07/03/2025
Mèo Mon Men
CBAM "Carbon Border Adjustment Mechanism" là một cơ chế của Liên minh châu Âu (EU) kiểm soát lượng khí nhà kính thải ra từ hàng hóa nhập khẩu vào EU.
CBAM đặt ra giới hạn về lượng carbon mà sản phẩm phải tuân thủ để được phép nhập khẩu vào EU. Đào tạo nghề kép tại Đức
07/03/2025
17/12/2023
How do carbon markets work?
How do carbon markets work? In theory putting a price on carbon emissions should incentivise businesses to stop polluting. So why have carbon markets failed to achieve their goal of red...
17/12/2023
Carbon Border Adjustment Mechanism in 60 seconds
Carbon Border Adjustment Mechanism in 60 seconds As the EU raises its own climate ambition, but less stringent environmental and climate policies prevail in non-EU countries, there is a strong risk of so-ca...
17/12/2023
CBAM: CHECKLIST FOR EU IMPORTERS
15/12/2023
Năm 2003, EU ban hành Nghị quyết về việc thiết lập Hệ thống mua bán hạn mức khí thải gây hiệu ứng nhà kính trong lãnh thổ EU (chưa bao gồm hoạt động hàng không dân dụng). Trong đó, cơ chế giao dịch khí phát thải (ETS) đóng vai trò chủ đạo, được chính thức triển khai từ năm 2005. Mục tiêu ban đầu của cơ chế này nhằm giám sát các nhà cung cấp và các doanh nghiệp tiêu thụ năng lượng lớn. Mua bán phát thải các-bon là một phần của mua bán phát thải nói chung.
Hệ thống này hoạt động trên nguyên tắc hạn mức và mua bán, cho phép người tham gia mua hoặc bán hạn ngạch khí thải để việc cắt giảm có thể đạt được với mức chi phí thấp. Trong loại hình mua bán này, mỗi quốc gia giới hạn một mức độ khí thải tối đa mà các cơ sở được cho phép “xả”. Những quốc gia nào có lượng khí thải xả ra nằm dưới mức cho phép sẽ có quyền bán “sức chứa” khí thải còn dư của mình cho những quốc gia phát thải vượt quá giới hạn cho phép.
Điều này cũng áp dụng tương tự với các doanh nghiệp. Đây chính là nguyên nhân tại sao tổ chức được yêu cầu phải báo cáo về lượng khí thải hàng năm. Hạn ngạch khí thải được xem như là một dạng tiền tệ - một hạn ngạch được cấp cho người có quyền thải ra một tấn CO2 hoặc khí thải nhà kính khác.
Về cách thức hoạt động, hệ thống hoạt động thông qua việc EU đưa ra tổng mức phát thải cho từng giai đoạn cho tất cả các quốc gia trong khối tham gia và được thiết kế theo hướng giảm dần theo từng năm từ năm 2013, trung bình khoảng 1,74%/năm. Hàng năm, một lượng nhất định hạn mức phát thải được phân bổ miễn phí cho các bên tham gia, phần còn lại được đưa ra bán trên thị trường. Cuối mỗi năm, các bên tham gia nộp lại hạn mức phát thải cho phép mà các doanh nghiệp đã thải ra thị trường trong năm đó.
Chỉ trong năm đầu tiên vận hành hệ thống, ước tính có khoảng 321 triệu giấy phép hạn mức với giá trị giao dịnh lên tới 7,9 tỷ USD đã được trao đổi. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, trong năm 2011, có khoảng 7,9 tỷ giấy phép hạn mức với tổng trị giá giao dịch lên tới 147,9 tỷ USD. Do đó, hệ thống này là thị trường mua bán quyền phát thải khí nhà kính chính và lớn nhất trên thế giới, với sự tham gia của 31 quốc gia thành viên EU và khoảng 11.000 doanh nghiệp trên thế giới.
EU-EST đã góp phần lớn trong giảm thiểu tổng mức phát thải khí nhà kính. Cụ thể, gần một nửa tổng mức phát thải khí nhà kính của EU đã được giải quyết, tập trung nhiều trong các lĩnh vựa sản xuất điện và nhiệt, lọc dầu, sản xuất thép và gang, nhôm, kim loại, xi măng, vôi, giấy và bột giấy, bìa cứng, axit và các hóa chất hữu cơ…
Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu đã đạt được trong giảm mức tổng phát thải khí nhà kính, EU-ETS cũng đang bộc lộ những hạn chế. Đơn cử, năm 2008, chương trình này mở rộng bao gồm các ngành công nghiệp khác có lượng khí thải cao, đơn cử ngành hàng không dân dụng. Cụ thể, các hãng hàng không có chuyến bay đi/đến và khai thác trong lãnh thổ Châu Âu sẽ phải “mua” khả năng xả thải từ các nước này nếu lượng khí các-bon thải ra từ hoạt động của tàu bay vượt quá hạn ngạch được cấp.
Khi quy định này được đưa ra, đã có khoảng 4000 hãng hàng không thuộc 62 quốc gia bị ảnh hưởng. Nếu vi phạm, EU sẽ hạt 100 EUR đối với mỗi tấn CO2 vượt hạn ngạch (mà chưa mua quyền phát thải) hoặc thu giữ tàu bay, cấm hạ, cất cánh từ sân bay châu Âu. Nhằm quản lý triệt để, mỗi hãng bay đều phải mở một tài khoản khí thải tại Châu Âu và hoàn thành trước tháng 4/2012.
Chính sách EU-ETS “vấp” phải sự phản đối mạnh mẽ đầu tiên từ các nước khi đưa ra những quy định nêu trên đối với ngành hàng không dân dụng quốc tế. Các nước phản đối (bao gồm Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nga, Ấn Độ, Nhật, và cả Việt Nam) cho rằng EU-ETS đã không công bằng khi áp dụng tiêu chuẩn môi trường của EU đối với các nước khác, gây ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, tăng chi phí khi kinh tế đang khó khăn, cản trở nỗ lực tìm kiếm giải pháp chung ứng phó tác động của biến đổi khí hậu trong khuôn khổ Liên Hiệp Quốc.
Việt Nam đã sẵn sàng chưa?
Tới nay, đã có 77 quốc gia, 10 khu vực và 100 thành phố trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc cam kết các mục tiêu then chốt giảm lượng khí thải các-bon về bằng 0 vào năm 2050, cam kết hành động vì khí hậu và phát triển bền vững. Theo đó, các ngân hàng được khuyến khích dịch chuyển vốn cho vay vào các dự án phát thải khí độc hại hiện nay sang các ngành công nghiệp xanh hơn.
Nhận thấy những tác động tiêu cực của khí thải nhà kính tới môi trường và sự phát triển bền vững của một quốc giá, Việt Nam đã tham gia Chương trình sẵn sàng tham gia thị trường các-bon quốc tế từ năm 2012. Năm 2015, nước ta triển khai dự án “Chuẩn bị sẵn sàng cho xây dựng thị trường các-bon tại Việt Nam” với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới. Sau 5 năm thực hiện, Việt Nam đang dần hướng tới hình thành và phát triển một thị trường mua bán phát thải các-bon trong nước.
Diễn biến tiếp theo, Việt Nam đang thực hiện chương trình “Sẵn sàng tham gia thị trường các-bon quốc tế”, được viện trợ không hoàn lại và ủy thác thông qua Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam với tổng mức vốn của Dự án lên tới 3,6 triệu USD.
Theo đó, dự án cung cấp những giải pháp và thúc đẩy việc xây dựng, thực hiện và phổ biến các chính sách, công cụ quản lý nhà nước đối với các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA), hình thành công cụ thị trường, thí điểm NAMA tạo tín chỉ các-bon và xây dựng lộ trình tham gia thị trường các-bon trong nước và thế giới.
Thách thức lớn nhất hiện nay chính là có rất ít doanh nghiệp Việt Nam quan tâm đến quản lý phát thải các-bon. Để vận hành hiệu quả thị trường các-bon trong nước, các doanh nghiệp, tổ chức và các bên liên quan cũng cần được nâng cao nhận thức về vấn đề giảm thải các-bon, tránh những hành vi đối phó, “lách luật”.
Theo đó, các công ty phải có trách nhiệm với các bên liên quan như chính phủ, nhà cung cấp, nhà đầu tư, tổ chức tài chính, truyền thông, các tổ chức phi chính phủ, người tiêu dùng và công chúng trong việc buộc phải tiến hành đánh giá, giảm thiểu và thực hiện công báo cáo khí thải.
Mặt khác, để Việt Nam có đủ khả năng tham gia thị trường tín chỉ các-bon thế giới, việc lựa chọn công cụ định giá các-bon phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước cũng là yếu tố rất quan trọng. Theo đó, việc định giá các-bon chính xác đòi hỏi một cơ sở dữ liệu đầy đủ, minh bạch và chính xác về phát thải khí nhà kính trong sản xuất và kinh doanh.
14/12/2023
EU Carbon Border Adjustment Mechanism (CBAM) Webcast Series - Event 1 Introduction to CBAM https://www.youtube.com/watch?v=H5B2tG_mBfU
EU Carbon Border Adjustment Mechanism (CBAM) Webcast Series - Event 1 Introduction to CBAM Learn more at PwC.com - https://bit.ly/437JiCPOn this first call of our CBAM Series, we will discuss the context, key mechanics and customs link for CBAM, as...
14/12/2023
CBAM do EU ban hành là một chính sách thương mại về môi trường bao gồm các khoản thuế carbon đối với hàng hóa nhập khẩu vào thị trường các nước thuộc EU dựa trên cường độ phát thải khí nhà kính trong quy trình sản xuất tại nước sở tại.
Cơ chế này sẽ giúp làm cân bằng giá carbon giữa sản phẩm nội địa và nhập khẩu, nhằm ngăn chặn nguy cơ các doanh nghiệp EU chuyển hoạt động sản xuất phát thải nhiều carbon sang các quốc gia khác để tranh thủ các tiêu chuẩn còn lỏng lẻo (rò rỉ carbon). EU tin rằng cơ chế xanh đối với hàng hóa nhập khẩu từ bên ngoài EU thông qua hệ thống định giá carbon sẽ khuyến khích ngành công nghiệp sạch hơn ở các nước ngoài EU.
04/12/2023
Theo Quy định (EU) 2023/956 ngày 10/5/2023 của Ủy ban Châu Âu về thiết lập Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) tại EU, Cơ chế CBAM sẽ bắt đầu áp dụng trong giai đoạn chuyển tiếp từ ngày 01/10/2023 với giai đoạn báo cáo đầu tiên cho các nhà nhập khẩu kết thúc vào ngày 31/01/2024.
Theo đó, nhà nhập khẩu có nghĩa vụ phải báo cáo sản lượng hàng hóa chịu tác động của cơ chế điều chỉnh các bon khi nhập hàng vào EU. Để tạo điều kiện triển khai suôn sẻ, các nhà nhập khẩu EU sẽ không phải thực hiện điều chỉnh tài chính nào trong thời gian chuyển tiếp này.
04/12/2023
Cơ chế CBAM của EU và khuyến nghị giải pháp cho Việt Nam:
Một trong những vấn đề mới và được quan tâm nhất hiện nay đối với hàng hóa xuất khẩu vào EU là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) sẽ được Liên minh Châu Âu (EU) thí điểm áp dụng giai đoạn chuyển tiếp từ ngày 01/10/2023 và thực hiện đầy đủ từ năm 2026. Vậy Cơ chế CBAM là gì, tác động thế nào đến hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU và cần giải pháp ứng phó, thích ứng ra sao với chính sách mới này của EU?
Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) là gì?
EU đang tiến hành kế hoạch để đạt được mục tiêu tham vọng trở thành lục địa trung hòa khí carbon vào năm 2050. Tuy nhiên, EU lo ngại các doanh nghiệp EU có thể chuyển những hoạt động sản xuất phát thải nhiều carbon ra nước ngoài để tranh thủ các tiêu chuẩn còn lỏng lẻo, hay còn gọi là “rò rỉ carbon” qua việc chuyển lượng khí thải ra ngoài châu Âu và làm suy yếu nghiêm trọng tham vọng trung hòa khí hậu của EU và toàn cầu.
Để ngăn chặn nguy cơ này, EU quyết định sẽ cân bằng giá carbon giữa sản phẩm nội địa và nhập khẩu bằng Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM). EU cũng tin rằng, một Cơ chế xanh đối với hàng hóa nhập khẩu từ bên ngoài EU thông qua hệ thống định giá hợp lý lượng carbon thải ra trong quá trình sản xuất sẽ khuyến khích ngành công nghiệp sạch hơn ở các nước ngoài EU.
Về bản chất, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (The EU's Carbon Border Adjustment Mechanism - CBAM) sẽ đánh thuế carbon đối với tất cả hàng hóa nhập khẩu vào thị trường các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU) dựa trên cường độ phát thải khí nhà kính trong quy trình sản xuất tại nước sở tại.
Về cơ chế cụ thể, nhà nhập khẩu hàng vào EU theo Cơ chế đăng ký với cơ quan quản lý trong nước và mua chứng chỉ CBAM. Giá của chứng chỉ dựa vào giá tín chỉ phát thải hàng tuần của Hệ thống thương mại khí thải của Liên minh châu Âu (EU ETS). Nhà nhập khẩu trong EU kê khai hàm lượng phát thải trong hàng nhập khẩu và giao nộp số lượng tín chỉ tương ứng của mỗi năm. Nếu nhà nhập khẩu chứng minh được giá carbon đã được thanh toán khi sản xuất hàng nhập khẩu, lượng phát thải tương ứng có thể được khấu trừ.
EU phân loại hàng hóa thành 2 loại để tính suất phát thải thực tế gồm: Hàng hóa đơn giản và hàng hóa phức tạp. Hàng hóa phức tạp sẽ tính toán cả lượng phát thải của nguyên liệu đầu vào. Như vậy, các doanh nghiệp phải nhận thức được rằng, phát thải được tính cho hàng hóa không chỉ đơn giản phát sinh trong quá trình sản xuất, mà còn cả từ nguyên liệu, nghĩa là các doanh nghiệp phải báo cáo chi tiết về hàng hóa đầu vào.
Việc đánh thuế này là trụ cột quan trọng trong các chính sách khí hậu của châu Âu và cũng là một trong những cơ chế mà EU khuyến khích các đối tác thương mại khử carbon trong lĩnh vực sản xuất.
“EU là khu vực thương mại đầu tiên trên thế giới đánh thuế carbon đối với hàng hóa nhập khẩu. Chúng tôi đã thảo luận vấn đề này trong hơn 20 năm qua. Đây là một thỏa thuận lịch sử về khí hậu.” - Ông Pascal Canfin, Chủ tịch Ủy ban Môi trường của Nghị viện châu Âu.
Trước đó, năm 2005, EU bắt đầu thực hiện đánh thuế về việc xả thải carbon ra môi trường. Theo đó, các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp tại EU bắt buộc phải trả tiền cho mỗi tấn carbon xả thải ra môi trường. Thuế carbon được xem là một trong những giải pháp hiệu quả nhất để điều chỉnh lượng xả thải carbon hằng năm tuân theo thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu năm 2015 mà các quốc gia đã ký kết.
Theo các chuyên gia, những nước chịu ảnh hưởng đầu tiên từ Cơ chế CBAM là 5 đối tác thương mại hàng đầu tại châu Á của EU gồm: Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ.
Việt Nam là đối tác đứng thứ 11 về hàng hóa nhập khẩu vào EU. Dù hiện tại phần lớn hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam không thuộc các nhóm này nhưng phạm vi có thể sẽ mở rộng và bao gồm nhiều sản phẩm hơn trong tương lai.
Mặc dù nhằm mục đích chống biến đổi khí hậu, CBAM sẽ tạo thêm chi phí đáng kể đối với các hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt nếu Cơ chế này được mở rộng sang các lĩnh vực khác trong tương lai.
21/02/2023
Người học giỏi có một đặc điểm là cái tôi của họ cũng cao hơn người bình thường. Không phải ai học giỏi đều có cái tôi cao, nhưng phần đông là vậy. Cái tôi của mỗi người được hình thành từ năm ba tuổi khi chúng ta biết các cảm xúc, ham muốn riêng mà không phụ thuộc người khác thậm chí cả cha mẹ. Ở đó, những đứa trẻ bắt đầu biết chọn quần áo đẹp theo ý của chúng, biết từ chối những gì chúng cho là không ngon.
Ảo tưởng 'người nhiều bằng cấp phải làm việc cao sang' Có người ôm lấy tấm bằng đại học bám trụ ở thành thị để kiếm 8 triệu đồng/tháng, chứ không chịu sang Australia hái nho thu nhập 3 triệu đồng/ngày.
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Category
Contact the school
Telephone
Website
Address
Tầng 6, 116 Trường Chinh, Đống Đa
Hanoi