05/01/2016
DÂN CHỦ TẠI VIỆT NAM.
Trong chiến lược “diễn biến hoà bình”, cùng với vấn đề “nhân quyền”, các thế lực thù địch coi việc sử dụng chiêu bài “dân chủ” là khâu đột phá chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng rêu rao rằng, “Việt Nam là một quốc gia độc đảng, do Đảng Cộng sản Việt Nam cai trị và kiểm soát…
Do sự hiện hữu của độc quyền, chuyên chế đảng trị, dân tộc Việt Nam không chỉ khó thực hiện lý tưởng dân chủ mà còn khó tận hưởng các quyền tự do căn bản”[1].
1. Phải chăng Việt Nam thực hiện chế độ một đảng là không có dân chủ?
Lịch sử đấu tranh vì dân chủ của nhân loại cho thấy, không phải chỉ có một đảng cầm quyền là xã hội nào đó không có dân chủ. Cũng không phải thực hiện chế độ đa đảng thì chế độ xã hội ở một quốc gia nào đó mới là chế độ dân chủ. Hiện nay trên thế giới có nhiều nước duy trì hệ thống chính trị theo chế độ một đảng. Việt Nam, Lào, Cu Ba, Trung Quốc, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên là những nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Các nước Ểritơria, Ghi nê và Mônacô cũng duy trì hệ thống chính trị theo hình thức một đảng[2]. Như vậy, hệ thống chính trị một đảng không phải là đặc trưng riêng có ở các nước xã hội chủ nghĩa mà còn có ở các quốc gia dân tộc không đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Các nước Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Nhật…. hệ thống chính trị theo hình thức đa đảng. Trong hệ thống chính trị ở các nước này thường có hai đảng trở lên có cơ hội thực tế trở thành đảng cầm quyền hoặc tham gia vào một liên minh cầm quyền. Ở nhiều nước tư bản hiện nay, do thành quả đấu tranh của nhân dân, giai cấp tư sản buộc phải điều chỉnh theo hướng cải cách dân chủ nhất định. Họ buộc phải công nhận các lực lượng đối lập, kể cả các Đảng Cộng sản. Song bản chất của chế độ dân chủ đó vẫn là nền dân chủ tư sản bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Mặc dù ở các nước phương Tây có nhiều đảng, nhưng quyền lãnh đạo xã hội vẫn là đảng của giai cấp tư sản, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Ở những nước này, nhân dân chỉ được quyền lựa chọn những người lãnh đạo trong giai cấp tư sản. Hãy nhìn vào thực trạng hiện nay của nền dân chủ tư sản ở một số nước phương Tây. Ở Mỹ, có nhiều đảng chính trị, nhưng Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hoà thay nhau cầm quyền. Cả hai đảng này đều là đại diện cho những tập đoàn tư sản Mỹ, họ vừa tranh giành, vừa thoả hiệp để cùng nhau thực hiện dân chủ cho giai cấp tư sản, vì giai cấp tư sản Mỹ. Hai đảng này luân phiên cầm quyền, nhưng lại có sự thống nhất cao trong những mục tiêu chiến lược của nước Mỹ: Nước Mỹ phải có được quyền lực (Power) để giữ gìn an ninh của mình; nước Mỹ phải đủ sức thiết lập và lãnh đạo trật tự thế giới (Peace); đem lại sự phồn vinh cho nước Mỹ theo nguyên tắc tư bản chủ nghĩa (Prosperty) và áp đặt các giá trị tự do, dân chủ của hợp chủng quốc Hoa Kỳ cho toàn thế giới (Principes)[3].
Nhật Bản là nước theo chế độ đa đảng với hàng chục đảng phái, trong đó có năm chính đảng lớn. Đó là Đảng Tự do dân chủ (LDP), Đảng dân chủ (JDP), Đảng Công minh (Kômei), Đảng Cộng sản Nhật Bản (JCP) và Đảng xã hội dân chủ (SDP). Nhưng trên thực tế việc cầm quyền đều rơi vào Đảng Tự do dân chủ (LDP) hoặc Đảng này chủ trì liên minh với Đảng dân chủ (JDP), Đảng Công minh (Kômei), Đảng xã hội dân chủ (SDP) để cầm quyền. Bản chất của hệ thống chính trị đa đảng ở các nước tư bản chủ nghĩa là sự thống trị của các công ty lớn và giới tài phiệt. Đường lối chính sách phát triển đất nước của các đảng đều do giới tài phiệt chi phối phải phục vụ cho lợi ích của giới tài phiệt, bảo vệ con đường phát triển tư bản chủ nghĩa. Điều này giải thích vì sao, Đảng Cộng sản Nhật cũng như Đảng Cộng sản ở các nước phương Tây chỉ đóng vai trò là đảng đối lập của Đảng cầm quyền hoặc liên minh cầm quyền ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Cả lý luận và thực tiễn cho thấy, dân chủ hay không có dân chủ phụ thuộc vào giai cấp lãnh đạo trong xã hội đó mà không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay chế độ đa đảng trong hệ thống chính trị. Không có dân chủ chung chung, phi giai cấp. Chế độ một đảng hay chế độ đa đảng chỉ là hình thức trực tiếp của thực hành dân chủ nhằm thực hiện lợi ích của giai cấp cầm quyền. Nền dân chủ tư sản là một tiến bước tiến bộ lớn của nhân loaị so với chế độ phong kiến, nhưng đó vẫn là nền dân chủ do giai cấp tư sản, vì giai cấp tư sản. Ở các nước phương Tây thực hiện chế độ đa đảng, nhưng đảng nào chấp nhận con đường tư bản chủ nghĩa thì mới có cơ hội cầm quyền.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự phát triển về chất so với các hình thức dân chủ và chế độ dân chủ trước đó. Vì nền dân chủ này nhằm tiến tới giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Xem xét một quốc gia dân tộc nào đó có dân chủ hay không có dân chủ phải nghiên cứu mục tiêu, bản chất của nền dân chủ ấy là gì, nền dân chủ ấy vì ai và phục vụ cho ai, các hình thức tổ chức thực hiện dân chủ trong xã hội ấy.
Lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cho đến nay đã chứng minh rằng chỉ có dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam nhân dân ta mới giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Bằng đường lối cách mạng đúng đắn, bằng sự chiến đấu hy sinh của các thế hệ đảng viên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã được nhân dân tin yêu trao cho sứ mệnh lãnh đạo nhân dân và toàn dân tộc. Hiến pháp năm 1992 của nước ta quy định tại điều 4 về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội không phải do sự áp đặt mà chính nhân dân tin tưởng và giao cho Đảng trọng trách này. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và lãnh đạo nhân dân phấn đấu xây dựng xã hội Việt Nam đương đại do nhân dân lao động làm chủ và thực sự làm chủ, một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thực tiễn những năm đổi mới đất nước cho thấy, những thành tựu thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội theo đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tạo ra trong đời sống xã hội bầu không khí cởi mở, tin cậy, tính năng động, sáng tạo, hướng tới sự phát triển trí tuệ, đạo đức, nhân cách khắc phục sức ỳ, sự trì trệ. Nhân dân được trau dồi ngày càng tốt hơn về ý thức dân chủ, về trình độ dân trí; có ý thức, trách nhiệm bảo vệ các giá trị của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đảng ta chỉ rõ dân chủ xã hội chủ nghĩa có nội dung toàn diện, trong đó thực hiện dân chủ trong lĩnh vực kinh tế là đặc biệt quan trọng. Bởi vì, chỉ thực hiện tốt dân chủ trên lĩnh vực kinh tế theo mục tiêu đảm bảo lợi ích cho người lao động, đảm bảo sự thống nhất lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân thì mới phát huy tác dụng tích cực đối với thực hiện dân chủ trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội. Có thể khẳng định rằng sự phát triển của các thành phần kinh tế và tự do kinh doanh theo pháp luật là bước phát triển cực kỳ quan trọng của thực hiện dân chủ trên lĩnh vực kinh tế. Để thực hiện dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, Đảng ta đã kiên quyết xoá bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Đổi mới tư duy về kinh tế xã hội chủ nghĩa, về sở hữu, về các hình thức tổ chức sản xuất, về các thành phần kinh tế. Bằng việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; gắn quyền sở hữu với quyền sử dụng tư liệu sản xuất; các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất như khoán sản phẩm trong công nghiệp và nông nghiệp; giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân, các hình thức đấu thầu, giao quyền cho cá nhân và tập thể sử dụng, quản lý các tư liệu sản xuất và cơ sở vật chất kỹ thuật trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Cùng với đổi mới về kinh tế là đổi mới về chính trị. Trọng tâm của đổi mới về chính trị là là đổi mới bản thân Đảng để từng bước ngang tầm với nhiệm vụ mới; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân, vì dân; nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong tham gia quản lý Nhà nước và xã hội là yêu cầu bức thiết của dân chủ hoá xã hội.
Thành tựu nổi bật trong thực hiện dân chủ hoá trong lĩnh vực chính trị là chúng ta đã xây dựng củng cố Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quản lý nhà nước bằng pháp luật. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước có nhiều tiến bộ, tạo điều kiện cho việc kiện toàn phát huy vai trò của Nhà nước. Quyền dân chủ của nhân dân được bảo đảm và phát huy bằng pháp luật, bằng quy chế dân chủ ở cơ sở, bằng chính sách, bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện; dân chủ tham dự…Hoạt động của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp được đổi mới theo hướng ngày càng phản ánh tiếng nói và nguyện vọng của nhân dân. Thực hiện dân chủ trên lĩnh vực chính trị đã góp phần trực tiếp giữ vững ổn định chính trị, xã hội; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; sự quản lý của Nhà nước; vai trò của các tổ chức xã hội tham gia vào các hoạt động quản lý của Nhà nước….
Dân chủ trong lĩnh vực văn hoá, xã hội đã góp phần quan trọng vào đấu tranh, phê phán những mặt trái, những hiện tượng tiêu cực trong đời sống kinh tế xã hội: lãng phí, tham ô, tham những, độc đoán, chuyên quyền ức hiếp nhân dân…Quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo đảm và bảo vệ, các nhu cầu văn hoá xã hội đa dạng đã được đáp ứng từng phần tạo điều kiện nâng cao ý thức công dân trong giữ gìn, bảo vệ ổn định chính trị, xã hội, tham gia một cách tự giác vào công việc chung của đất nước, chống lại các hoạt động phá hoại từ bên trong và bên ngoài. Niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân vào đường lối đổi mới vào nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được củng cố.
Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở bao gồm: Quy chế thực hiện dân chủ ở xã phường, thị trấn. Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Quy chế thực hiện dân chủ trong các doanh nghiệp nhà nước. Mục đích của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân trong xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường đoàn kết, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong vững mạnh; ngăn chặn, khắc phục tình trạng quan liêu, tham nhũng, góp phần vào thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một bước tiến mới về dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tuy nhiên, chúng ta cũng thừa nhận là, trong xây dựng nền dân chủ cũng còn nhiều thiếu sót khuyết điểm. Một trong những khuyết điểm ấy là, chưa ngăn chặn đẩy lùi được suy thoái về về tư tưởng, chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo. Để phát huy quyền làm chủ của mỗi người dân, để mỗi công dân có thể hiện đầy đủ quyền làm chủ của mình, Đảng ta chỉ rõ, phải tập trung nâng cao chất lượng và đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội…
Như vậy không thể xuyên tạc lừa mị rằng thực hiện chế độ một Đảng là không có dân chủ. Có thể thấy mục đích thâm hiểm của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ là hòng xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, tiến tới thực hiện chế đa đảng, đa nguyên chính trị, đưa nước ta vào quỹ đạo của dân chủ tư sản.
2. Phải chăng thực hiện chế độ nhất nguyên trong bộ máy nhà nước là không có dân chủ.
Các thế lực thù địch đã không ngừng đưa ra các luận điệu vu cáo xuyên tạc tính chất dân chủ của nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa; rằng Chính phủ Việt Nam “từ chối quyền được thay đổi chính phủ…ngăn cấm tự do thông tin, tự do hội họp, tự do báo chí, tôn giáo”[4]. Chúng đòi Nhà nước ta phải theo mô hình nhà nước dân chủ tư sản phương Tây. Thực chất của mưu đồ xấu xa này là đối lập Đảng với Nhà nước; chia rẽ nhà nước với các tổ chức chính trị, xã hội trong hệ thống chính trị đất nước; chia rẽ nhà nước với nhân dân.
Hiện nay trên thế giới có nhiều mô hình nhà nước dân chủ: Nhà nước dân chủ nhân dân, ở đó quyền lực thuộc về nhân dân mà quốc hội là người đại diện; Nhà nước quân chủ nghị viện, ở đó nhà Vua là người đứng đầu quốc gia nhưng không nắm thực quyền; Nhà nước cộng hoà Tổng thống, ở đó Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, có quyền lực rất lớn không chỉ trong ngành hành pháp mà còn chi phối cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp. Như vậy dân chủ được thực hiện thông qua nhiều mô hình nhà nước. Việc lấy một mô hình nhà nước nào đó để làm căn cứ phê phán có dân chủ hay không dân chủ là phi lý. Nếu vì các tiêu chuẩn dân chủ thì tại sao ngay trong hệ thống tư bản chủ nghĩa cũng có những mô hình nhà nước khác nhau. Vấn đề ở đây lại là tính chất triệt để của một nền dân chủ đào đó.
Các lý luận gia tư sản ca ngợi chế độ tam quyền phân lập ở Mỹ là nền dân chủ hoàn chỉnh. Thực tế cho thấy, hệ thống chính trị ở các nước đó và các nhân vật cầm quyền trong ở các nhà nước tư sản đều do một tập đoàn chính trị đầu sỏ và các tổ chức kinh tế tư bản thao túng. Các tổ chức chính trị và kinh tế này có liên quan mật thiết với nhau cả về quan hệ chính trị, kinh tế để cùng điều hành đất nước. Dân chủ hay không dân chủ là ở chỗ nhà nước có thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân hay không. Hệ thống pháp luật của Nhà nước có bảo đảm thực thi quyền lực chính trị của nhân dân hay không.
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 nay là nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước dân chủ. Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân, do nhân dân bầu nên thông qua bầu cử tự do; tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục đích hoạt động của nhà nước. Những nội dung đó đã được xác định trong Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được xây dựng và thực hiện theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thông qua bầu cử tự do; người đứng đầu nhà nước do nhân dân bầu ra. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quyền lập hiến và lập pháp; quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước; quyền quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước.
Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Quốc hội bãi nhiệm và đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, do Quốc hội bầu ra trong số các địa biểu Quốc hội. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Nhà nước, bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên. Uỷ ban nhân dân do nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Ở nước ta, nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ xã hội, tham gia vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội không chỉ thông qua Nhà nước mà còn thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị như: Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam… các tổ chức xã hội khác: Hội Cựu chiến binh, Hội luật gia.v.v…. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp, tự nguyện của các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nươc. Nhà nước tạo điều kiện để mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả” [5]. Với những yếu tố trên cho phép khảng định, Nhà nước ta là nhà nước của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ấy như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định là nhà nước lấy dân làm gốc, dân là chủ, dân làm chủ.
Trong những năm đất nước đổi mới, để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính Nhà nước, Đảng ta xác định, cần phải cải cách nền hành chính nhà nước là trong tâm của việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước. Mục tiêu của cải cách hành chính nhà nước là nhằm xây dựng củng cố nền hành chính trong sạch, vững mạnh đủ năng lực, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế, nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Cùng với việc xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa vững mạnh hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội đã có sự đổi mới. Các tổ chức xã hội đã thực hiện ngày càng tốt hơn các hoạt động tham gia thành lập các cơ quan nhà nước và tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan đó. Giáo dục hội viên chấp hành đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; bồi dưỡng tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức, năng lực của người làm chủ; thu thập phản ánh ý kiến của nhân dân, đề xuất với cấp uỷ đảng, cơ quan nhà nước những chủ trương, giải pháp xây dựng bộ máy nhà nước các cấp; tham gia vào việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Sự nghiệp giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, hoạt động sáng tạo văn hoá, nghệ thuật, các lĩnh vực báo chí, thông tin, xuất bản được pháp luật bảo vệ và nhà nước bảo đảm. Việc tuyên truyền, nghiên cứu khoa học, cách hoạt động sáng tạo văn hoá, nghệ thuật, các lĩnh vực thông tin, báo chí xuất bản đã được phát triển theo hướng khuyến khích mọi tìm tòi sáng tạo, tôn trọng tinh thần độc lập trong suy nghĩ trong nhận thức, thảo luận tranh luận một cách dân chủ, bình đẳng đã tạo ra trong trong đời sống tinh thần xã hội bầu không khí cởi mở, năng động, sáng tạo, tin cậy đấu tranh cho cái tiến bộ vì lợi ích của nhân dân và lợi ích của dân tộc. Hệ thống thông tin đại chúng đã có sự phát triển mạnh mẽ ngày càng thực hiện tốt chức năng thông tin, giáo dục, tổ chức, phản biện xã hội vì lợi ích của nhân dân, của đất nước. Xu hướng thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích trong hoạt động báo chí, xuất bản đã từng bước được khắc phục. Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thông tin, thể thao ngày càng mở rộng đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá ngày càng cao của nhân dân. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá đã được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng và ngày càng đi vào chiều sâu. Các văn bản pháp luật của Nhà nước về thực hiện dân chủ, lao động, việc làm, tiền lương, thu nhập, về văn hoá, giáo dục, đào tạo, y tế và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, dân số, dân tộc, tôn giáo, miến núi…. về cơ bản đã phù hợp với dân chủ hoá trên lĩnh vực kinh tế, xã hội. Mặc dù, các chính sách đó còn có điểm phải bổ sung, sửa chữa nhưng đã góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo ra những khởi sắc trong đời sống văn hoá xã hội, không khí xã hội cởi mở, dân chủ hơn, giao lưu văn hoá giữa các vùng trong nước được cải thiện.
Thực hiện dân chủ hoá trong các lĩnh vực của đời sống xã hội đã và đang phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của đại đa số tầng lớp nhân dân, với lợi ích của dân tộc và lợi ích của người dân nên đã từng bước quy tụ được sự đồng thuận với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vào nghĩa vụ bảo vệ ổn định đất nước, bảo vệ lợi ích dân tộc. Phát huy được tiềm năng sáng tạo và khơi dậy truyền thống dân tộc tạo nên động lực tinh thần của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các giá trị dân chủ xã hội chủ nghĩa đã từng bước được đưa vào cuộc sống đã trở thành hiện thực trực tiếp và phổ biến trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã thực sự thể hiện mọi quyền lực thuộc về nhân dân.
Ý đồ thâm hiểm của những luận điệu xuyên tạc ở Việt Nam không có dân chủ là hòng gây mất ổn định chính trị, phá hoại thành quả của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, nhân dân ta đã đổ bao xương máu mới giành được; loại bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi đời sống chính trị đất nước; xoá bỏ chính quyền cách mạng, đưa đất nước ta đi theo mô hình tự do dân chủ tư sản; phá hoại niềm tin của nhân dân và của dân tộc đối với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước ta chuyển sang quỹ đạo của nền dân chủ tư sản. Đây là ý đồ cực kỳ hiểm độc mà chúng đã và đang thực hiện để làm sụp đổ, gây nội chiến ở các quốc giá dân tộc mà chúng cho rằng không đi theo mô hình của nền dân chủ tư sản. Những gì xảy ra ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và các nước Trung Đông, Bắc Phi hiện nay là một minh chứng rõ ràng cho mưu đồ thâm hiểm của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ để can thiệp, lật đổ Nhà nước của các quốc gia dân tộc không đi theo gậy chỉ huy của chúng./.
Đại tá, TS Trần Ngọc Tuệ
Nguồn: Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng