Can thiệp HAPPY

Can thiệp HAPPY

Share

Can thiệp trẻ tự kỷ, trẻ chậm phát triển, trẻ tăng động giảm chú ý( ADHD), trẻ có khó khăn về học(LD)

Photos from Can thiệp HAPPY's post 02/04/2024

🌈HƯỞNG ỨNG NGÀY THẾ GIỚI NHẬN THỨC VỀ TỰ KỈ 2/4 🌈

👄👄 7 LỜI ĐỒN VÀ SỰ THẬT VỀ TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 🗣🗣
Nhiều người cho rằng trẻ không được bố mẹ quan tâm sẽ dẫn đến tự kỉ, hay trẻ tự kỉ không có bạn, không có cảm xúc... Điều này có thật sự đúng?
👉👉 Cùng tìm hiểu về những lời đồn thường gặp và sự thật về trẻ rối loạn phổ tự kỉ trong các hình ảnh dưới đây!

***Nội dung khoa học đã được Bác sĩ Phan Thiệu Xuân Giang hiệu đính. Bác sĩ Giang có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực lượng giá chẩn đoán và định hướng can thiệp cho trẻ có rối loạn phổ tự kỉ, là một trong những tác giả biên soạn sách “Hỗ trợ phục hồi chức năng cho trẻ em tự kỉ tại VN” do công ty PNJ đồng khởi xướng cùng Quỹ BTTEVN.

01/04/2024

ÂM & PHÂN BIỆT ÂM TRONG NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT

Trong tiếng Việt có nguyên âm và phụ âm.
Nguyên âm gồm nguyên âm đơn, nguyên âm đôi và nguyên âm ba.

👉Có 12 nguyên âm đơn gồm: a, ă, â, u, ư, o, ô, ơ, e, ê, i, y. Nguyên âm đôi gồm: ai, ao, au, âu, ay, ây, eo, êu, ia, iê, yê, iu, oa, oă, oe, oi, ôi, ơi, oo, ôô, ua, ưa, uâ, ưa, uê, ui, ưi, uo, uô, ươ, ươ, ưu, uy và nguyên âm ba gồm: iêu, yêu, oai, oao, oay, oeo, uao, uây, uôi, ươi, ươu, uya, uyê, uyu. Tất cả các âm chính trong tiếng đều là nguyên âm. Thanh điệu luôn đặt ở trên nguyên âm. Không có nguyên âm thì không tạo thành tiếng.

👉Nguyên âm là những dao động của thanh quản hay những âm mà khi ta phát ra luồn khí từ thanh quản lên môi không bị cản trở. Nguyên âm có thể đứng riêng biệt hoặc đứng sau các phụ âm để tạo thành tiếng khi nói.

Phụ âm thì gồm phụ âm đơn và phụ âm ghép. Các phụ âm đơn gồm: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, x và các phụ âm ghép gồm: ch, gh, gi, kh, nh, ng, ngh, ph, qu, th, tr.

👉Phụ âm là âm được phát ra từ thanh quản qua miệng, nhưng khi âm được phát ra thì luộng khí khi ra bị môi, rang, lười cản trở lại. Phụ âm được phát ra thành tiếng chỉ khi nó được phối hợp với nguyên âm.

👉Âm vô thanh: là những âm khi được phát ra sẽ không làm rung thanh quản. Nó như những tiếng động nhẹ như tiếng xì xì, tiếng bật, tiếng gió, ví dụ: /p/, /s/, /k/, t/, /ch/…

👉Âm hữu thanh: là những âm khi phát âm sẽ làm rung thanh quản, chẳng hạn như /b/, /d/, /g/, /v/, z/…

👉Âm tắc: là loại phụ âm mà trong quá trình phát âm, luồng hơi đi ra bị cản trở hoàn toàn ở vị trí cấu âm do sự tiếp xúc chặt của các cơ quan tham gia cấu âm. Vd. các phụ âm / b /, / p /, / d /, / t /, / k / (chữ viết b, p, đ, t, k) của tiếng Việt đều là những ÂT.

👉Theo phương thức cấu âm, các ÂT còn có thể được phân thành hai tiểu loại: ÂT nổ và ÂT ngậm. Trong tiếng Việt, các phụ âm đầu / p- /, / t- /, / k- / (chữ viết p, t; c, k, q) đều là những ÂT nổ, các phụ âm cuối / -p /, / -t /, / -k / (chữ viết p, t, c, ch) là những ÂT ngậm.

👉Âm tắc thanh quản: là âm được tạo nên do sự cản tắc luồng hơi trong thanh quản khi khe thanh bị khép chặt. Sự khép chặt khe thanh ở giai đoạn đầu của quá trình phát âm các nguyên âm trong nhiều ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt, đã tạo nên ÂTTQ (kí hiệu ? ), vd. [ ?i ], [ ?a ], [ ?ui ], vv. Ở cuối thanh nặng trong các âm tiết không khép của tiếng Việt (vd. “mạ”, “mại”, “mạng”) có ÂTTQ, thường được gọi là hiện tượng tắc họng ngậm. Ở giữa thanh ngã (vd. trong “lã”, “lão”, “lãn”) cũng có ÂTTQ (hoặc mạnh, hoặc nhẹ), còn được gọi là hiện tượng tắc họng nổ. ÂTTQ trong tiếng Việt không được biểu thị bằng chữ viết.

👉Âm tắc xát: là phụ âm được hình thành bằng cách tạo ra một chỗ tắc cản luồng hơi cùng với khe hẹp tiếp sau ở cùng một vị trí cấu âm để hơi xát qua đó mà ra. Các phụ âm tắc xát thường được xem như một sự phối hợp cấu âm của một âm tắc và một âm xát tiếp sau. Trong hệ thống ngữ âm của tiếng Việt, không có ÂTX như ở một số ngôn ngữ khác (tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Hán, vv.).

👉Âm xát: là phụ âm ồn được cấu tạo bằng phương thức cọ xát của luồng hơi đi ra qua khe hẹp do các bộ vị cấu âm tiếp xúc không hoàn toàn (tiếp xúc không chặt). Vd. các âm đầu của âm tiết tiếng Việt trong các từ “vui vẻ”, “phấn khởi”, “xa xôi”, “dịu dàng”, “gặp gỡ”, “khấp khởi”, đều là những phụ âm xát: / v- /, / f- /, / s- /, / z- /, / ɤ- /, / χ- / (chữ viết v, ph, x, d, g, kh).

👉Âm tiết mở: là âm tiết của tiếng Việt được kết thúc bằng chính nguyên âm tạo đỉnh. Xét về mặt sinh lí – cấu âm, các nguyên âm tạo đỉnh ở cuối âm tiết, luồng hơi trong ÂTM đi ra một cách tự do, không bị cản trở ở khoang miệng, vd. “y sĩ”, “hoa”, “mía”, vv.

👉Âm tiết khép: là âm tiết của tiếng Việt được kết thúc bằng các phụ âm tắc vô thanh, như / -p /, / -t /, / -k /. Xét về mặt sinh lí – cấu âm, các âm cuối này kết thúc âm tiết bằng phương thức tắc ngậm (không bật ra), được gọi là phương thức khép, vd. “hấp tấp”, “tất bật”, “mộc mạc”, “tách bạch”, vv. Nhiều ngôn ngữ dân tộc ít người ở Việt Nam cũng có loại hình ÂTK.

👉Âm tiết nửa khép: là tiết của tiếng Việt được kết thúc bằng một phụ âm vang mũi, như /- m/, / -n /, / -η /. Xét về mặt sinh lí – cấu âm, các âm cuối này kết thúc âm tiết bằng phương thức cản tắc ở khoang miệng, trong khi luồng hơi phát âm ÂTNK lại đi qua khoang mũi do ngạc mềm hạ xuống, vd. “Miền Nam”, “khang trang”, “hành chính”, vv.

👉Âm tiết nửa mở: là âm tiết của tiếng Việt được kết thúc bằng một bán nguyên âm: / -w / và / -j / (x. Bán nguyên âm). Xét về mặt sinh lí – cấu âm cũng như đặc tính âm học, âm cuối / -w / và / -j / có những đặc trưng giống nguyên âm / u / và / i /, nhưng được phát âm lướt, không mở đầy đủ như / u / và / i /. Phương thức kết thúc âm tiết bằng bán nguyên âm được gọi là phương thức nửa mở, vd “yêu kiều”, “sao chổi”, “trái lại”.

👉Âm tiết tính: là những âm:

Có tính chất của âm tiết khi nói về thành phần âm tiết, trọng âm âm tiết, văn tự âm tiết.
Có tư cách yếu tố cấu tạo âm tiết, xét về cấu trúc âm của âm tiết, tức là yếu tố được phát âm có âm hưởng vang (mạnh) với năng lượng lớn hơn (luồng hơi đi ra tự do) và xuất hiện với tư cách đỉnh của âm tiết. Yếu tố cấu tạo âm tiết hay yếu tố ÂTT của âm tiết tiếng Việt là nguyên âm (x. Âm chính). Vd. trong từ “ngôn ngữ” nguyên âm / o / (chữ viết ô) và nguyên âm / ɯ / (chữ viết ư) là yếu tố ÂTT. Ngoài ra, ở một số ngôn ngữ, yếu tố ÂTT có thể là phụ âm vang, vd. tiếng Anh: table (cái bàn), little (nhỏ bé), vv.
Ngôn ngữ có cấu trúc ÂTT là ngôn ngữ trong đó âm tiết làm đại lượng cơ bản để hình thành nên các đơn vị ngôn ngữ ở cấp độ hình thái học (hình vị, từ…) như tiếng Việt, tiếng Thái, tiếng Hán, vv.
👉Âm tiết vị: là âm tiết với tư cách là đơn vị âm vị học. Ở các ngôn ngữ có cấu trúc âm tiết tính (tiếng Việt, tiếng Hán, vv.), ranh giới âm tiết hầu như bao giờ cũng trùng hợp với ranh giới hình vị, do đó có quan niệm cho rằng âm tiết có tư cách là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất cấu tạo nên tín hiệu ngôn ngữ trong các ngôn ngữ đó, phần nào giống như âm vị trong các ngôn ngữ biến hình.

👉Âm tròn môi: là nguyên âm được hình thành cùng với sự chúm tròn của hai môi. Vd. trong tiếng Việt, các nguyên âm dòng sau / u /, / o /, / Ɔ / (chữ viết u, ô, o) đều là những ÂTM. Ở một số ngôn ngữ khác, các nguyên âm dòng trước cũng có thể là những ÂTM.

St:Speech Therapy vn

16/01/2024

RỐI LOẠN XỬ LÝ CẢM GIÁC
(SENSORY PROCESSING DISORDERS -SPD)chia sẻ của CV. ANTL Lê Thị Thanh Xuân và chia sẻ của BS. Nguyễn Hoàng Oanh.
Bạn có bao giờ tự hỏi vì sao trẻ tự kỷ có sở thích cảm giác khác thường sau đây:
- Đi lang thang không mục đích, chạy tới chạy lui, chạy như ai đuổi khi vào siêu thị, công viên, nhảy trên nệm, sàn nhún, quay tròn, đong đưa, lên xuống cầu thang, thang máy, thang cuốn, leo trèo; thích ngồi trên xe ô tô, thích chơi các trò chơi cảm giác mạnh như tung lên cao, đưa lên đưa xuống, xích đu, cầu tuột, đu quay, leo núi, trồng chuối, chúi đầu… Hai chân và hai tay không kiểm soát khi ngồi yên. Ngược lại, có những trẻ chỉ ngồi hoặc nằm trên sàn nhà, không muốn đi một mình, chỉ đi men tường hoặc dắt đi hoặc tự lết, đi nhón gót…
- Sờ chạm cầm đồ vật, quăng, ném, đập, gõ, chà…vò tóc, xé giấy, cầm kéo cắt, nhồi bột/ đất sét, thích ôm chặt, mặc quần áo bó sát, chui vào trong các góc chật hẹp, chơi trò chơi quấn mền; thích vỗ tay, ít biết đau khi bị té ngã hoặc va chạm đồ vật; bốc đồ cho vào miệng, nghiến răng, gõ răng, massage, thích sờ cát, chơi dưới nước…Ngược lại, có những trẻ né tránh không mặc quần áo chật hoặc các chất liệu cứng, không thích ai sờ hoặc ôm trẻ, sợ các vật nhớt dính, sợ cắt móng tay, cắt tóc, gội đầu ...
- Nhìn các vật có ánh sáng lấp lánh như đèn trang trí nhấp nháy, kim tuyến hoặc các vật có chuyển động nhanh và quay tròn như quạt trần, quay bánh xe, các hình ảnh động trong TV, IPAD, smartphone…, đóng mở cửa, bật tắt công tắc điện (đèn, quạt), lật các trang sách liên tục, vẫy/ búng tay trước mặt, xếp hàng đồ chơi/ đồ vật theo hàng dài hoặc chồng lên cao. Hay nghiêng đầu để nhìn đồ vật hay người khác. Ngược lại, có những trẻ sợ ánh sáng, tránh giao tiếp mắt…
- Tạo âm thanh đưa lên tai để nghe, vd: đưa các tờ giấy vò vò tạo ra tiếng sột soạt, lắng nghe các âm thanh phát ra từ các con vật có gắn kènt, thích âm nhạc. Không phản ứng khi được gọi tên, thờ ơ với tiếng nói của người khác.Ngược lại, có thể sợ tiếng máy xay sinh tố, tiếng khoa tường, âm thanh lớn, chuông chùa/nhà thờ, còi xe cấp cứu…
- Ăn xà bông, gạo, vữa trát tường, các loại thức ăn chiên giòn, cứng, thức ăn có vị đậm đà, lạnh, cay, ngọt… hoặc không thích thức ăn nhão, mềm.
- Ngửi các đồ vật, đồ chơi, thức ăn, tóc của người khác…
Đó là các dấu hiệu của trẻ bị RỐI LOẠN XỬ LÝ CÁC CẢM GIÁC (Sensory Processing Disoders- SPD) do tổn thương/ khiếm khuyết các vùng cảm giác ở não bộ mà chưa tìm ra nguyên nhân qua các bằng chứng cận lâm sàng. Hầu hết các trẻ tự kỷ đều có rối loạn xử lý cảm giác từ mức độ từ nhẹ đến nghiêm trọng.
🍀 Vậy, rối loạn xử lý cảm giác (SPD) là gì?
Là các rối loạn phức tạp của não bộ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em và người lớn. Là cách hệ thần kinh nhận thông tin từ môi trường hay từ một cá thể có các giác quan bị xáo trộn. Các thông tin cảm giác thu nhận không được não bộ phát hiện, tổ chức, sắp xếp và đáp ứng phù hợp, thể hiện bằng các kiểu vận động và hành vi mà chúng ta quan sát được như đã kể trên.
Trẻ có thể chỉ có rối loạn xử lý cảm giác (SPD) đơn thuần hoặc kèm theo các rối loạn khác như ADHD, tự kỷ, rối loạn lo âu ...Tỉ lệ trẻ có rối loạn xử lý cảm giác (SPD) cao ở các trẻ mắc ADHD và tự kỷ.
Các nghiên cứu cho thấy có nhiều dấu hiệu khác biệt về sinh lý của trẻ rối loạn xử lý cảm giác (SPD) và trẻ phát triển bình thường; hoặc trẻ rối loạn xử lý cảm giác (SPD) và trẻ ADHD.
🍀 Nguyên nhân nào dẫn đến rối loạn xử lý cảm giác (SPD)?
Chưa rõ nguyên nhân.
Di truyền có thể là một nguyên nhân.
🍀 Có mấy loại rối loạn xử lý cảm giác (SPD)?
+ Rối loạn điều chỉnh cảm giác (SMD)
- Khó khăn khi chuyển thông tin cảm giác thành các hành vi có kiểm soát phù hợp với tự nhiên và cường độ của thông tin cảm giác.
+ Rối loạn vận động cảm giác (SDMD)
- Khó khăn về thăng bằng, vận động hoặc lập kế hoạch chuỗi vận động để đáp ứng các nhu cầu cảm giác.
+ Rối loạn phân biệt cảm giác (SDD)
- Khó khăn về phân biệt các loại cảm giác giống hay khác nhau.
🍀 Các đặc điểm thường gặp của rối loạn xử lý cảm giác (SPD) là gì?
- Khó khăn kiểm soát cảm xúc và hành vi. Dễ bùng nổ, thất vọng hoặc khó nhường nhịn người khác.
- Dễ mất tập trung chú ý, hay xao nhãng. Trí nhớ kém.
- Khó làm theo các hướng dẫn ở nhà và ở trường.
- Khó khăn khi lập kế hoạch, tổ chức và thực hiện kế hoạch.
- Thích chơi một mình, khó khăn khi kết bạn, tham gia chơi cùng bạn và duy trì cuộc chơi. Cách chơi ở mức độ thấp.
- Chậm về giao tiếp và ngôn ngữ, khó tham gia giao tiếp hai chiều.
- Khó khăn khi dùng ngôn ngữ để thể hiện ý tưởng, suy nghĩ, và cảm xúc.
- Rất khó khăn trong các hoạt động tự chăm sóc bản thân (tự ăn, tự vệ sinh cá nhân, thay quần áo, mang giày…)
- Khó chấp nhận sự thay đổi trong sinh hoạt hàng ngày hoặc chuyển tiếp giữa hai nhiệm vụ.
- Khó khăn vận động tinh và thô: kỹ năng vận động kém, vụng về, khó phối hợp tay mắt; thăng bằng kém, kỹ năng viết yếu. Né tránh các vận động với các thiết bị như xích đu cầu tuột. Nhanh mệt, và khó ngồi lâu.
- Khó kiểm soát vận động đúng tầm; cử động quá nhanh quá mạnh. Thích vận động mạnh, cường độ cao. Khi viết chữ đè mạnh tay, chữ đậm, to nhỏ không đều nhau.
- Khó ngủ.
- Ăn uống không đa dạng, kén ăn.
...
🍀 Trẻ rối loạn xử lý cảm giác (SPD) gặp khó khăn gì trong cuộc sống hằng ngày?
Trẻ bị rối loạn xử lý cảm giác (SPD) gặp khó khăn khó khăn khi xử lý các thông tin cảm giác từ môi trường xung quanh hoặc từ chính cơ thể trẻ. Trẻ thu nhận thông tin cảm giác nhiều hơn hay ít hơn so với người khác. Tình trạng đó ảnh hưởng đến khả năng tương tác của trẻ trong các môi trường khác nhau, khả năng thực hiện các hoạt động hằng ngày và học tập của trẻ.
Ở trẻ có hệ thống xử lý cảm giác bình thường, não bộ được xem như người điều khiển giao thông. Các thông tin cảm giác từ tất cả các giác quan được thu nhận và dẫn truyền đến não bộ. Tại đây, các thông tin cảm giác được phân tích, xử lý và gửi các tín hiệu đáp ứng phù hợp đến các bộ phận cần thiết theo trật tự và chính xác, và các bộ phận thực hiện các tín hiệu nhận từ não bộ.
Ví dụ: khi chơi ném bóng, mắt trẻ nhìn thấy quả bóng đang bay gần trẻ (thị giác thu nhận thông tin cảm giác), trẻ đoán hướng quả bóng bay đến và vị trí quả bóng sẽ rơi xuống (thông tin cảm giác được truyền đến não bộ và phân tích), trẻ quyết định đưa tay ra chụp quả bóng (thông tin cảm giác được xử lý và gửi tín hiệu đáp ứng phù hợp đến hai tay), sau đó trẻ sẽ thực hiện hành động chụp quả bóng (bộ phận thực hiện các tín hiệu nhận từ não bộ)
Đối với trẻ trẻ rối loạn xử lý cảm giác (SPD), các thông tin cảm giác từ tất cả các giác quan được thu nhận và cũng dẫn truyền đến não bộ. Nhưng các thông tin cảm giác không được phân tích, xử lý và không gửi các tín hiệu đáp ứng phù hợp đến các bộ phận cần thiết theo trật tự và chính xác. Do đó các bộ phận không hoặc thực hiện không phù hợp các tín hiệu nhận từ não bộ.
Ví dụ: khi chơi ném bóng, mắt trẻ có thể nhìn thấy quả bóng đang bay gần trẻ (thị giác thu nhận thông tin cảm giác), nhưng trẻ không đoán hướng quả bóng bay đến và vị trí quả bóng sẽ rơi xuống (thông tin cảm giác được truyền đến não bộ và não gặp khó khăn khi phân tích), trẻ không quyết định sẽ làm gì với quả bóng (thông tin cảm giác không được xử lý và không gửi tín hiệu đáp ứng phù hợp đến hai tay), do đó trẻ không thực hiện hành động chụp quả bóng (bộ phận thực hiện các tín hiệu nhận từ não bộ không đáp ứng)
🍀 Nếu không can thiệp, trẻ rối loạn xử lý cảm giác (SPD) gặp những khó khăn gì?
- Các hoạt động rập khuôn hàng ngày khó phá bỏ.
- Khó khăn thực hiện các kỹ năng tự chăm sóc và phục vụ bản thân.
- Khó kiểm soát cảm xúc và hành vi
- Khó khăn khi giao tiếp xã hội: giao tiếp mắt, giữ khoảng cách và biết luân phiên khi trò chuyện.
- Khó ngủ hoặc rối loạn giấc ngủ nên ảnh hưởng sự phát triển của trẻ. Mệt mỏi và căng thẳng có thể dẫn đến học tập khó khăn.
- Dễ mất tự tin do các kỹ năng của trẻ không theo kịp các bạn học.
- Bị bắt nạt khi người khác biết các khó khăn của trẻ.
- Khó khăn học tập: chẳng hạn phát triển kỹ năng đọc, viết, sao chép trong lớp học.
- Khó hoàn thành các bài học ở trường và chú ý nghe giảng, mất tập trung chú ý.
- Khó khăn trong đọc- hiểu các tình huống xã hội.
- Khó làm theo hướng dẫn ở trường, ở nhà hoặc các môi trường khác.
- Khó học cả ngày ở trường do sức mạnh và sức bền của cơ kém và quá tải các thông tin cảm giác.
- Khó khăn làm bài kiểm tra và thi
🍀Ai là người đánh giá và can thiệp trẻ rối loạn xử lý cảm giác (SPD) hiệu quả nhất?
Hoạt động trị liệu là phương pháp can thiệp hiệu quả các triệu chứng rối loạn xử lý cảm giác (SPD) và hướng trẻ thực thiện các hoạt động chức năng.
Các chuyên viên hoạt động trị liệu (occupational therapists) được đào tạo chuyên sâu về rối loạn xử lý cảm giác sẽ đánh giá và can thiệp trẻ rối loạn xử lý cảm giác (SPD). Vì Việt Nam chưa có những chuyên viên hoạt động trị liệu chuyên về rối loạn xử lý cảm giác nên phụ huynh, giáo viên và các nhà chuyên môn gặp rất nhiều khó khăn khi làm việc với trẻ. Trước đây, chúng ta phải tự học, tự tìm tòi và điều đó lấy đi rất nhiều năng lượng và thời gian của chúng ta với phương pháp học thử và sai. Đôi khi chúng ta bất lực vì khả năng chúng ta có hạn.
Hiện nay, còn gì tuyệt vời hơn khi đã có hiếm hoi vài CHUYÊN VIÊN HOẠT ĐỘNG TRỊ LIỆU hỗ trợ phụ huynh, giáo viên và các nhà chuyên môn khác thông qua các khóa học RỐI LOẠN XỬ LÝ CẢM GIÁC để giúp chúng ta về cách can thiệp cho trẻ.
🍀 Các chiến lược hoạt động trị liệu hỗ trợ trẻ rối loạn xử lý cảm giác (SPD) gồm những gì?
Chế độ cảm giác: cung cấp các dụng cụ/ thiết bị để điều hòa cảm giác cho trẻ.
Kỹ năng vận động thô- vận động tinh: phát triển sức mạnh và điều hợp để giúp trẻ tham gia các hoạt động đa dạng trong tương tác xã hội.
Chương trình Wilbarger Protocol (kỹ thuật cảm thụ bản thể áp lực sâu):
(Các chiến lược trên sẽ được học trong khóa rối loạn xử lý cảm giác và vận động tinh, vận động thô)
P/S,: Thế giới giác quan của trẻ tự kỷ rất khác biệt so với trẻ bình thường do rối loạn xử lý cảm giác. Khi bạn tham gia khóa học, bạn sẽ hiểu vì sao trẻ khó khăn khi học, hiểu ngôn ngữ, khó khăn giao tiếp và kiểm soát hành vi.
Bài viết của CB ANTL- VLTL Le Thi Thanh Xuan
Em xin phép copy nội dung để các thầy cô cha mẹ cùng tham khảo và suy ngẫm. Càng có cơ hộii làm việc cùng cô Salie thì em nó lại càng thấy mảng SPD thú vị và đáng kinh ngạc.
Em cảm ơn thật sự người cô giáo người chị Nguyễn Hoàng Oanh đã khai sáng và có những cú huých lớn về giá trị kiến tạo sự cộng tác đa ngành trong hỗ trợ trẻ. Trong công việc đòi hỏi chuyên môn không chỉ sâu mà còn rộng đủ để mình cần biết mình là ai và luôn luôn đi sát cánh với những nhà chuyên môn khác trong khi làm việc cùng trẻ ❤️
-st-

Photos from Can thiệp HAPPY's post 15/01/2024

👋👋Dấu hiệu ADHD ở bé trai và bé gái 👋👋
👋Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, bé trai mắc chứng ADHD được chuẩn đoán có nguy cơ cao hơn gấp 3 lần so với bé gái. Dấu hiệu của các bé trai biểu hiện ra bên ngoài rõ ràng hơn các bé gái (hiếu động thái quá, hung hăng về thể chất) nhưng các bé gái thường biểu hiện ở bên trong (lòng tự trọng, lời nói).
👋Chẩn đoán kịp thời là rất quan trọng mặc dù trẻ em trai và gái có thể biểu hiện các triệu chứng ADHD khác nhau vì ADHD ảnh hưởng đến chất lượng sống ở trường, lớp, gia đình và các mối quan hệ đồng thời nó cũng ảnh hưởng đến khả năng phát triển của trẻ (sự lo lắng, phiền muộn, khó khăn trong học tập).
📍 nguồn can thiệp sớm hùng vương hà nội

Photos from Can thiệp HAPPY's post 07/10/2023

CHA MẸ PHÁT HIỆN SỚM TỰ KỈ, TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý, CHẬM NÓI TẠI NHÀ BẰNG CÁCH:
👉 Theo dõi chặt chẽ các mốc phát triển của trẻ theo từng giai đoạn
👉 Đưa trẻ đến đánh giá tại các cơ sở y tế uy tín nếu có nhiều biểu hiện bất thường

CẢNH BÁO VỀ CÁC MỐC PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ
🌱 Sự lớn lên của trẻ em không chỉ liên quan đến chiều cao, cân nặng, thể chất mà còn bao gồm cả sự phát triển về tâm thần - vận động. Một trẻ được đánh giá là phát triển bình thường khi đạt được những dấu mốc phát triển về thể chất, tâm vận động mong đợi ứng với lứa tuổi.

🍒 Mục tiêu của chăm sóc sức khỏe nhi khoa toàn diện là chúng ta cần nắm bắt, theo dõi được các mốc phát triển về thể chất, tâm thần, vận động của trẻ. Hơn ai hết, bố mẹ, người chăm sóc chính là người cần nắm rõ và hiểu rõ về những cột mốc phát triển của con mình. Khi đã nắm rõ và theo dõi được những cột mốc phát triển ấy, chúng ta có thể phát hiện sớm những rối loạn, những bất thường trong quá trình phát triển của trẻ: chậm phát triển ngôn ngữ, chậm phát triển trí tuệ, rối loạn phổ tự kỷ, tăng động giảm chú ý,... hay những rối loạn phát triển khác.

🪄 Từ đó, ba mẹ và con sẽ tìm kiếm và nhận được những sự giúp đỡ, chẩn đoán, điều trị về đa chiều: dinh dưỡng, y khoa, giáo dục, tâm lý kịp thời, tạo cơ hội tối ưu cho đứa trẻ phát triển và hòa nhập cộng đồng.

MỘT SỐ KHÁI NIỆM CẦN LƯU Ý

Đánh giá sự phát triển tâm thần vận động trên một đứa trẻ cần đảm bảo đủ 4 yếu tố:

- Vận động thô: là hoạt động sử dụng các khối cơ lớn ở tay, chân, bàn chân, thân mình như: đi, đứng, chạy, ngồi, thay đổi tư thế, giữ thăng bằng,...
- Vận động tinh: là các động tác sử dụng các nhóm cơ nhỏ như: ngón tay, cổ tay, ngón chân, môi, lưỡi, và khéo léo kết hợp các động tác như nắm, giữ, cầm nắm đồ vật…
- Ngôn ngữ: là khả năng trẻ hiểu và sử dụng lời nói (ngôn ngữ có lời) và điệu bộ, cử chỉ, hành động (ngôn ngữ không lời)
- Cá nhân xã hội: là kỹ năng trẻ tự phục vụ, tạo dựng mối quan hệ với người chăm sóc, tương tác với mọi người, đáp ứng cảm xúc và kiểm soát bản thân.

🔥 Dưới đây là các cảnh báo về dấu mốc phát triển của trẻ qua từng giai đoạn ba mẹ nên nắm rõ. Cha mẹ xem kỹ nội dung trong từng ảnh nhé!

06/09/2023

NHỮNG DẤU HIỆU BÁO ĐỘNG CẦN GIỚI THIỆU TRẺ KHÁM NGÔN NGỮ TRỊ LIỆU.
💥 6 - 12 tháng tuổi
👉 Không biết bắt chước một vài tiếng kêu của con vật quen thuộc
👉 Không biết bập bẹ: baba, mama, dada
👉 Có tiền căn nhiễm trùng tai
👉 Không có kỹ năng cùng chú ý
👉 Không biết bắt chước các hành động: bye, ạ hay hết rồi
👉 Không giao tiếp mắt
💥 12 - 18 tháng tuổi
👉 Khó khăn trong việc ăn uống
👉 Không đáp ứng khi được gọi tên của mình
👉 Có tiền căn nhiễm trùng tai
👉 Rất ít khóc, thường được cho rằng trẻ rất ngoan
👉 Không có hoặc kém kỹ năng cùng chú ý
👉 Không nói được từ đơn, từ đôi
💥 12 - 18 tháng tuổi
👉 Không biết chỉ bằng ngón trỏ
👉 Không thực hiện được yêu cầu đơn giãn 1 bước
👉 Không có hoặc có rất ít vốn từ vựng (dưới 10 từ)
👉 Kỹ năng tương tác xã hội kém
👉 Không có kỹ năng chọn lựa
👉 Kỹ năng chơi đùa kém
💥 18 - 24 tháng tuổi
👉 Kỹ năng tương tác xã hội kém
👉 Không có kỹ năng chọn lựa
👉 Kỹ năng chơi đùa kém
👉 Vốn từ vựng ít (dưới 250 từ)
👉Không thực hiện được yêu cầu 1 – 2 bước
💥 18 - 24 tháng tuổi
👉 Không nói được từ đơn, từ đôi hoặc câu 3 từ
👉 Không đáp ứng khi được gọi tên của mình
👉 Có tiền căn nhiễm trùng tai
👉 Rất ít khóc, thường được cho rằng trẻ ngoan
👉 Không biết đặt câu hỏi hoặc không biết đưa ra yêu cầu
👉 Không biết trả lời câu hỏi có/không?
💥 24 - 36 tháng tuổi
👉 Không nói được cụm từ hoặc câu 2-3 từ trở lên
👉 Không đáp ứng khi được gọi tên của mình
👉 Rất ít khóc, thường được cho rằng trẻ ngoan
👉 Không thực hiện được yêu cầu 2-3 bước
👉 Không biết chơi luân phiên
👉 Vốn từ vựng hạn chế (dưới 500 từ)
💥 24 - 36 tháng tuổi
👉 Tính dễ hiểu của lời nói dưới 50 % đối với cha mẹ
👉 Kỹ năng tương tác xã hội kém
👉 Không có kỹ năng chọn lựa
👉 Kỹ năng chơi đùa kém
👉 Không biết trả lời câu hỏi có/không/cái gì?
👉 Không biết đặt câu hỏi hoặc không biết đưa ra yêu cầu
👉 Không hiểu khái niệm của từ: lớn/nhỏ…
👉 Hay lặp lại câu nói của người khác
💥36 – 48 tháng tuổi
👉 Không nói được câu 4-5 từ trở lên
👉 Không đáp ứng khi được gọi tên của mình
👉 Rất ít khóc, thường được cho rằng trẻ ngoan
👉 Không thực hiện được yêu cầu 3 bước
👉 Không biết chơi luân phiên
👉 Vốn từ vựng hạn chế (dưới 900 từ)
👉 Hay lặp lại câu nói của người khác
💥 36 – 48 tháng tuổi
👉 Tính dễ hiểu của lời nói dưới 75% đối với cha mẹ
👉 Kỹ năng tương tác xã hội kém
👉 Không có kỹ năng chọn lựa
👉 Kỹ năng chơi đùa kém
👉 Không biết trả lời câu hỏi cái gì /như thế nào?
👉 Không biết đặt câu hỏi hoặc không biết đưa ra yêu cầu
👉 Không hiểu khái niệm của từ: cao/thấp, dài/ngắn…
💥 Trẻ trên 4 tuổi
👉 Tính dễ hiểu của lời nói dưới 75% đối với người lạ
👉 Không nói được câu dài 7-8 từ trở lên
👉 Không kể được câu chuyện 4-5 chi tiết
👉 Không khả năng trả lời câu hỏi như thế nào, tại sao…?
👉 Hạn chế vốn từ vựng (dưới 1000 từ)
👉 Hạn chế đặt câu hỏi
👉 Khó khăn khi đưa ra yêu cầu cần giúp đỡ
👉 Không thực hiện nhiều các yêu cầu cùng lúc
👉 Hay lặp lại câu nói của người khác
St

20/06/2023

🌿 CÁC LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ 🌿

👶 Một số cha mẹ thường ưu tiên dạy con nói, dạy con nhận thức để có thể đi học mà chưa biết rằng tất cả các lĩnh vực phát triển như giao tiếp, vận động thô, vận động tinh,...đều liên quan và hỗ trợ cho nhau. Đặc biệt, với trẻ có rối loạn phát triển, sự phát triển ở các lĩnh vực thường không đồng đều nên khó khăn ở lĩnh vực này có thể làm cản trở sự phát triển của lĩnh vực khác. Do đó, cha mẹ nên tạo môi trường để trẻ phát triển toàn diện tất cả các lĩnh vực nhưng chú ý cần tập trung vào những lĩnh vực trẻ đang gặp khó khăn để hỗ trợ con tốt hơn.

🎯 Chăm sóc, hỗ trợ để con phát triển tốt không hề dễ dàng. Cha mẹ cần tìm hiểu rõ về sự phát triển của con trong từng lĩnh vực cụ thể. Từ đó, chúng ta mới có thể xây dựng được những hoạt động hỗ trợ phù hợp cho con.

Nguon A365

19/06/2023

Con GIAO TIẾP trước khi NÓI.
Nguồn: cô Nguyễn Thị Nha Trang
—————
Nhưng có vẻ nhiều nhà trị liệu và phụ huynh của chúng ta đặt mục tiêu vào việc dạy trẻ NÓI và chưa hiểu rõ vai trò của việc dạy trẻ giao tiếp, nhất là trường hợp một đứa nhỏ rất rất khó để tạo ra lời nói trong tương lai gần, họ vẫn nhất quyết phải dạy chúng bắt chước lời nói. Bên cạnh đó, nhiều người không phân biệt được ngôn ngữ và giao tiếp nên khi đặt mục tiêu cho trẻ, họ không viết được rõ đâu là mục tiêu giao tiếp, đâu là mục tiêu ngôn ngữ.
Chúng ta hãy tưởng tượng một đứa nhỏ mới sinh ra cho đến giai đoạn trước 12 tháng tuổi, làm thế nào mà con có thể gửi thông điệp về những điều con muốn, con thích, con không thích, con khó chịu, con vui mừng đến người khác mà không cần lời nói?

Chúng ta cũng hãy nghĩ xem, một người câm hoặc khiếm thính, khi năng lực sử dụng lời nói bị mất đi, họ giao tiếp bằng phương tiện gì mà người khác vẫn hiểu họ nhỉ? Câu trả lời có một điểm chung là, họ sử dụng các công cụ/phương tiện giao tiếp khác nhau chứ không phải lời nói. Với trẻ nhỏ, phương tiện giao tiếp của chúng là những âm thanh, cử chỉ, ngôn ngữ cơ thể. Với người khiếm thính, họ có một hệ thống phương tiện giao tiếp-ngôn ngữ ký hiệu. Đó là những hệ thống giúp giao tiếp hiệu quả mà không cần phải nói.

Chúng ta tiếp tục nhìn vào bảng “Người ta cần gì để giao tiếp”, có 4 yếu tố 1) Đối tượng giao tiếp (giao tiếp cần có 2 người)-hiểu một cách ngắn gọn là: bạn cần phải có đối tác giao tiếp. Khi bạn không có đối tác, thì sẽ không có người truyền thông tin, người nhận thông tin, lúc này việc giao nhận thông điệp không xảy ra. Khi một đứa nhỏ nhìn chằm chằm vào đồ vật nó thích, nhưng không thể nhờ giúp đỡ, cũng không hiểu nếu nó làm thế thì bố mẹ sẽ giúp nó, cũng không hướng ánh mắt của mình vào người lớn rồi quay ra nhìn đồ vật thể hiện mong muốn được giúp đỡ. Đứa trẻ này đang ở cấp độ giao tiếp tiền chủ ý và chưa hướng thông điệp của mình về đối tác giao tiếp. Yếu tố số 2) Lý do giao tiếp-được hiểu là vì sao người đó giao tiếp? Họ muốn một thứ gì đó, muốn chào hỏi, hay muốn từ chối một việc gì đó?. Yếu tố số 3) Động lực giao tiếp-ý nói họ có bị thôi thúc, có động lực mạnh mẽ để giao tiếp ngay hay không, hay có thể trì hoãn việc này lại. Yếu tố số 4) Phương thức giao tiếp-được hiểu rằng, họ sẽ giao tiếp bằng cách nào: lời nói, phi lời nói, hay các công cụ giao tiếp tăng cường và thay thế AAC. Hãy nhìn đến yếu tố số 4. Lời Nói xuất hiện ở đây với vai trò là Phương tiện giao tiếp. Và lời nói chỉ là một loại phương tiện giao tiếp. Người ta có thể giao tiếp bằng những phương tiện khác. Giống như trẻ nhỏ và người khiếm thính, họ sử dụng các phương tiện giao tiếp không phải là lời nói.

Hãy tiếp tục nhìn vào bảng phổ rộng của Giao tiếp. Trong khi giao tiếp là một phổ lớn bao trùm nhiều yếu tố, thì lời nói là một phần nhỏ thuộc giao tiếp. Vậy nếu như phần nhỏ này bị mất đi hoặc gặp hạn chế. Thì người ta vẫn có thể giao tiếp phải không nhỉ.

Do vậy, việc cực kỳ quan trọng trong can thiệp cho các bé không phải nhảy ngay vào lên các mục tiêu về dạy trẻ nói mà là đánh giá sự phát triển của các giai đoạn giao tiếp, các chức năng giao tiếp xuất hiện tại mỗi giai đoạn, và xác định xem trẻ đã sẵn sàng để bắt chước từ, bắt chước âm, hay nhiều người Việt nam của chúng ta hay gọi là bật âm. Đến đây, chúng ta nhận ra một lỗ hổng cực kỳ lớn trong can thiệp và trị liệu cho những trẻ tự kỷ chưa có lời nói, có những rối loạn giác quan và ở tầng giao tiếp tiền chủ ý (chưa có chủ ý). Đó là các mục tiêu về ngôn ngữ có vẻ cao hơn so với năng lực của trẻ, trẻ được dạy về lời nói trước khi trẻ sẵn sàng, và trẻ bị ép bắt chước lời nói, hay họ lờ đi các phương tiện giao tiếp khác và giảm đi năng lực giao tiếp thực thụ của trẻ. Đây là lý do việc học ngôn ngữ của trẻ chậm hơn, có những trẻ nhóm này học rất lâu vẫn chưa có tiến triển do mục tiêu can thiệp không sát với sự phát triển của trẻ. “Một điều không thể thiếu trong giai đoạn giao tiếp tiền chủ ý là vai trò của cha mẹ. Họ cần được đào tạo để nhận ra các dấu hiệu giao tiếp, các mục đích giao tiếp của con, từ đó giúp con kết nối những điều con muốn với đối tượng giao tiếp, hiểu được ý nghĩa của việc giao tiếp cần phải có 2 người.”

Tỉ lệ trẻ tự kỷ không có lời nói hoặc sử dụng rất ít lời nói lên đến 30% dẫn đến một tỉ lệ lớn trẻ tự kỷ vẫn bị ép phải nói trong khi khả năng tự tạo ra lời nói còn rất chậm. Vậy đứa trẻ phải chờ đợi bao lâu nữa để người khác hiểu mình? bao lâu nữa những suy nghĩ bên trong của trẻ mới được bày tỏ ra với thế giới?

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Website

Address

Sài Sơn, Quốc Oai
Hanoi