xuân".

Dịch nghĩa:
"Đài các nghiêm trang, đất cũ Hồng Lạc là nơi yên tĩnh.
Dòng sông hiển hách, ngôi đình Tư Can mãi như mùa xuân".
Vùng đất Tư Can vốn có truyền thống Nho học, khoa bảng lâu đời. Các Nho sĩ có tiếp thu lời hay ý đẹp của văn học cổ Trung Hoa. "Hồng Nhạn Chi Thập" (鸿雁之什) là tập hợp một nhóm 10 bài thơ trong Tiểu Nhã của Kinh Thi. Trong đó có hai bài thơ Hồng Nhạn (鸿雁) và Tư Can (斯干). Nhưng đặc sắc ở chỗ các học giả đã Việt hóa để địa danh Tư Can tuy vẫn là nơi địa linh nhân kiệt nhưng lại trở nên gần gũi trong cộng đồng làng xã địa phương.
Hồng 鴻 vốn là tên một loại chim lớn ở ven bờ nước, họ nhạn, thường hiểu là chim hồng (ngỗng trời) và chim hộc (thiên nga). Đây là các loài chim lớn, có khả năng bay cao và bay xa. Trong văn hóa và lịch sử Á Đông, hình ảnh này thường được dùng làm biểu tượng cho những người có chí hướng lớn, hoài bão cao cả. Người xưa gọi chung những cánh chim thiên di ngàn dặm là “hồng nhạn”, coi nó như biểu tượng của tự do và viễn vọng. Trong văn ngôn, chữ Hồng này thường mang ý cao xa, rộng lớn do đó hay đi đôi với các từ chỉ sự thịnh vượng, hùng vĩ hoặc mang sắc thái trang trọng như hồng ân, hồng hy, hồng đức, hồng chí,... Những từ quen thuộc trong tiếng Việt như Hồng Bàng, hồng mao,... cũng dùng nghĩa của chữ Hồng này. Trong lịch sử Việt Nam, Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn từng dùng hình ảnh đôi cánh chim hồng hộc để răn dạy về sự đoàn kết, nền tảng vững chắc để làm nên nghiệp lớn. Câu nói nổi tiếng của Trần Hưng Đạo: “Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở 6 xương trụ cánh. Nếu không có 6 trụ cánh ấy thì cũng chim thường thôi".
Trở lại câu đối chữ Hán tại cổng nghi môn, chữ Hán trong câu đối đã thay chữ Hồng Nhạn thành Hồng Lạc vẫn mang tên một loài chim. Trong tâm thức người Việt, cụm từ "con Lạc cháu Hồng" gắn liền với niềm tự hào về nguồn gốc con Rồng cháu Tiên. Chữ "Hồng" bắt nguồn từ Hồng Bàng triều đại truyền thuyết của các Vua Hùng. Năm 1925, làng Tư Can lập nên ngôi chùa mới lấy tên chữ “Hồng Ân tự” (鴻 恩), khác với tên chữ “Hồng Phúc tự” (洪福寺) thôn Trung; Chữ "Lạc" gắn liền với tên gọi tộc người cổ xưa (Lạc Việt, Lạc hầu, Lạc tướng; nền văn minh lúa nước Lạc điền). Và bên dòng sông cổ hình bán nguyệt thơ mộng trữ tình, ngôi đình cổ được dân làng xây dựng nên với quy mô bề thế nguy nga thờ phụng Đức Thánh, cầu nguyện ngài chở che phù hộ cho dân được hưng thịnh.
Điển tích Tư Can trong Kinh Thi đã phân tích tại bài trước: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1888604348963731&set=pb.100034425526425.-2207520000&type=3&locale=vi_VN
Tư Can (斯 干) tiếp cận theo nghĩa Hán Việt khái quát cảnh quan sông nước địa phương: Theo Từ điển Hán – Việt của tác giả Thiều Chửu thì: Tư (斯) có nghĩa là “tách rời ra” hoặc “này”, “đây”; Can (干) có rất nhiều nghĩa nhưng tác giả sử dụng với nghĩa là “bến nước”, “bờ” để khái quát mô tả đặc trưng vị trí địa lý, cảnh quan sông nước của vùng đất này từ khi dân cư khai hoang lập nên xóm làng. Dòng sông chảy ven xóm làng vốn là một nhánh nhỏ tách ra từ sông Nhuệ chảy từ địa phận Cổ Trâu (古 鄒) qua địa phận Tư Can rồi lại chảy qua ruộng đồng thôn Trung tạo thành hình bán nguyệt. Trong tấm bản đồ cổ “Tư Can xã dân cư thổ phụ đồ bản” (được vẽ vào tháng 3, năm Vĩnh Thịnh thứ 8 – 1712) cũng thể hiện dòng sông đó. Dân cư sinh sống tại bờ bên này của dòng sông, còn bờ bên kia là đồng ruộng, bãi bồi, sông nước bao la. Vì lẽ đó nên xưa dòng sông có tên là Nguyệt Tư giang hoặc Tư giang. Vậy tên chữ của làng có ý nghĩa là “bờ sông bên này”.

Ý nghĩa chung của đôi câu đối ca ngợi vẻ đẹp trang nghiêm, thanh tịnh của ngôi đình nằm trên vùng đất lịch sử lâu đời của dân tộc con cháu Hồng Lạc bên cạnh dòng sông Tư linh thiêng, đồng thời cầu chúc cho xã tắc luôn vững bền, thịnh vượng cùng thời gian.

07/08/2026

Address

Hanoi

Telephone

+84393159638

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Hồng Ân - thôn Tư Can posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The School

Send a message to Chùa Hồng Ân - thôn Tư Can:

Shortcuts

Share

Category