27/01/2015
Đạo Phật và những ứng dụng vào trong cuộc sống
Đây là trang giới thiệu những giáo lý căn bản của Đạo Phật, và những ứng d
Trang này được thành lập nhằm giới thiệu những giáo lý căn bản, những tư tưởng đạo đức và triết học quan trọng của Phật Giáo đến với tất cả mọi người. Ngoài ra, tôi sẽ giới thiệu những triết lý, danh ngôn mang tư tưởng của đạo Phật, và những ứng dụng trực tiếp, hữu ích của đạo Phật vào cuộc sống. Từ đó, hướng tới việc hoằng dương chánh pháp, giúp cho mọi người sống an lạc và có cuộc sống tốt hơn.
27/01/2015
05/01/2015
https://www.youtube.com/watch?v=RbX291IL1PM
KINH LĂNG NGHIÊM ( CÓ CHỮ ) - ĐĐ.THÍCH TRÍ THOÁT TỤNG - 楞嚴經 KINH LĂNG NGHIÊM ( CÓ CHỮ ) - ĐĐ.THÍCH TRÍ THOÁT TỤNG - 楞嚴經. Welcome to My Channel! Kênh Phật Giáo 2 của TANG TRUNG THANG https://www.youtube.com/channel/UCN...
PHÁP MÔN DUY NHẤT CỦA ĐỨC PHẬT
Khái niệm “pháp môn” do các Tổ sư Trung Quốc (TQ) đặt ra, nghĩa đen của nó là “cánh cửa đi vào Phật pháp”. Người TQ đã dùng hình ảnh của một ngôi nhà có cửa cái và các cửa sổ. Thông thường, người ta có thói quen đi vào nhà bằng cửa chính chứ không ai chui qua cửa sổ. Bằng hình ảnh này, các vị lập tông nghĩ rằng: bài kinh tông chỉ (kinh pháp môn) được mình chọn lựa và truyền bá chính là cửa ngõ đi vào Phật pháp... phương pháp luận này đã làm cho nhiều người ngộ nhận rằng “ngoài bản kinh pháp môn, thì người tu học theo pháp môn không cần phải đọc và ứng dụng bất kì một bộ kinh nào khác”. Do vậy, trãi qua nhiều thế kỷ, người tu học theo hệ thống pháp môn chỉ tu tập một phần nào trong tổng thể những lời dạy của đức Phật mà thôi!
Khái niệm 84.000 Pháp môn là do TQ đặt ra, các vị lập tông TQ dựa vào con số 84.000 (vốn là biểu tượng mô tả về số lượng nhiều, không thể tính đếm được) trong Kinh Trường Bộ nói riêng và kinh tạng Pali nói chung đã hình thành ra 84.000 cửa ngõ đi vào Phật pháp.
Nhưng trên thực tế, khi phân tích về bản chất Pháp môn, TQ chỉ có 10 tông phái. Tiếp nhận 10 tông phái từ TQ, Nhật Bản tạo ra 14 tông phái, Tây Tạng có 4 tông phái. Gộp tất cả các tông phái có cùng khuynh hướng chung liên hệ đến Tịnh độ tông thì Nhật Bản cũng chỉ còn 10 tông phái, và các tông phái tại Nhật Bản, Nam – Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Tây Tạng đều nằm trong 10 tông phái của Phật giáo TQ.
Như vậy, người TQ dùng khái niệm 84.000 pháp môn chỉ vì mục đích cho người ta thấy rằng là: “con đường tu tập theo đạo Phật là đa dạng, và mỗi người có thể chọn cho mình một pháp môn thích hợp với căn cơ”. Lý thuyết này nghe rất hấp dẫn, nhưng trên thực tế thì không phù hợp.
- Dựa vào Kinh Trung Bộ, Kinh Trường Bộ và bài Kinh Pháp Cú (bản Kinh gối đầu giường của Phật giáo gốc), đức Phật chỉ có thuyết giảng một pháp môn “duy nhất” là Tứ Diệu Đế. Tinh hoa của Tứ Diệu Đế là Bát Chánh Đạo. Vì vậy, có thể định danh "pháp môn duy nhất của đức Phật" là Tứ Diệu Đế hoặc gọn lại là Bát Chánh Đạo. Đó là cốt lỗi hành trì mà người thực tập có thể đạt được các thành quả bao gồm việc giải quyết nỗi khổ niềm đau, và hướng đến các kết quả trở thành Thánh.
- Chúng ta không thể tìm thấy pháp môn thứ 2 ngoài Tứ Diệu Đế trong kinh điển Phật dạy huống chi 84.000. Chúng tôi khẳng định: “nếu thật sự có 84.000 pháp môn thì đức Phật là người chúng ta không nên theo, vì như thế đức Phật bị chứng minh là người thiếu lập trường, tự mâu thuẫn; mà người tự mâu thuẫn nói theo triết học Phật giáo là vẫn còn vô minh, đã không thể nào có khuynh hướng bằng trí tuệ để giải quyết được các vấn nạn của kiếp người. Nếu 84.000 pháp môn là có thật thì khi đức Phật chủ trương pháp môn thứ 1 Ngài sẽ bị chứng minh là tự mâu thuẫn với 83.999 pháp môn còn lại. Một người tự mâu thuẫn 1 lần đã có thể bị tự phủ định rồi, huống hồ mâu thuẫn đến 84.000 lần”.
Cho nên, khi TQ lập ra 10 tông phái, để cho 10 tông phái này được chấp nhận thì họ phải dựng lên khái niệm 84.000 pháp môn. 10 pháp môn âu cũng là 1 con số rất nhỏ trong con số khổng lồ đó. Và bằng phương pháp lập pháp môn này, đạo Phật gốc mất dần, mất dần.
- Khi đạo Phật có mặt ở các châu lục và các quốc gia, Phật giáo Nam Truyền (tại Ấn Độ ảnh hưởng đến Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia) gần 26 thế kỷ truyền đạo vẫn tiếp tục trung thành với đức Phật gốc và khẳng định rất rõ chỉ có Tứ Diệu Đế là pháp môn duy nhất! Nhiều thế kỷ qua, người TQ, Việt Nam, Nhật Bản, Nam – Bắc Triều Tiên và Tây Tạng tu tập theo lời dạy của các tổ sư mà lẽ ra người tu học Phật phải tu tập và thực hành theo lời kinh Phật dạy.
- Mượn lăng kính các tổ sư để tiếp cận Phật giáo chỉ là phiến diện. Do dó, ai tu tập theo các pháp môn gần như đánh mất cơ hội để tiếp cận đạo Phật một cách có hệ thống và toàn diện.
Khi một chủ trương nào đó được tái lập đi lập lại qua các phương tiện truyền thông, qua giáo dục, qua sự truyền tụng của các vị Tăng sĩ thì cái đó mặc nhiên nâng lên thành chân lý. Cho nên, cái bị xem là phiến diện trở thành toàn diện, cái chưa phải là lời Phật dạy được nâng lên như lời Phật dạy. Hậu quả của cách truyền đạo này đã làm cho đạo Phật mất dần chỗ đứng. Hậu quả nghiêm trọng khác là truyền bá đạo Phật theo pháp môn tức là lấy 1~3 bài Kinh làm nền tảng như hiện nay làm đại đa số Phật tử nếu không tự học thêm, không đến các trường Phật học để nghe giảng, không đến các giảng đường để học Phật pháp sẽ bị mù chữ Phật pháp tập thể. Giống như một người nào đó suốt một kiếp người chỉ đọc một quyển sách vài trang thì làm sao đủ kiến thức về thế giới, về cuộc sống, sức khỏe, tuổi thọ, về ăn uống và nhiều phương diện khác. Nghĩa là gần như đóng bít cửa ngõ tri thức của mình với thế giới còn lại. Đó là một sai lầm rất nghiêm trọng mà phần lớn các Phật tử VN bị vướng kẹt do việc ảnh hưởng theo đạo Phật TQ.
***Do đó, khi chia sẽ đề tài này chúng tôi không hề có dụng ý đả pháp bất kì một tông phái nào, mà chỉ nhấn mạnh đến tâm nguyện làm thế nào để Phật tử VN, TQ và các nước tự xưng mình là đại thừa cần phải có cơ hội quay trở về với đức Phật gốc, không bị lệ thuộc vào bất kì một lăng kính của một Phật giáo nào.
Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Thích Nhật Từ
Nguyên tắc thực tiễn và phương pháp “Giáo Dục Tỉnh Giác”
Đức Thế Tôn đã dạy trong kinh Đại Niệm Xứ như sau: “Này các thầy tỳ kheo! Vì thanh tịnh cho chúng sanh, vì độ thoát ưu não, vì diệt tận khổ đau, vì thể nhập chân đế, vì chứng đắc niết bàn, duy nhất có một con đường, đó chính là Tứ Niệm Xứ.”
1. Lời nói đầu
“Giáo dục tỉnh giác ” ngoài việc học hiểu giáo pháp trên mặt lý thuyết ra, điều quan trọng nhất là cần phải tự thân hành trì, nuôi dưỡng và làm lớn mạnh năng lực tỉnh giác, để nhìn thấy mọi sự vật như thật, không bị mê hoặc bởi hình tướng bên ngoài, dùng trí tuệ và từ bi để đối diện và giải quyết những vấn đề xãy ra trong cuộc sống.
Để hiểu rõ chi tiết hơn, bài viết này lấy giác tánh viên mãn mà Đức Phật đã giáo huấn để làm y cứ cho việc giáo dục tỉnh giác. Dựa trên điều này, tôi tạm nêu lên ba vấn đề chính: Thứ nhất, nguyên tắc thực hành; thứ hai, phương pháp thực hành; thứ ba, thảo luận chương trình học và sự thực hành sau khi học xong.
2. Nguyên tắc thực nghiệm
Trong kinh tạng Pali của Ấn Độ, Đức Phật dạy: “Chánh pháp hiện ở đời này, không chờ đợi ở đâu khác, hãy đến để mà thấy, giáo pháp ấy có khả năng hướng thượng và tự thân chứng đắc.” Điều này có nghĩa là, tất cả giáo lý và phương pháp giáo dục của Đức Phật có thể tu chứng trong đời này, tùy mọi lúc có thể tu tập, mọi người đều có thể nhìn thấy, tức là hướng vào nội tâm để nhận biết rõ thân tâm của chính mình, hướng đến diệt trừ khổ đau, tự thân chứng đạt giải thoát giác ngộ.
Ngoài những ý nghĩa nêu trên, nguyên tắc thực tiển về sự giáo dục tỉnh giác cũng cần phải mang tánh phổ biến, tánh khả thi, tánh an toàn, tánh hiệu quả và tánh tuần tự. Do đó, thực hành sự giác ngộ luôn phù hợp với tất cả mọi người, mọi độ tuổi, mọi chủng tánh, mọi trình độ, mọi tầng lớp, mọi quốc gia, cho đến bất luận mọi tôn giáo, mà không cần bất cứ lễ nghi hay hình thức nào cả. Trong mỗi chúng ta, ai cũng có thể thực tập, cũng đều đạt được kết quả giống nhau.
3. Phương pháp thực tập
Đức Thế Tôn đã dạy trong kinh Đại Niệm Xứ như sau: “Này các thầy tỳ kheo! Vì thanh tịnh cho chúng sanh, vì độ thoát ưu não, vì diệt tận khổ đau, vì thể nhập chân đế, vì chứng đắc niết bàn, duy nhất có một con đường, đó chính là Tứ Niệm Xứ.” Trong đoạn kinh này, Đức Phật đã đưa ra con đường duy nhất để diệt trừ khổ đau chính là tu tập Tứ Niệm Xứ, tức là tu tập về thân niệm trụ, thọ niệm trụ, tâm niệm trụ và pháp niệm trụ. Dưới đây sẽ luận bàn từng chi phần.
(1)Tỉnh giác trong từng động tác của thân thể
Chánh niệm biết rõ từng động tác của thân thể, y cứ vào kinh Đại Niệm Trụ, Đức Phật dạy rằng: “ Tỳ kheo khi đi, biết mình đang đi; khi đứng, biết mình đang đứng; khi ngồi, biết mình đang ngồi; khi nằm biết mình đang nằm. Thân thể này ở trạng thái nào, chúng ta chánh niệm biết rõ trạng thái đó.” Ý nghĩa của kinh văn dạy chúng ta thực tập phải biết rõ ràng từng động tác của thân thể, duy trì chánh niệm biết rõ những động tác của chính mình, thì sự tỉnh giác luôn có mặt.
Ngoài ra, Đức Phật còn dạy: “ Này tỳ kheo! Biết rõ chính xác khi ra vào; khi nhìn trước xem sau; khi co khi duỗi thân; khi khoát y, trì bát; khi ăn , uống, nhai , thưởng thức mùi vị; khi đại tiểu tiện; khi đi, đứng, nằm , ngồi,ngủ,thức, nói năng hay im lặng tất cả đều rõ biết chính xác.” Nghĩa là, mỗi hành giả luôn thực tập chánh niệm như khi nhìn trước, nhìn sau; khi khoát y, trì bát… luôn ý thức được hành động của mình bất luận là ngày hay đêm. Nếu chúng ta thực tập liên tục không gián đoạn, thì sẽ đạt được kết quả viên mãn về chánh niệm tỉnh giác.
(2)Tỉnh giác về hơi thở
Đức Phật dạy rằng: “Đoan nghiêm thân thể, an trụ chánh niệm ngay trước mặt, chánh niệm khi hơi thở vào, chánh niệm khi hơi thở ra.” Nghĩa là, chúng ta phải thực tập chánh niệm biết rõ khi hơi thở vào và ra, để tâm chúng ta không quay về với quá khứ, không tìm cầu tương lai, mà duy nhất an trụ chánh niệm nơi hơi thở ngay trong phút giây hiện tại.
(3)Tỉnh giác về cảm thọ
Đức Phật từng dạy: “ Tỳ-kheo khi thọ nhận cảm giác lạc, liền biết đang thọ nhận cảm giác lạc; khi thọ nhận cảm giác khổ, liền biết đang thọ nhận cảm giác khổ; khi thọ nhận cảm giác không lạc không khổ, liền biết đang thọ nhận cảm giác không lạc không khổ.” Hành giả luôn an trú chánh niệm biết rõ những cảm thọ đang xãy ra ở ngay trong giây phút hiện tại, mà không khởi bất cứ tâm sở khác như tham lam hay sân hận và các loại tâm lý khác.
(4)Tỉnh giác về tâm niệm
Bậc Đạo Sư từng dạy: “Tỳ-kheo có tâm tham dục, thì biết đúng như thật có tâm tham dục, khi lìa tâm tham dục thì biết đúng như thật lìa tâm tham dục; khi có tâm sân hận sinh khởi, thì biết đúng như thật có tâm sân hận, khi lìa khỏi tâm sân hận, biết đúng như thật lìa tâm sân hận; khi tâm si mê sinh khởi, biết đúng như thật có tâm si mê sinh khởi, khi lìa tâm si mê, biết đúng như thật lìa tâm si mê.” Đoạn kinh trên cho chúng ta thấy rằng, hành giả tu tập sự tỉnh giác luôn quán chiếu tâm niệm thiện hay bất thiện sinh khởi, cho đến sự đoạn trừ tâm bất thiện, phát triển tâm niệm thiện. Nói chung, hành giả luôn quán chiếu rõ sự tướng chân thật của tâm, có như vậy mới đưa hành giả đi đến đoạn trừ phiền não, chứng đắc Niết Bàn.
Ở trên đã giới thiệu về bốn phương pháp thực tập tỉnh giác khác nhau, tỉnh giác về thân, tỉnh giác về hơi thở, tỉnh giác về cảm thọ, tỉnh giác về tâm. Mỗi phương pháp đều có tính ưu việt riêng, nhưng trong đó phương pháp thực tập về thân là thích hợp với hành giả mới thực tập giai đoạn ban đầu, bởi vì quán chiếu về hơi thở rất là vi tế, và khi tập trung theo dõi từng hơi thở ra vào, hành giả sẽ không còn chú ý đến tạp niệm xung quanh. Còn khi quán chiếu về cảm thọ và tâm, dể khiến cho người mới thực tập không tập trung được tỉnh giác mà dể khởi tạp niệm. Do đó tôi sẽ tập trung để thảo luận về thực tập tỉnh giác về thân thể.
4. Luận bàn thêm về tỉnh giác trong từng động tác của thân thể
Con người là một loại động vật, nên suốt ngày vận động, do đó chúng ta hãy lợi dụng những vận động này để luyện tập tỉnh giác là một phương pháp rất thiện xảo. Nhưng trong cuộc sống phần đông mọi người suy nghĩ tạp niệm lung tung, không tỉnh giác trong giây phút hiện tại với mọi hành động.Vì muốn thay đổi đời sống phải thực tập tỉnh giác, phương pháp thực tập dựa vào lời dạy của Đức Phật là luôn chánh niệm trong mọi hành động, nếu có năng lực tỉnh giác trong từng hành vi cử chỉ của chính mình, thì sự tỉnh giác đó sẽ luôn tăng trưởng. Năng lực tỉnh giác chính là biết rõ ý niệm của mình, đồng thời biết rõ thật tướng thân tâm của chính mình.
Nếu như chúng ta đi tìm nguyên nhân của khổ đau, thì có thể phát hiện là do tạp niệm, vọng niệm sinh khởi. Có hai loại ý niệm: Thứ nhất không làm chủ được ý niệm, được gọi là tạp niệm hay vọng niệm. Giống như: sân hận, tham lam, vô tri, sợ sệt, tật đố … những loại ý niệm như vậy, làm cho chúng ta thọ khổ. Thứ hai có thể làm chủ được ý niệm, với loại ý niệm này được gọi là “ý niệm tự nhiên” tức là tỉnh giác biết rõ về những ý niệm sinh khởi ngay trong phút giây hiện tại, loại ý niệm này không làm cho chúng ta thọ khổ. Ví như hằng ngày khi chúng ta quét nhà, giặt quần áo hay bất cứ hành động nào cũng có sự tỉnh giác, đây là tự nhiên ý niệm, với loại ý niệm này chỉ đem đến lợi ích mà không phương hại bất cứ điều gì. Trong đời sống chúng ta cần nuôi dưỡng loại ý niệm này.
Chúng ta thường bị loại ý niệm thứ nhất bao vây, làm cho tâm tham, tâm sân, tâm si luôn sinh khởi, dẫn đến thọ khổ. Một thực tế chứng minh cho chúng ta thấy rằng càng suy nghĩ thì càng tức giận, bởi vì do vọng niệm sinh khởi nên bất cứ lúc nào, làm gì cũng đều thọ nhận kết quả của khổ đau.
Chỉ khi nào năng lực tỉnh giác của chúng ta lớn mạnh, thì mới có thể nhận biết rõ ý niệm, có như vậy mới không bị tạp niệm, vọng niệm lôi kéo. Tỉnh giác cũng như con mèo nhỏ, vọng niệm giống như con chuột lớn. Hành giả nào chưa luyện tập tỉnh giác, ban đầu tỉnh giác rất yếu, phải luôn luôn thực tập tỉnh giác thì mới có thể tăng trưởng, khi tỉnh giác thuần thục rồi thì vọng niệm sẽ được chế ngự, giống như con mèo nhỏ, lần lần rồi sẽ lớn mạnh, khi con mèo lớn mạnh thì có thể bắt được con chuột lớn. Do đó, quan trọng của việc thực tập là phải luyện tập liên tục không được gián đoạn, giống như con mèo luôn phải biết tự biết mình, không cần để ý đến con chuột, khi con mèo lớn rồi tự nhiên nó sẽ biết cách xử lý con chuột. Chính vì thế, khi thực tập, chúng ta không nên ép chế vọng niệm, cũng không chạy theo vọng niệm, mà chỉ cần tập trung vào quán chiếu tỉnh giác trên mỗi hành động. Sau khi chúng ta có năng lực tỉnh giác lớn mạnh rồi, mọi ý niệm sanh khởi lập tức có thể biết được, cho đến đoạn trừ tâm tham, tâm sân và chuyển hóa tâm niệm bất thiện thành tâm niệm thiện.
Quan trọng của thực tập tỉnh giác, là không ngừng cử động thân thể, bởi vì nếu thân thể yên tịnh không động, thì vọng niệm sẽ dể sinh khởi, trong trạng thái như vậy, sẽ suy nghĩ lung tung mất chánh niệm. Ngoài ra, dễ bị hôn trầm, buồn ngủ. Do đó, phải luôn cử động một bộ phận của thân thể, nương vào đó mà thực tập tỉnh giác.
Trong lúc luyện tập, thân tâm phải nhẹ nhàng, mọi tư thế ngồi đều có thể tốt, chỉ cần cảm thấy thoải mái là được. Lưng phải thẳng, con mắt mở tự nhiên, nhìn về phía trước, nhưng không được nhìn quá xa hoặc quá gần, cũng không được cố gắng tập trung vào một nơi nào đó, tay và chân di chuyển cần nhẹ nhàng, không cần niệm ra tiếng, không cần niệm thầm, cũng không cần phải đếm số hơi thở, chỉ cần để tất cả tự nhiên. Khi vọng niệm đến, không cần để ý , chỉ cần giác biết sự di chuyển của bộ phận cơ thể, khiến cho sự tỉnh giác càng lâu càng tốt.
Khi ngồi lâu, chân sẽ có cảm giác đau đớn, mình có thể thay đổi thế ngồi, nhưng phải giác biết mình đang đổi tư thế ngồi. Khi ngồi lâu đau chân như vậy, không được đối kháng bởi đây là hiện tượng rất tự nhiên, cũng không nên cố gắng chịu đựng, hoặc giả cố ngồi cho thật lâu, nếu làm như vậy sẽ trái với hiện tượng tự nhiên. Bởi vì thân thể của chúng ta là vô thường, vô ngã, do đó không nên khống chế như vậy. Quang trọng là khi thay đổi thế ngồi mình rỏ biết như thật là mình đang thay đổi tư thế, phải luôn luyện tập như vậy.
Cũng vậy, quán chiếu về hơi thở cũng phải thuận theo tự nhiên, không cần cố ý để điều phục hơi thở, không cần cố ý quan sát rỏ. Khi đi cũng vậy, không cần cố đi thật nhanh, cũng không cần cố đi thật chậm, mà chỉ cần đi một cách nhẹ nhàng, chỉ cần thuận theo một cách tự nhiên nhẹ nhàng để thực tập tỉnh giác, không cần cố ý truy cầu, khi vọng niệm đến thì tiếp nhận,và tiếp tục quán chiếu biết rỏ về động tác của thân thể.Nếu chúng ta thực tập như vậy, từ lúc nào không hay, chúng ta sẽ nhận ra được thân và tâm của chúng ta một cách rất dễ dàng,Chỉ cần chúng ta gieo hạt giống đúng, thì sẽ có kết quả như ý. Do đó, cần phải dùng thân tâm nhẹ nhàng tỉnh giác từng động tác của cơ thể mình, nếu trồng hạt giống như vậy, thì sẽ có được phương pháp diệt trừ được khổ đau. Khi thực tập tỉnh giác thuần thục , bất cứ lúc nào tâm thức của mình cũng chuyển biến,chuyển biến từ nặng thành nhẹ, từ tối tăm ra ánh sáng,từ bi và trí huệ tự nhiên hiển lộ.
5. Thời khóa
Muốn có một thân thể khỏe mạnh, thì phải luyện tập mỗi ngày, thực tập chánh niệm tỉnh giác cũng vậy, cần phải có thời gian luyện tập như một ngày, ba ngày hay bảy ngày, cho đến mười ngày, thậm chí suốt cả đời.
Thời gian một ngày: Buổi sáng dành hai giờ giới thiệu về nguyên lí và phương pháp, hai giờ thực tập chánh niệm. Buổi chiều, thực tập chánh niệm hai tiếng, một tiếng trả lời những câu hỏi liên quan đến vấn đề thực tập.
Thời gian ba ngày: trước hết sắp xếp cho nghĩ cho thiền sinh. Ngày thứ hai từ năm giờ sáng cho đến chín giờ tối chia thời khóa thực tập. Trong thời gian buổi chiều hay buổi tối phải có một tiếng để giải đáp thắc mắc của thiền sinh. Ngày thứ ba cũng chia thời khóa luyện tập, nhưng trước khi kết thúc ba ngày tu tập , phải có thời gian một tiếng để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm tu tập.
Thời gian bảy ngày và mười ngày : Sắp xếp chỗ nghĩ cho thiền sinh,trừ hai ngày đầu ổn định sinh hoạt, tất cả những ngày còn lại thực tập tỉnh giác. Đồng thời, trong khóa thiền,mỗi thiền sinh phải luôn trình bày qúa trình thực tập của mình với vị thầy hướng dẫn. Sau khi kết thúc khóa thiền cần phải có thời gian hai tiếng để chia sẻ kinh nghiệm.
Thực tập sau khóa: Do vì tập khí lâu ngày khó thay đổi, nên sau khóa thực tập kết thúc, phải cố gắng thực tập liên tục không để gián đoạn,nếu làm được như vậy, sẽ duy trì được năng lực của tỉnh giác. Để giúp phát triển năng lực của tỉnh giác chúng ta phải cố định thời khóa mỗi ngày một tiếng hoặc nhiều hơn, tùy theo thời gian của mỗi chúng ta.
6. Kết luận
Chúng ta ai cũng muốn sống hạnh phúc, tìm cầu hạnh phúc, nhưng ít ai biết rằng hạnh phúc ở ngay nơi chính mình mà không phải tìm cầu ở đâu khác. Chính vì không hiểu điều này, nên nhiều người khi gặp chuyện trong cuộc sống thì thường tìm kiếm sự giúp đỡ bên ngoài, cầu xin thần thánh, nhưng thần thánh vẫn còn bị chi phối bởi phiền muộn khổ đau, vì vậy không thể là nơi nương tựa được và thường không giải quyết được những vấn đề khổ đau của tâm mà mình đang chịu đựng. Đức Phật có dạy rằng: “Hãy an trú nơi hòn đảo chính mình, an trú nơi nương tựa chính mình.” Đoạn kinh đã gởi cho chúng ta thông điệp hãy nương vào chính mình, hãy lấy tự thân làm nơi nương tựa. Do đó, Đức Phật muốn chúng ta thông qua tự thân nỗ lực tu tập, tự mình nương tựa với chính mình, tức là y vào sự tỉnh giác, thực tập tỉnh giác để xem xét căn nguyên của mọi vấn đề, từ đó triệt tiêu phiền não khổ đau.
Mỗi chúng sanh đều có giác tánh thanh tịnh, cũng tức là nói mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, mỗi người trong chúng ta ai cũng có kho báu, nhưng tự thân mình phải khai quật, nếu chúng ta khai quật được kho báu thanh tịnh, thì sẽ đoạn trừ được khổ đau. Chúng ta đi theo bước chân của Đức Phật, hãy cùng đi trên con đường của Phật, con đường đó chính là con đường của tỉnh giác. Bất cứ việc gì chúng ta làm mà không có tỉnh giác thì sẽ tạo ra khổ đau, trái lại nếu chúng ta có tỉnh giác trong việc làm sẽ không làm đau khổ cho mình và người khác. Do đó, để giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống, đoạn trừ phiền não khổ đau trong cuộc đời, chúng ta phải nỗ lực rèn luyện tỉnh giác, từ sáng cho đến tối luôn quán chiếu về những động tác của chúng ta. Trong đời sống mỗi ngày chúng ta luôn vận động, hãy lợi dụng sự động này mà rèn luyện tỉnh giác, luôn thực tập như vậy, thì trước sau cũng có được kết quả viên mãn.
Nuôi dưỡng giác tính chính là trọng tâm của “giáo dục tỉnh giác”, chỉ có năng lực của tỉnh giác mới có thể đoạn trừ vọng niệm. Cho nên xã hội ngày nay từ các em nhỏ, thanh thiếu niên, người trưởng thành cho đến các vị lớn tuổi đều cần phải thực tập tỉnh giác, bởi vì tất cả mọi người đều đối diện với khổ đau và phiền não.
Tác giả : Giáo sư Lâm Sùng An
Dịch giả: Thích Chúc Đại
03/12/2014
https://www.youtube.com/watch?v=Q7kavuuUx_A&list=PLIzinjdm41mSE0QmS27M94wDoQBNmuEG5
Phật Học Phổ Thông - Phần 1 - Trung Tâm Diệu Pháp Âm - DieuPhapAm.Net Phật Học Phổ Thông - Phần 1 - Trung Tâm Diệu Pháp Âm - DieuPhapAm.Net
18/11/2014
https://www.youtube.com/watch?v=ZgdjRJVPsmQ
Bát Nhã Tâm Kinh (21 biến)-Thích Trí Thoát tụng Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. Quán-Tự-Tại Bồ-Tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá-Lợi-Tử,...
Kinh Nhân Quả Ba Đời
Một hôm, Tôn giả A Nan Đà, ở trên hội Linh Sơn cùng với một ngàn hai trăm năm mươi đại Tỳ Kheo câu hội.
Khi ấy A Nan Đà Tôn giả, chắp tay đảnh lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng, rồi quỳ xuống thưa thỉnh đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn rằng:
- Bạch Thế Tôn! Đến thời mạt pháp, tất cả chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Đề, nhiều kẻ sinh niệm chẳng lành, không kính Tam Bảo, không trọng cha mẹ, không có tam cang. Năm giềng rối loạn, nghèo khó, thấp hèn, sáu căn chẳng đủ, trọn ngày sát sinh hại mạng cho đến nghèo giàu sang hèn không đồng nhau. Do nhân duyên qủa báo gì khiến nên như thế?
Cúi xin đức Thế Tôn từ bi, vì chúng con giải thích mọi sự việc.
Phật bảo A Nan cùng các đại đệ tử: ! Lành thay ! Lành thay ! Các ông hãy lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà giải thích rành rẽ".
Tất cả nam nữ ở thế gian giàu sang hay nghèo hèn, chịu khổ vô cùng hoặc hưởng phước vô lượng đều do nhân duyên từ đời trước mà cảm qủa báo.
Cho nên tất cả chúng sinh, trước phải hiếu kính cha mẹ, kế đó phải tin trọng ngôi Tam Bảo, thứ ba nên bỏ giới sát mà phóng sinh, và thứ tư cần ăn chay bố thí mới có thể gieo giống ruộng phước về sau.
Phật liền nói bài kệ nhân qủa rằng:
Giàu sang đều bởi mạng
Đời trước có tu nhân
Ai thọ trì kinh nầy,
Đời đời hưởng phước lộc.
Thiện nam, tín nữ nghe ta nói:
Suy nhớ kinh Nhân Qủa ba đời
Nhân qủa ba đời việc chẳng nhỏ,
Phật nói lời Phật chớ chê khinh.
1. Đời nay làm quan do nhân gì?
Kiếp trước vàng ròng thếp tượng Phật
Đời nay hưởng phước bởi nhân xưa
Đai vàng, áo tía, cầu nơi Phật.
Vàng trang nghiêm Phật, trang nghiêm mình.
Làm đẹp Như Lai, đẹp từ thân.
Đừng bảo làm quan là chuyện dễ,
Không tu phước ấy đến từ đâu?
2. Cưỡi ngựa, ngồi kiệu do nhân gì?
Kiếp trước làm cầu, bồi đắp lộ.
3. Do nhân duyên gì mặc gấm vóc?
Đời trước thí áo giúp Tăng Ni.
4. Có ăn, có mặc do nhân gì?
Xưa giúp kẻ nghèo cho ăn uống.
5. Ăn mặc thiếu thốn bởi nhân chi?
Kiếp trước một nửa không xả thí.
6. Lầu cao nhà lớn do nhân gì?
Xưa lên chùa am cúng thí gạo.
7. Phước lộc đầy đủ cho nhân gì?
Xưa lập chùa am cất nhà mát (1)
8. Tướng mạo xinh đẹp do nhân gì?
Đời trước hoa tươi cúng dường Phật.
9. Thông minh trí tuệ do nhân gì?
Kiếp trước ăn chay, thường niệm Phật.
10. Người thấy vui mừng do nhân gì?
Xưa kết duyên lành cùng đại chúng.
11. Chồng vợ bền lâu do nhân gì?
Đời trước tràng phan nghiêm cúng Phật.
12. Cha mẹ song toàn do nhân gì?
Đời trước kính trọng người cô độc.
13. Không cha mất mẹ do nhân gì?
Kiếp trước là người đánh bẫy chim.
14. Con cháu đông nhiều do nhân gì?
Đời trước mở lồng thả chim thú.
15. Nuôi con không được do nhân gì?
Xưa sinh con gái dìm cho chết? (2)
16. Đời nay không con do nhân gì?
Kiếp trước bẻ gãy hại trăm hoa.
17. Đời nay sống lâu do nhân gì?
Kiếp trước mua vật phóng sinh nhiều.
18. Đời nay mạng yểu do nhân gì?
Kiếp trước xẻ thịt giết chúng sinh.
19. Đời nay không vợ do nhân gì?
Kiếp trước tham mưu gian vợ người.
20. Đời nay ở góa do nhân gì?
Kiếp trước buông lung khinh rẻ chồng.
21. Làm thân tôi đòi do nhân gì?
Kiếp trước quên ơn cùng phụ nghĩa.
22. Đời nay mắt sáng do nhân gì?
Kiếp trước cúng dầu đốt đèn Phật.
23. Đời nay đui mù do nhân gì?
Kiếp trước chỉ đường chẳng phân minh.
24. Môi miệng sứt thiếu do nhân gì?
Kiếp trước thổi tắt đèn cúng Phật.
25. Đời nay câm điếc do nhân gì?
Xưa từng ác khẩu mắng cha mẹ.
26. Đời nay lưng gù cho nhân gì?
Kiếp trước chê cười người lễ Phật.
27. Tay bị cong quẹo do nhân gì?
Đời trước đều là người tạo nghiệp.
28. Chân bị co rút do nhân gì?
Kiếp trước ngăn đường đánh cướp người.
29. Làm thân trâu ngựa do nhân gì?
Xưa thiếu nợ người không chịu trả.
30. Đọa làm heo chó do nhân gì?
Kiếp trước lừa gạt phỉnh hại người.
31. Đời nay nhiều bệnh do nhân gì?
Xưa đem rượu thịt bày cúng Phật.
32. Đời nay không bệnh do nhân gì?
Xưa thí thuốc men cứu bệnh nhân.
33. Hằng bị lao tù do nhân gì?
Kiếp trước làm ác chẳng nhượng người.
34. Đời nay chết đói do nhân gì?
Kiếp trước thường lấp hang rắn chuột
35. Bị thuốc độc chết do nhân gì?
Kiếp trước đăng lưới giết hại cá.
36. Nổi trôi cơ khổ do nhân gì?
Ác tâm lấn hiếp mưu hại người.
37. Đời nay lùn bé do nhân gì?
Kiếp trước xem kinh để dưới đất. (3)
38. Nay thường thổ huyết do nhân gì?
Xưa ăn thịt rồi đi tụng kinh. (4)
39. Đời nay ngu điếc do nhân gì?
Kiếp trước tụng kinh chẳng lắng nghe.
40. Ghẻ lác phong điên do nhân gì?
Xông hơi thịt cá trước bàn Phật.
41. Thân có mùi hôi do nhân gì?
Xưa bán hương thơm trọn dối gian.
42. Đời nay chết treo do nhân gì?
Kiếp trước đem dây săn bẫy thú.
43. Quan, qủa, cô độc do nhân gì?
Xưa thường ganh ghét hiềm mắng người.
44. Sét đánh lửa thiêu do nhân gì?
Cân non, già, thiếu lòng gian xảo.
45. Rắn cắn cọp ăn do nhân gì?
Kiếp trước gây oan tạo đối đầu.
Muôn việc mình làm lại mình chịu
Thọ khổ địa ngục oán trách ai?
Đừng nói nhân qủa người không thấy.
Xa trả con cháu, gần trả mình.
46. Chỉ nhìn trước mắt người hưởng phước.
Sẽ tin bố thí với trì trai.
Kiếp trước tu nhân nay hưởng qủa.
Đời nầy tu tích để về sau.
Nếu ai hủy báng kinh Nhân Qủa
Kiếp sau đọa lạc mất thân người.
Kẻ nào thọ trì kinh Nhân Qủa.
Chư Phật, Bồ Tát đều chứng minh.
Kẻ nào biên chép kinh Nhân Qủa,
Truyền đời tu học đạo nhà hưng.
Ai mà mang đội kinh Nhân Qủa,
Tai hung hoạnh họa chẳng vào thân.
Nếu người giản nói kinh nhân qủa
Đời đời kiếp kiếp được thông minh
Kẻ nào đề xướng kinh Nhân Qủa
Đời sau người thấy sinh cung kính.
Người nào ấn tống kinh Nhân Qủa.
Kiếp sau sẽ được thân Đế Vương.
Theo Kinh Nhân Qủa hỏi đời trước.
Chính sự thọ hưởng của đời nay.
Theo Kinh Nhân Qủa hỏi đời sau.
Chính sự gây nhân của kiếp này,
Nếu như nhân qủa không cảm ứng,
Do đâu Mục Liên cứu được mẹ?
Người nào tin sâu kinh Nhân Qủa.
Đồng sinh Tây phương cõi Cực Lạc.
Nhân qủa ba đời nói không hết.
Thiên long chẳng bỏ ý người lành.
Nên ngôi Tam Bảo ruộng phước lớn,
Nhân tu tuy một, hưởng muôn ngàn.
Gởi kho bền chắc không hư mất, (5)
Nhiều đời thọ dụng phước vô cùng.
Muốn biết nhân đời trước,
Xem sự hưởng đời nay,
Muốn biết qủa đời sau,
Xem việc làm kiếp này.
Phật Giáo, Y Học và Sức Khỏe
Nguyên tác: Hòa Thượng Hsing Yun - Dịch Việt: Tâm Quang Nguyễn Cảnh Lâm
Theo Đạo Phật, Giáo Pháp tinh khiết và kỳ diệu là loại y dược toàn hảo nhất cho một tâm trí suy nhược, cũng như một cơ thể đau yếu.
I. Mở Đầu
Từ buổi sơ khai ở cõi trần gian, sinh, lão, bệnh, và tử đã không thể nào tránh khỏi. Thái tử Tất Đạt Đa (Siddhartha) biết được chân lý này khi Ngài mạo hiểm vượt ra khỏi cung điện và đến viếng thăm một khu vực nghèo nàn trong thị trấn. Ở nơi đây, giữa những kẻ ăn xin, người bệnh tật, và lớp tuổi già yếu, Ngài đã trực tiếp thấy được những thực tế của cuộc đời. Ngay lập tức, một niệm mong muốn khởi sinh trong tâm để giúp đỡ họ giảm bớt nỗi đau đớn và niềm khốn khổ. Vì thế, Ngài đã từ bỏ cuộc sống nhung lụa và trở thành một vị đạo sư, với hy vọng rằng bằng chính thiền định và tu dưỡng, Ngài có thể tìm ra giải pháp cho những kẻ nghèo nàn và đau yếu.
Ngay từ lúc ban đầu, Đức Phật nhận định ra rằng cũng giống như một người bị dằn vặt bởi thân bệnh, họ cũng có thể bị khổ đau do tâm bệnh. Nhằm trị liệu cho cả hai căn bệnh thân và tâm, Đức Phật đã dành trọn cả cuộc đời mình để truyền đạt các kiến thức trong Tam Tạng Kinh[1]. Trong khi Đức Phật tìm cách chữa trị cả đôi phần thể chất và tâm thần, điều hệ trọng được đặt cao vào phần tâm lý. Ngài sử dụng Giáo Pháp để chữa lành những căn bệnh phát sinh từ tam độc: tham lam, sân hận, và si mê. Y dược của Đức Phật trị những căn bệnh bắt đầu từ tâm thức, và rồi chữa lành tam độc cho họ. Các nhà tâm lý học cũng chữa bệnh bằng cách điều trị tâm trạng của bệnh nhân, nhưng phương pháp này lại hoàn toàn khác biệt với cách thức thực hành của Phật giáo về việc trị liệu tâm thần.
Theo Đạo Phật, Giáo Pháp tinh khiết và kỳ diệu là loại y dược toàn hảo nhất cho một tâm trí suy nhược, cũng như một cơ thể đau yếu.
Để giữ gìn cả hai phần tâm và thân cho khỏe mạnh là việc rất quan trọng, vì thân thể là công cụ mà chúng ta dùng để thực hành Giáo Pháp. Cũng giống như tất cả mọi điều, tâm và thân phụ thuộc lẫn nhau; sức khỏe của tâm ảnh hưởng đến sức khỏe của thân, và ngược lại - sức khỏe của thân tác dụng đến sức khỏe của tâm. Với một thân thể khỏe mạnh như một công cụ, chúng ta có thể tu dưỡng một tâm thức từ bi và một tinh thần trong sáng. Với một tâm thần du dưỡng, chúng ta có thể tự kiểm soát chính mình, thấy rõ bản chất của các vấn đề, và rồi hành động để giải quyết chúng. Lúc đó chúng ta sẽ tiếp cận tới con đường dẫn đến một sức khỏe trung thực.
II. Phật Giáo Và Khoa Học Y Tế
Trong các kinh điển, chúng ta có thể tìm thấy sự so sánh mô tả Đức Phật là vị bác sĩ, kiến thức về Giáo Pháp là thuốc giải, những tu sĩ là ban y tá, và tất cả mọi người là bệnh nhân. Theo lối so sánh y học này, Phật giáo được coi là một loại y dược với một ý nghĩa bao trùm - một loại thuốc có thể chữa trị các thứ bệnh tật ở tất cả mọi khía cạnh cuộc sống. Thông thường, nhưng với trường hợp ngoại lệ, y học Tây phương điều trị trong phạm vi nhỏ hẹp hơn. Tây y thường thường được dùng cho bệnh tật do các triệu chứng về thể chất. Phương pháp này có khuynh hướng tạm thời làm giảm sự đau đớn và loại bỏ các triệu chứng trong khoảng một thời gian, nhưng khi các triệu chứng đó chẳng hiện hữu, không có nghĩa là những nguyên nhân gốc rễ đã được xác định và triệt tiêu. Vì vậy, sự tiêu trừ hoàn toàn căn bệnh đã không được thể hiện. Phật giáo mang lại cho bệnh nhân không chỉ là sự giảm thiểu về triệu chứng, mà còn hướng dẫn tinh thần để bảo đảm một sức khỏe tổng quát và lâu dài.
Trong khi các nhà nghiên cứu Tây y tiến hành những cuộc thí nghiệm vĩ đại về bệnh học, dược học, miễn dịch học, và cơ thể học, để họ phát triển các kỹ thuật y tế tinh vi hơn, các nhà khoa học vẫn nghi ngờ rằng tôn giáo không thể nào giải thích nổi nguyên nhân của bệnh tật. Nếu không có sự xác định vai trò của tôn giáo về bệnh tật, những khoa học gia vẫn giữ khoảng cách khá xa đối với định nghĩa của bệnh tật, nguyên nhân, và phương pháp điều trị như sự quán thông từ góc độ tôn giáo. Theo Phật giáo, không đủ để lý giải y học một cách đơn giản như chỉ tiêu trừ các triệu chứng; khía cạnh tinh thần về bệnh tật và nguyên nhân gốc rễ với biện pháp khắc phục tâm thức bắt buộc phải là sự nhận định chủ yếu.
Chỉ gần đây khoa học và tôn giáo mới bắt đầu giao tiếp và hòa hợp ở mức độ khai mở để thu hẹp khoảng cách giữa giải đáp khoa học đối với bệnh tật và phương pháp bắt nguồn sâu xa từ tôn giáo. Ví dụ như, chính phủ Hoa Kỳ phối hợp các hội nghị quốc tế về "Mối Liên Hệ Giữa Tôn Giáo Và Y Tế." Ngoài ra, Trường Đại Học Y Khoa Harvard có mở một lớp học mang tên "Thực Chất Của Y Học." Tôn giáo dần dần ảnh hưởng đến y khoa về sinh vật học, tâm lý học, và xã hội học với thế giới Tây phương. Phật giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thống nhất tâm linh học và y học ở Tây phương.
Ở Đông phương, tôn giáo đã ảnh hưởng đến lĩnh vực sức khỏe và y học từ xa xưa. Những người thực nghiệm y học Đông phương không bao giờ nghi ngờ vai trò của tôn giáo đối với bệnh tật; hai phần này đã được phối hợp cả hàng ngàn năm. Qua hàng ngàn tài liệu trong Tam Tạng Kinh, có một số lượng đáng kể chứa đựng văn thư về y học Phật giáo. Khi giáo điều thuyết giảng và kinh điển đưa đến Trung Hoa, những khía cạnh nổi bật nhất của Phật giáo Ấn Độ được pha trộn với mọi mặt đáng giá của y học Trung Quốc. Qua bao sửa đổi và cải tiến được đóng góp bởi nhiều bậc Đại Sư trong quá khứ và hiện tại, hệ thống y học Phật giáo Trung Quốc đã phát triển để thành hình như ngày hôm nay. Trong những trang tiếp theo sau, tôi sẽ khuếch trương sâu xa hơn về sự hiểu biết của Phật giáo về bệnh tật, và phương pháp Phật giáo đối với y học và điều trị.
III. Đức Phật Như Một Đại Y Sĩ
Khi Đức Phật còn trẻ, Ngài học tập môn khoa học y tế[2]. Ngài vì thế rất am tường về bản chất và cách trị liệu bệnh tật. Theo kinh điển, một vị lương y nổi tiếng tên là Kỳ Bà (Jivaka) liên tục thăng tiến trong việc thực hành nghành y học, và tinh thông thêm các kỹ năng bằng cách học hỏi và đi theo sự hướng dẫn của Đức Phật. Kỳ Bà thực hiện một số phẫu thuật phi thường, gây một thanh danh đáng kính trọng trong lĩnh vực y khoa. Một trong những cuộc mỗ xẻ nổi tiếng liên quan đến việc chữa bệnh ruột kết. Kỳ Bà thực hiện cuộc phẫu thuật này, sử dụng liên tục các kỹ thuật tương tự như lối thực hành hiện đại: gây mê, mổ vùng bụng, chữa trị ruột kết, và cuối cùng khép vết mổ lại bằng chỉ may. Mặc dù đã là một lương y được huấn luyện, Kỳ Bà trở nên thông thạo hơn trong nhiệm vụ làm tinh xảo y học dưới sự hướng dẫn tinh thần và y học của Đức Phật.
Ngoài những ghi chép về Đức Phật và Kỳ Bà, nhiều kinh điển như Kinh Phật Chuân Đoán, Kinh Đại Y Vương Phật, Kinh Liệu Trĩ Bệnh, Kinh Tâm Bệnh Phiến Loạn Bởi Phi Thiền Định, Kinh Trị Bệnh Nha, Kinh Đà La Ni Chữa Bá Bệnh, Kinh Đà La Ni Chữa Bệnh Từng Mùa, Kinh Kim Quang Minh, Luật Ngũ Mục, Luật Tứ Mục, Luật Thập Tụng, và Đại Tập, chứa đựng nhiều tài liệu tham khảo khác với kiến thức của Đức Phật về y học. Đức Phật thực sự xứng đáng được xem là đấng thế tôn lỗi lạc của y học Phật giáo. Ngài có khả năng chữa trị không những chỉ là thân bệnh mà còn là tâm bệnh, đó là nét đặc thù. Ngày hôm nay, khi bệnh nhân tìm sự chăm sóc của một y sĩ cho căn bệnh thể chất, vị y sĩ thường chỉ chú ý đến các triệu chứng đau đớn trong cơ thể, bỏ qua những nguyên nhân và những khổ đau trong tâm thức. Khi không điều tra và phát hiện ra nguồn gốc thực sự của căn bệnh, họ chỉ thành công một phần trong sự điều trị tối hậu. Họ thực hiện rất ít ỏi trong việc chữa lành nỗi khốn khổ của bệnh nhân, vì không nhận định ra và hiểu biết được nguyên nhân chính của chu kỳ đời sống con người qua sinh, lão, bệnh, và tử. Họ không nghĩ rằng những gì nghiệp và tâm tạo tác có liên hệ tới nguồn gốc của bệnh tình.
Sự thấu đáo của Đức Phật về những gì gây ra vòng luân hồi vô tận và các giai đoạn của quá trình lão hóa, bệnh tật, và tử vong, đã cho quyền Ngài hướng dẫn mọi người để sống với sức khỏe tối thượng về thể chất lẫn tinh thần. Đức Phật triệt tiêu căn bệnh bằng cách trực tiến vào tâm điểm của nguyên nhân và rút tỉa từ kiến thức của Ngài để làm biện pháp khắc phục đích đáng. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật giải thích rằng sự mất quân bằng của sinh lực[3], sự dư thừa của đờm, và sự tăng hoặc giảm nhiệt độ của cơ thể có thể được điều trị bằng bơ, mật ong, và thực phẩm chứa dầu, theo thứ tự.
Liên quan đến sức khỏe tâm thần, tham lam, sân hận, và si mê, được hiểu như là ba căn bệnh tâm lý trầm trọng. Đức Phật dạy rằng tham lam có thể chữa trị được bằng cách quán xét lấy cấu uế, sân hận bằng cách quán xét và thực hành nhân ái, và si mê bằng cách quán xét chân tánh của vạn vật và tu dưỡng lấy trí tuệ. Đây là những y dược mà Đức Phật khuyến khích tất cả mọi người sử dụng để chữa lành căn bệnh của cả thân và tâm.
Trong Kinh Phật Chuẩn Đoán, Đức Phật giải thích rằng vị lương y nên tiến hành bằng bốn biện pháp khi giúp đỡ một bệnh nhân. Vị lương y phải: 1) phát hiện ra nguồn gốc của căn bệnh, 2) đạt được sự hiểu biết thấu đáo về căn bệnh, 3) quy định loại thuốc thích hợp để chữa trị căn bệnh, và 4) hoàn toàn chữa khỏi căn bệnh không cho tái phát. Ngoài bốn tiêu chuẩn thông thạo này, một vị lương y giỏi luôn luôn thực hành với một tâm hồn rộng lượng khi điều trị bệnh nhân, coi họ như những người bạn thân yêu nhất của mình.
Đức Phật cũng xác định năm thực hành quan trọng đối với người chăm sóc - y tá, người trong gia đình, bạn bè, và mọi người khác - phải lưu ý khi chăm sóc cho bệnh nhân. Ngài khuyến khích người chăm sóc phải: 1) bảo đảm rằng bệnh nhân được trông nom bởi lương y tốt và giỏi, 2) thức dậy sớm và đi ngủ muộn hơn bệnh nhân và luôn luôn cảnh giác với nhu cầu của bệnh nhân, 3) nói chuyện với bệnh nhân bằng giọng nói êm ái và từ bi khi họ cảm thấy chán nản hoặc khó chịu, 4) nuôi dưỡng bệnh nhân bằng thực phẩm thích hợp với số lượng và khoảng thời gian chính xác, tùy theo bản chất của căn bệnh và theo sự hướng dẫn của lương y, và 5) nói chuyện trong sự khéo léo và nhẹ nhàng về Phật Pháp với bệnh nhân; hướng dẫn họ chăm sóc sức khỏe cho thích hợp với thân và tâm.
Sau hết, Đức Phật đưa ra lời khuyên nhủ cho bệnh nhân để giúp họ chữa trị nhanh chóng và triệt để. Ngài dặn các bệnh nhân rằng: 1) phải thận trọng và chọn lọc các thực phẩm, 2) tiêu thụ thực phẩm vào những khoảng thời gian thích nghi, 3) giữ liên lạc với các lương y và y tá, luôn luôn hành động thân thiện và ân cần đối với họ, 4) giữ lấy niềm triển vọng lạc quan hoặc hứa hẹn, và 5) tử tế và quan tâm đến những người đang chăm sóc cho mình. Đức Phật tin tưởng rằng nỗ lực hòa hợp giữa lương y, người chăm sóc, và bệnh nhân sẽ tạo ra kết quả tốt đẹp nhất trong việc điều trị. Đức Phật không phải là một vị y sĩ trung bình; Ngài là một đại lương y hiếm có với sự sắc bén và sáng suốt.
IV. Lý Thuyết Y Học Trong Phật Giáo
Theo y học Trung Hoa, các căn bệnh được gây ra bởi bảy nội tố và sáu ngoại tố. Các yếu tố bên trong là những mức độ cùng cực của hỷ lạc, giận dữ, lo lắng, đắn đo, buồn bã, sợ hãi, và khủng hoảng. Các yếu tố bên ngoài là lạnh, hè nóng, khô, nóng, ẩm ướt, và gió. Bảy yếu tố nội bộ, còn gọi là những cảm xúc, được xem là điều gây ra bệnh tật vì chúng trực tiếp ảnh hưởng đến sự hoạt động lành mạnh trong năm cơ quan chính của con người. Mức độ cùng cực của niềm hân hoan hay sợ hãi làm thiệt hại tim, giận dữ hại gan, lo âu hại phổi, tâm đắn đo hại lá lách, và khủng hoảng hại thận. Theo y học Trung Hoa, một đời sống tình cảm lành mạnh và quân bằng là điểm thiết yếu trong việc duy trì sức khỏe thể chất cá nhân.
Nhiều kinh điển Phật giáo khác nhau mô tả nguyên nhân của bệnh cũng tương tự như nhau. Ví dụ, Kinh Phật Chuẩn Đoán nói rằng có mười nguyên nhân và tình trạng của bệnh tật. Những lý do này là: 1) ngồi quá lâu trong một thời gian dài mà không di chuyển, 2) ăn quá nhiều, 3) buồn bã, 4) mệt mỏi, 5) ham muốn tình dục quá mức, 6) giận dữ, 7) trì hoãn đại tiện, 8) trì hoãn tiểu tiện, 9) giữ hơi thở, và 10) giữ hơi ga. Tiếp cận các nguyên nhân gây bệnh từ một góc độ hơi khác biệt, Đại Luận Xả Và Thiền Minh Sát vạch ra sáu nguồn gốc về bệnh tật. Chúng được mô tả là: 1) mất quân bằng trong bốn tứ đại (đất, nước, lửa, và gió), 2) thói quen ăn uống không đều đặn, 3) phương pháp thiền định sai lạc, 4) rối loạn bởi thần linh, 5) quỷ ám, và 6) nghiệp lực xấu. Căn bệnh bắt nguồn từ hầu hết các căn gốc này có thể được chữa khỏi nếu mọi người cải tiến cách ăn uống, ý thức hơn về quá trình tự nhiên của cơ thể, và cố nghỉ ngơi thật nhiều. Tuy nhiên, ba nguyên nhân sau cùng 4) - 6) có liên quan đến nghiệp quả, và ta phải thi hành để cải thiện cá tánh và thanh tịnh hóa tâm để hầu mong được chữa khỏi. Một người bị ảnh hưởng trong ba lý do sau cùng cần phải dành nhiều thời gian tu tâm, sám hối, và làm điều chân thiện. Chỉ có khi đó căn bệnh mới bắt đầu biến mất. Đại Trí Độ Luận (Mahaprajnaparamita Sastra) nói rằng căn bệnh được gây ra bởi các nguyên nhân và điều kiện từ nội bộ hoặc ngoại bộ. Tuy nhiên, Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đề cập đến các nguyên nhân khác của bệnh tật, nhưng quá nhiều để liệt kê ở đây. Tất cả các lý thuyết về những nguyên nhân khác biệt của bệnh tật có thể được chia thành hai loại chính: A) sự mất quân bằng trong tứ đại và B) sự hiện hữu của tam độc tham, sân, và si. Sau đây là chi tiết bàn luận về hai phân loại này.
A. Mất Quân Bằng Của Tứ Đại
Theo Phật giáo, cơ thể được bao gồm bốn yếu tố (tứ đại) vô thường - đất, nước, lửa, và gió. Chỉ có thần thức được tái sinh một trong sáu cõi. Lý thuyết này là nền tảng của khoa học y tế Phật giáo Ấn Độ. Y học Trung Hoa tin rằng cơ thể được bao gồm một hệ thống đặc biệt của những mạch phụ để thuyên chuyển sinh lực (chi), máu, dinh dưỡng, và các chất hệ trọng thông qua năm giác quan và sáu vùng nội bộ trong cơ thể con người. Khi hệ thống lưu thông phức tạp này được di chuyển hợp thức, tứ đại nằm trong sự quân bằng, các bộ phận chính có thể thực hiện các hành động thiết yếu, và cơ thể giữ vững khỏe mạnh.
Súc Tích Luận Xả Và Thiền Minh Sát ghi rằng mỗi một trong tứ đại có thể gây ra 101 bệnh, với tổng số 404 bệnh có thể xảy ra. Mỗi phần tứ đại được kết nối với một số loại bệnh. Ví dụ, yếu tố đất có liên quan đến các bệnh làm cho cơ thể trở nên nặng nề, cứng, và đau đớn, chẳng hạn như viêm khớp xương; yếu tố nước công kích cơ thể gây ra tiêu
chảy, đau dạ dày, khó tiêu hóa; yếu tố lửa gây ra sốt, táo bón, và các vấn đề đi tiểu; cuối cùng, yếu tố gió liên quan đến khó thở và nôn mửa.
Tập thứ ba của Nanhai Ji Gui Neifa Zhuan ghi rằng, "Nếu các căn bệnh liên quan đến tứ đại, chúng thường được gây ra do ăn quá độ hoặc cố gắng quá sức.” Sự mất quân bằng trong tứ đại và kết quả của các bệnh tật cũng có thể xảy ra do lối ăn uống không phù hợp với bốn mùa. Khi bốn mùa thay đổi và nhiệt độ biến chuyển từ mát tới lạnh tới ấm tới nóng, điều quan trọng là phải cải cách lối ăn uống trong một phương thức mới để cho phép cơ thể hoạt động tốt nhất. Trong Kim Quang Minh Kinh (Suvarnaprabhasottama Sutra), một thanh niên hỏi cha là vị y sĩ, "Làm thế nào để chúng ta chữa khỏi nỗi khổ đau của nhân loại và trị lành các căn bệnh phát sinh từ sự mất quân bằng trong tứ đại?” Vị y sĩ trả lời đứa con trai rằng, "Chúng ta sống qua bốn mùa mỗi ba tháng, hoặc sáu mùa mỗi hai tháng trong một số địa hạt trên thế giới. Dẫu rằng bốn hay sáu, chúng ta phải sống theo từng mùa, ăn thực phẩm tương ứng với nóng và lạnh, ấm áp và mát mẻ. Bằng phương pháp này, cơ thể chúng ta sẽ được lợi ích. Một vị y sĩ giỏi có đủ khả năng quy định các thực phẩm và thuốc men chính đáng để thích hợp với tứ đại và nuôi dưỡng cơ thể bệnh nhân trong từng mùa riêng biệt. Khi mỗi mùa và thực phẩm cân đối, cơ thể do đó cũng được quân bằng."
Ăn uống với số lượng vừa phải và cải chính những gì chúng ta ăn tùy theo những thay đổi của từng mùa là hai yếu tố quan trọng để duy trì sự quân bằng giữa tứ đại và cho phép sinh lực lưu hành không chút cản trở qua toàn cơ thể. Chúng ta tự động mặc quần áo khác biệt khi những mùa thay đổi để thoải mái và được che chở vì sự biến chuyển của nhiệt độ hay tình trạng thời tiết. Nếu chấp nhận lấy thực hành này và điều chỉnh lại cách ăn uống đối với thời tiết và mỗi mùa, chúng ta tự giúp cơ thể giữ vững quân bằng và chống lại bệnh tật.
B. Tham Lam, Sân Hận, và Si Mê
Tham, sân, và si, đôi khi được gọi là "tam độc", cũng là lý do tại sao mọi người cùng bị tai họa với bệnh tật. Khi một ai bị mắc kẹt vào bất kỳ một trong những trạng thái tinh thần suy nhược này, chúng ta tự mở cửa và mời mọc bệnh tật vào. Kinh Duy Ma Cật (Vimaỉakirti Sutra) ghi rằng, "Tất cả các bệnh tật tôi đang mang bây giờ được chuyển hóa từ những ý nghĩ hão huyền mà tôi đã có trong quá khứ ... bởi vì con người chấp thủ vào một "bản ngã", phiền não và bệnh tật liền có cơ hội được nảy nở trong cơ thể họ.” Khi một người tự cho phép bản thân bị điều khiển bởi tam độc, các mối hiểm nguy về sức khỏe tâm lý và vật lý trở thành vô hạn và gây suy nhược. Những diễn giải sau đây đưa ra tầm nhìn sâu sắc về cách thức nào tham, sân, và si, gây nên bệnh tật:
1. Tham Lam
Tham lam được định nghĩa là niềm mong mỏi không phù hợp và quá lố cho một điều gì đó. Ví dụ, một người thường hay ăn quá độ khi có một bữa ăn hợp khẩu vị. Tham lam như thế có thể dẫn đến bội thực và thức ăn sẽ không được tiêu hóa bình thường. Hoặc, một người có thể rất thích thức ăn nọ khiến họ ăn quá mức hơn thường xuyên. Đây là loại tham muốn mà khi không thể nào được thỏa mãn có thể gây ra bệnh béo phì, mỏi mệt, và trở ngại về tim. Tham lam không bao giờ chẳng có hậu quả.
Con người cũng có những khát vọng quá lố qua kinh nghiệm giác quan. Trong Đại Xả Luận Giải và Thiền Minh Sát, có nhận định rằng quá nhiều chấp thủ với những gì chúng ta cảm nhận bằng âm thanh, mùi vị, thị giác, vị giác, và xúc giác có thể gây ra cả hai thứ bệnh tâm lý và thể chất. Một người bám víu vào kinh nghiệm của ngũ căn, có thể gây ra sự mất quân bằng trong tư tưởng hữu lý và khuấy động khả năng chọn lựa đạo đức. Những vấn đề về sức khỏe thể chất cũng có thể phát sinh. Trong lý thuyết sức khỏe Phật giáo, những người quá lệ thuộc vào ngoại hình sẽ bị bệnh gan. Những người quá lệ thuộc vào âm thanh sẽ bị bệnh thận. Những người quá lệ thuộc vào hương vị sẽ bị bệnh phổi. Những người quá lệ thuộc vào mùi vị sẽ bị bệnh tim mạch; và những người quá lệ thuộc vào sờ mó sẽ bị bệnh lá lách. Vì vậy, khi chúng ta chạm trán với vô số những cảm giác đó, mà chúng tự nhiên là một phần của đời sống thường nhật, tốt nhất là duy trì một thái độ cân xứng và thực hành Trung Đạo[4]. Để duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần cho được thuận lợi, Trung Đạo cũng là cách tốt nhất để tiếp cận ngủ nghỉ, ăn uống, và tập thể dục. Khi một người ngủ quá mức, họ sẽ không có một tâm trí sáng suốt. Khi một người ăn quá nhiều thực phẩm có chất lượng mỡ màng và đường cao, họ dần dần gia tăng nguy cơ đến sức khỏe và cuối cùng có thể phải đối mặt với căn bệnh kinh niên, như bệnh tiểu đường hoặc bệnh tim. Trong xã hội vùn vụt hiện đại nhằm thúc đẩy mức lao động quá đáng và ngồi xem cả hàng giờ truyền hình, mọi người không tập thể dục đầy đủ, và rồi thế nào sự việc này cũng có ảnh hưởng bất lợi đến cơ thể. Hơn nữa, hiện nay mọi người luôn luôn tiếp xúc với môi trường ồn ào và căng thẳng, có thể làm cho họ bệnh hoạn dễ dàng hơn. Nếu một ai giảm thiểu lòng tham lam và khát vọng, và tiếp cận cuộc sống với thái độ Trung Đạo, họ sẽ tiến đến một cuộc sống lành mạnh hơn.
2. Sân Hận
Quyển thứ mười bốn của Đại Trí Độ Luận (Mahaprajnaparamita Sastra) ghi rằng, " Sân hận là cảm xúc độc hại nhất so với hai loại độc kia; tác hại của nó vượt xa tất cả các phiền não khác. Trong chín mươi tám sự giày vò[5], sân hận là điều khó khăn nhất để khuất phục; trong tất cả các vấn đề tâm lý, sân hận là điều khó khăn nhất để chữa trị." Mặc dù sân hận là một vấn đề tâm lý, nó cũng có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về thể chất. Ví dụ, khi lo âu và giận dữ nảy sinh ra ở một người, các mạch máu siết lại, gây ra độ tăng áp huyết, và do đó vượt thêm phần nguy cơ cho cơn đau tim.
Khi viết về sự sân hận, Hòa thượng Punengsong từ triều đại nhà Thanh nói với chúng ta rằng,
Một y sĩ giỏi luôn luôn phát hiện Nguyên nhân gây ra căn bệnh ban đầu.
Sân hận rất là tai hại Cho những ai mắc bệnh.
Mối liên hệ giữa nhịp tim bệnh nhân Và căn bệnh thật là tinh tế.
Với đơn thuốc chính xác,
Chúng ta có thể chữa lành bệnh tật.
Khi bác sĩ khám bệnh nhân để xác định nguyên nhân gây ra căn bệnh và kê toa thuốc đúng quy định, một trong những điều quan trọng nhất của sự điều trị là làm dịu cảm xúc của bệnh nhân. Giận dữ gây cho máu lưu thông không đều hòa, có thể tạo ảnh hưởng hiểm hại trên toàn bộ cơ thể. Nó hoạt động như một sự tắc nghẽn, khiến cho thân thể và tâm trí khó tiếp thu trong lúc chữa trị. Khi những cảm xúc kích động được giảm dần và bệnh nhân có thể trải nghiệm một cảm giác an lạc, sự hồi phục sẽ dễ dàng hơn và nhanh chóng hơn. Giận dữ và thù hận đặc biệt là điều bất lợi cho quá trình điều trị, và trong thực tế, thường làm vấn nạn thêm phần trầm trọng.
3. Si Mê
Khi một kẻ ngu muội, họ không thể hiểu được hoặc nhìn thấy những điều như chính sự chân thật. Đa số trong chúng ta đều như vậy khi nói đến bệnh tật. Chúng ta không thể nào hoặc không sẵn sàng xem xét tận gốc rễ của căn bệnh. Thay vì xác định rõ ràng các nguyên nhân và kết quả chân thực để giúp chúng ta triệt tiêu bệnh tật, và thay vì sử dụng trí tuệ để hướng dẫn chúng ta đến sự chăm sóc đích đáng, chúng ta lại đi đường tắt và trở thành phân tâm bởi những biện pháp vô hiệu quả. Đôi khi chúng ta tìm kiếm một "cách chữa lẹ làng,” sử dụng những phương pháp vô căn cứ, những lối điều trị phản khoa học, và các bác sĩ hư giả. Trong khi đó, chứng bệnh thường gây cho chúng ta khổ não về cả hai mặt thể chất và tâm thần. Sử dụng lấy trí tuệ để điều tra ra nguyên nhân thực sự của căn bệnh sẽ giúp chúng ta đặt chân lên con đường đi đến mức phục hồi toàn hảo và lâu dài.
Trong khi thường thường các triệu chứng của căn bệnh cơ thể dễ dàng phát hiện, chúng ta vẫn không biết gì về chứng bệnh tâm lý. Chúng đi theo ta như bóng với hình. Chúng ta không quán sát những cấu trúc của tâm với trí tuệ và nhận thức, và thế nên sức khỏe tâm lý kém cỏi liền bám theo sau. Nếu chúng ta vẫn còn mù quáng về các căn bệnh tâm lý, những trở ngại đó có thể gia tăng và gây ra chứng bệnh nghiêm trọng hơn trong cơ thể. Các nhà khoa học hiện đại đồng ý rằng mức cùng cực của cơn giận dữ, vui mừng, lo âu, sợ hãi, buồn bã, và những cảm xúc khác có thể ảnh hưởng đến một thân thể lành mạnh. Theo nghiên cứu y học gần đây, "Khi một người không vui vẻ, tức giận, hay bị áp lực, não bộ của họ phát tác ra các kích thích tố được gọi là adrenaline và nor- adrenaline, có thể hoạt động như loại độc tố." Hơn nữa, nếu cơ thể bị ảnh hưởng bởi những cảm xúc cực đoan qua một thời gian dài, căn bệnh gây ra bởi sự mất quân bằng vì mặt tâm lý hoặc sự căng thẳng sẽ khó khăn hơn để chữa trị. Ví dụ, sự hỗn loạn tiêu hóa bắt nguồn từ trạng thái tâm lý lâu dài sẽ thật khó khăn điều trị hơn căn bệnh khó tiêu hóa do một yếu tố bên ngoài. Với bằng chứng khoa học, và không chỉ là lý thuyết tôn giáo, những cảm xúc thật sự có ảnh hưởng đến hoạt động lành mạnh của cơ thể. Vì vậy, là điều lợi ích tột cùng nhất cho chúng ta trau dồi nhận thức về tình trạng cảm giác, xử lý cảm giác cho thích đáng, và không nên quá gắn bó hay bị điều khiển bởi cảm giác.
Trong Phật giáo, có tám vạn bốn ngàn phương pháp được sử dụng để chữa trị tám vạn bốn ngàn căn bệnh. Ví dụ, Đức Phật dạy rằng để loại trừ tham lam, một người có thể quán chiếu sự ô nhiễm. Khi một người thiền định về ô nhiễm, họ sẽ trải nghiệm được sự giảm thiểu cho cơn khát vọng. Đức Phật dạy mọi người bị thống trị bởi cơn giận dữ hay sự thù hận phải thực hành lòng từ bi bao quát và rồi bớt dần thái độ thù nghịch. Khi họ cảm thấy mình trở nên giận dữ, phải lưu tâm đến ý nghĩa của lòng nhân ái. Bằng cách đó, họ sẽ hiểu rằng khi cơn giận nổi lên không phải là một phản ứng chính đáng hoặc hữu ích. Dần dần, lời nói và suy nghĩ dữ dằn sẽ tiêu tan.
Nếu con người còn si mê, họ nên quán sát nhân quả và luật vô thường, để giúp họ nuôi dưỡng những tư tưởng không chấp thủ. Không có gì khởi sinh bên ngoài sự phụ thuộc căn bản và không có gì khởi sinh sẽ kéo dài vĩnh cửu; tất cả các hiện tượng sẽ có một ngày chấm dứt sự hiện hữu. Khi tất cả mọi thứ hành xử như hạt bụi, chỉ đến và đi, thì có mục đích gì để gắn bó với nó? Nhận thức rằng không có gì ngoại lệ đối với vô thường sẽ giúp định hướng lại tâm thức chúng ta từ si mê sang trí tuệ và cho phép chúng ta sống với sức khỏe tổng quát khả quan hơn.
Đạo sư Hàn Sơn Đức Thanh từ triều đại nhà Minh nói: "Không một ai có thể bệnh, già, chết, hoặc sinh ra thay thế cho ai. Đau khổ này, chỉ có người đó gánh chịu. Tất cả cay đắng và ngọt bùi một người phải tự chính mình trải qua." Nếu chúng ta có thể chấp nhận khổ đau là điều không thể nào tránh khỏi và thấy vô thường trong sự thanh thản, việc đó cũng giống như uống một thang thuốc tuyệt hảo nhất. Vì vậy, khi chúng ta điều chỉnh lại những cảm xúc, khuất phục được tính khí giận dữ, và hành động rộng lượng đối với người khác, chúng ta sẽ nhận diện được lối đi qua các vấn nạn của cuộc đời một cách dễ dàng hơn và giảm thiểu cơ hội sanh xôi bệnh tật. Nếu chúng ta áp dụng những nguyên tắc của y học Phật giáo để nuôi dưỡng tâm linh và phục hồi cơ thể, lòng quảng đại sẽ nẩy sinh từ tánh tham lam, lòng từ bi sẽ nẩy sinh từ cơn giận dữ, một trí tuệ sẽ nẩy sinh ra từ thức vô minh, và sức khỏe sẽ nẩy sinh từ cơn bệnh tật. Khi chúng ta xử lý với các độc hại của tâm linh và hành động bằng sự thanh thản trong mọi tình huống, đó là sự hài hòa của thân và tâm vì thế bệnh tật sẽ bị trấn áp.
V. Y Dược Của Phật giáo
Sự xuất hiện của một căn bệnh liên quan chặt chẽ đến sức khỏe tâm thần, sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm linh, tư cách, thói quen, môi trường sống, và thậm chí luôn cả xã hội và văn hóa, mà một người đang sống. Hòa đồng tất cả những yếu tố này và xúc tiến vào những thực hành cụ thể có thể giúp đem lại một sức khỏe tối ưu và ngăn ngừa bệnh tật. Thu nhập thêm nhận thức về nguyên nhân gây ra bệnh tật và cư xử cuộc đời bằng phương cách nuôi dưỡng và duy trì sức khỏe tốt đẹp cho lâu dài, và rồi chúng ta tự thăng tiến sự lành mạnh tổng quát. Đức Phật cho chúng ta vài điều khuyên nhủ và thực hành mà được coi như là loại y dược sử dụng cho tất cả các khía cạnh của cuộc đời:
Thưc Hành Thói Quen Ăn Uống Lành Manh: Thành ngữ Trung Quốc có câu, "Vấn nạn được gây nên bằng lời nói thoát ra từ cửa miệng; bệnh tật gây ra bằng thực phẩm cho vào cửa miệng." Bằng sự thận trọng và chừng mực với những gì chúng ta tiêu thụ là một thực hành quan trọng cho sức khỏe an khang. Trước khi dùng bất cứ thức ăn nào, chúng ta nên xác định xem thực phẩm có được tươi tốt, có được rửa sạch sẽ, và số lượng nào hợp lý để ăn. Kinh Phật Đại Thừa Kế ghi rằng, "Khi chúng ta ăn, chúng ta nên coi thực phẩm như y dược, vì tiêu thụ quá nhiều hoặc quá ít đều không lành mạnh. Một hạn lượng đều đặn và thích đáng có thể hỗ trợ cơ thể, trị cơn đói, dịu cơn khát, và ngăn ngừa bệnh tật. Như ong hút nhụy, chúng chỉ tiêu thụ những gì cần thiết, nhưng không phạm đến toàn bộ cánh hoa." Như ngài Xingshi Chao nói, chúng ta nên cải cách các loại thực phẩm chúng ta dùng tùy theo mùa, tiêu thụ tổng hợp các loại thức ăn khác nhau để duy trì trạng thái cân bằng cho cơ thể. Cơ thể của chúng ta dễ bị nhuốm nhiều loại bệnh tùy theo từng mùa, và lối ăn uống ý thức theo thực tế này cho ta cơ hội khả quan hơn để giữ gìn sức khỏe.
Quy chế của Tu viện Chan nêu lên năm quán chiếu để lưu tâm khi chúng ta dùng bữa:
Tôi chấp nhận nỗ lực cần thiết Để trồng trọt và nấu nướng thức ăn;
Tôi tri ơn cội nguồn thực phẩm.
Trong việc quán chiếu đạo đức này;
Nếu toàn hảo trong tâm và tim,
Tôi xứng đáng hưởng cúng dường này.
Tôi sẽ tự chính mình bảo vệ tâm Từ những bẫy rập của lỗi lầm;
Tôi sẽ tự bảo vệ bản thân mình Đặc biệt chống lại tham lam.
Đê trị một thân thê suy nhược,
Tôi tiêu thụ thực phâm này nhưy dược.
Đặt bước chân lên con đường Của sự tu dưỡng tâm linh;
Tôi chấp nhận lấy thực phâm này Như một sự cúng dường.
Một người phải duy trì lối ăn uống quân bằng và xem thực phẩm bằng thái độ thanh thản. Khi cơ thể chúng ta tiêu thụ số lượng thực phẩm chánh đáng, những cơ quan tiêu hóa sẽ hoạt động đúng mức, và sự trao đổi thể chất sẽ" trong tình trạng ưu tú, do đó ngăn ngừa các chứng bệnh tiêu hóa và các vấn đề sức khỏe khác. Khi lưu tâm và biết tri ân với các thực phẩm mà chúng ta tiêu thụ sẽ góp phần cho sức khỏe tâm thần cũng như cơ thể.
Thiền Định: Tâm chúng ta luôn luôn khám phá thế giới xung quanh và kết quả là những ý tưởng hão huyền luôn luôn sinh và diệt. Tâm quá mức hoạt động hiếm khi nào có cơ hội để nghỉ ngơi. Những dòng tư tưởng liên tục mà chúng ta trải nghiệm có thể ảnh hưởng đến khả năng tập trung mà chẳng khi nào gián đoạn và có tác động tiêu cực đến đời sống thường nhật. Ngoài các nguy cơ cho sức khỏe tâm lý, sinh lý của một người cũng có thể bị ảnh hưởng bất lợi bởi số lượng hoạt động tinh thần quá cực độ. Bộ não có thể ngừng hoạt động đích đáng do những ý tưởng lộn xộn không ngớt hay trường hợp kích thích tâm thần trầm trọng. Ví dụ, khi ta trải nghiệm một sự ngạc nhiên to lớn, khuôn mặt có thể chợt đổi màu, bàn tay và bàn chân trở nên lành lạnh, và khả năng tập trung thông thường sẽ bị sút kém. Tuy nhiên, nếu họ hít một hơi thở thật dài để hạ xuống nhịp tim đập và trầm tĩnh những cảm xúc, sự hiện hữu của sự thanh thản sẽ trở lại với cơ thể trong trạng thái bình thường và cơ hội làm nguy hại bất kỳ các bộ phận thiết yếu nào sẽ được giảm thiểu.
Qua việc thực hành thiền định bằng cách hít thở chậm chạp và tập trung vào hơi thở, tâm lý và sinh lý lành mạnh của một người có thể thăng tiến rất đáng kể. Trong Y Học Chan, được viết bởi một y sĩ Nhật Bản, ba lợi ích đặc trưng cho thân thể xuất phát từ thiền định đề cập tới: 1) tăng trưởng sinh lực và kéo dài thời gian của tuổi thanh xuân, 2) cải tiến mức tuần hoàn của máu, và 3) hồi phục hệ thống nội tiết[6]. Bằng thiền định, cơ thể của chúng ta đạt được một trạng thái cân bằng tốt đẹp hơn và sự hô hấp trở thành quy định. Tâm trí trở nên tập trung, rõ ràng, và thứ tự. Những khát vọng từ từ phân hủy và những tư tưởng bất chánh được loại trừ. Khi tâm chúng ta trong sáng và tập trung ở bất kỳ lúc nào, ngay cả khi đi, ngồi, và ngủ, chúng ta sẽ được an lạc và yên bình, đặt kết quả cuối cùng của sức khỏe tổng quát nằm ở một cao độ khả quan hơn - cả về tinh thần lẫn thể chất. Đạo sư Tianti Zhizhe thừa nhận rằng thiền định tác động thật đáng kể đối với sức khỏe tổng quát. Ông nói rằng nếu thiền định được luyện tập thường xuyên và áp dụng cho mọi sự việc hằng ngày cùng với trí tuệ, tất cả 404 bệnh có thể được chữa khỏi.
Với tâm thần được tự tại từ sự kiệt quệ và hỗn loạn bởi những suy nghĩ miên man, chúng ta có thể thực hiện những điều quan trọng trong cuộc sống, thay vì chỉ đơn thuần nghĩ ngợi đến dự định làm. Bằng hành động, thay vì chỉ nghĩ suy, một người có thể trải nghiệm đích thực hơn qua từng thời điểm và sau rốt trực diện với sự thật của cuộc sống.
Tôn Kính Đức Phât: Những lợi ích khi tôn kính Đức Phật thì vô hạn và trong nhiều hình thức, nuôi dưỡng cả hai phần sức khỏe thể chất lẫn tinh thần. Cúi lạy Phật làm tăng cường sức mạnh và dẻo dai cơ thể. Khi một người cúi lạy, phần cổ, bàn tay, cánh tay, thắt lưng, và bắp chân duỗi ra, khiến toàn bộ cơ thể có cơ hội được luyện tập. Bằng cách duỗi dài cơ thể, độ cứng đờ của toàn thân được giảm thiểu và máu huyết lưu thông tăng trưởng, do đó làm bớt nguy cơ sanh bệnh.
Mặc dù cúi lạy dẫn đến những lợi ích cho cơ thể, hành động cúi lạy và phúc lợi thu hoạch thì liên quan nhiều với trạng thái tâm thần hơn là hoạt động thân thể. Tâm hiện hữu khi cúi lạy thật vô cùng quan trọng. Khi chúng ta cúi lạy, phải nên tôn kính và chân thành, tập trung thật lắng sâu trong lúc cúi xuống lạy chầm chậm. Bằng cách tỏ lòng tôn kính theo phương pháp này, chúng ta quán tưởng Đức Phật và rồi mở rộng trọng điểm để bao gồm vô lượng chư Phật trong tất cả muôn hướng. Khi chúng ta tỏ lòng tôn kính với vô lượng chư Phật, vô lượng chúng sinh cũng được lợi lạc. Chúng ta, Đức Phật - trong thực tế tất cả chân tâm bổn tánh đều là không. Tuy nhiên, mặc dù là tánh không, nếu cúi lạy trước Đức Phật với tâm chân thành và tôn kính, một kinh nghiệm tâm linh tuyệt diệu có thể xảy ra. Quán xét sự thật của tánh không dạy cho chúng ta phải định hướng lại bản ngã của con người và nhận thức ra rằng khái niệm về cái tôi chỉ là ảo tưởng. Cúi lạy, do đó được thi hành không chỉ để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Đức Phật và tất cả chư Phật, mà còn là một phương cách hữu hiệu để loại bỏ vô minh, giảm bớt sự chấp thủ vào cái tôi, lần diệt gánh nặng của nghiệp, và tu dưỡng sự thực tập tâm linh. Như chúng ta thấy, cúi lạy là một cử chỉ lành mạnh để nuôi dưỡng cả thân và tâm.
Click here to claim your Sponsored Listing.