22/09/2024
6.2. Khó khăn của làng nghề:
Môi trường và chi phí sản xuất cao:
Nghề gốm truyền thống phụ thuộc nhiều vào các lò nung, tiêu thụ lượng lớn nhiên liệu như than, củi hoặc điện, gây ô nhiễm môi trường và tăng chi phí sản xuất. Việc đầu tư vào công nghệ nung mới thân thiện với môi trường đòi hỏi nguồn vốn lớn, trong khi nhiều cơ sở sản xuất nhỏ chưa đủ khả năng tài chính để thay đổi.
Sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng:
Thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng thay đổi nhanh chóng, đặc biệt với sự ảnh hưởng của xu hướng hiện đại hóa. Sản phẩm gốm truyền thống đôi khi không còn phù hợp với thị hiếu mới, đòi hỏi các nghệ nhân phải sáng tạo, đổi mới mẫu mã để đáp ứng nhu cầu. Tuy nhiên, việc giữ được bản sắc truyền thống trong khi cập nhật theo xu hướng hiện đại là một thách thức lớn.
Thiếu nhân lực kế thừa:
Nghề làm gốm đòi hỏi sự kiên trì, khéo léo và thời gian dài để học nghề, nhưng ngày nay, nhiều thanh niên trẻ không muốn nối nghiệp cha ông vì áp lực công việc và mức thu nhập không ổn định. Điều này dẫn đến nguy cơ thiếu hụt nhân lực kế thừa và giữ gìn các giá trị truyền thống.
Tóm lại, làng gốm Bát Tràng phải đối mặt với nhiều thách thức từ việc cạnh tranh, thiếu hụt nguyên liệu, biến đổi công nghệ, ô nhiễm môi trường, cho đến việc bảo tồn và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, sự đổi mới và cải tiến từ chính các nghệ nhân và doanh nghiệp có thể giúp làng nghề vượt qua khó khăn và tiếp tục phát triển.
22/09/2024
6.1. Khó khăn của làng nghề:
Mặc dù làng gốm Bát Tràng nổi tiếng với lịch sử phát triển lâu đời và sản phẩm chất lượng cao, nhưng nghề làm gốm tại đây cũng đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong quá trình phát triển hiện đại:
Cạnh tranh thị trường:
Làng gốm Bát Tràng không chỉ cạnh tranh với các làng nghề gốm khác trong nước, mà còn phải đối đầu với các sản phẩm gốm sứ giá rẻ từ Trung Quốc và các nước khác. Điều này gây áp lực lớn về giá cả và chất lượng, đặc biệt khi người tiêu dùng ngày càng tìm kiếm các sản phẩm đa dạng với chi phí thấp.
Nguồn nguyên liệu khan hiếm:
Trước đây, làng Bát Tràng có nguồn đất sét trắng tự nhiên dồi dào để làm gốm. Tuy nhiên, theo thời gian, nguồn nguyên liệu chất lượng này ngày càng khan hiếm, buộc nhiều hộ sản xuất phải nhập đất từ các nơi khác, làm tăng chi phí và khó khăn trong việc duy trì chất lượng sản phẩm.
Biến đổi công nghệ và sản xuất thủ công:
Nghề làm gốm truyền thống ở Bát Tràng dựa nhiều vào lao động thủ công và kỹ năng của các nghệ nhân. Tuy nhiên, sự xuất hiện của công nghệ sản xuất hiện đại đã gây ra sự chênh lệch trong hiệu suất và chi phí sản xuất giữa các xưởng truyền thống và các doanh nghiệp sử dụng công nghệ cao. Một số hộ gia đình gặp khó khăn trong việc áp dụng công nghệ mới do thiếu vốn và kỹ năng.
22/09/2024
5.2. Quy trình sản xuất gốm:
- Chế tạo men
Người thợ làm gốm Bát Tràng thường quen sử dụng những cách chế tạo men theo phương pháp ướt bằng cách cho nguyên liệu đã nghiền lọc kĩ trộn đều với nhau rồi khuấy cho tan trong nước đợi đến khi lắng xuống thì bỏ phần nước trong ở trên đi và bã đọng ở dưới đáy mà chỉ lấy các “dị” lơ lửng ở giữa, đó chính là lớp men bóng để phủ bên ngoài đồ vật
- Tráng men sản phẩm gốm sứ
Khi một sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung sơ bộ sản phẩm ở nhiệt độ thấp rồi sau đó mới đem tráng men hoặc dùng ngay sản phẩm mộc hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên trên rồi mới nung.
- Đem nung sẩn phẩm gốm sứ
Khi công việc chuẩn bị hoàn tất thì đốt lò trở thành khâu quyết định sự thành công hay thất bại của một mẻ gốm. Vì thế giờ phút nhóm lò trở nên thiêng liêng trọng đại với người thợ gốm. Người thợ cả cao tuổi nhất thắp ba nén hương và thành kính cầu mong trời đất và thần lửa phù giúp. Việc làm chủ ngọn lửa theo nguyên tắc nâng dần nhiệt độ để lò đạt tới nhiệt độ cao nhất và khi gốm chín thì lại hạ nhiệt độ từ từ chính là bí quyết thành công của khâu đốt lò.
Sau khi nung xong người ta bịt hết các cửa lò, lỗ giòi, lỗ xem lửa để làm nguội từ từ. Quá trình làm nguội trong lò kéo dài 2 ngày 2 đêm, sau đó mới mở cửa lò và để tiếp 1 ngày 1 đêm nữa rồi mới tiến hành ra lò, phân loại và sửa chữa các khuyết tật trước khi mang phân phối.
Nguồn: https://gomsubattrang.vn/quy-trinh-san-xuat.html
22/09/2024
5.1. Quy trình sản xuất gốm:
- Chọn đất làm gốm
Điều quan trọng đầu tiên trong việc làm gốm đó là chọn đất sét. Đất sét ở đây phải là loại đất sét trắng, có độ dẻo cao, hạt mịn, khó tan trong nước thì khi làm ra sản phẩm gốm sứ mới đạt được chất lượng cao.
- Xử lý, pha chế đất để làm gốm.
Đất sau khi được đưa về thường có lẫn tạp chất, ngoài ra tuỳ theo yêu cầu của từng loại gốm khác nhau mà có thể có những cách pha chế đất sao cho phù hợp với sản phẩm. Ở Bát Tràng, phương pháp xử lí đất truyền thống là xử lí thông qua ngâm nước trong hệ thống bể chứa, gồm có 4 bể ở độ cao khác nhau
- Quy trình tạo dáng cho sản phẩm gốm
Cách tạo dáng cổ truyền của người làng gốm Bát Tràng là làm gốm bằng tay trên bàn xoay. Trong công đoạn tạo dáng, người thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến lối “vuốt tay, be chạch” ngay trên bàn xoay. Người thợ ngồi trên một cái ghế cao hơn mặt bàn rồi dùng chân quay bàn xoay đồng thời dùng tay vuốt đất tạo dáng sản phẩm.
- Phơi sấy và sửa hàng mộc
Sau công đoạn tạo dáng Sản phẩm thì tiến hành phơi sản phẩm mộc sao cho khô, để không bị nứt nẻ, không làm thay đổi hình dáng của sản phẩm.
- Trang trí hoa văn
Các nghệ nhân làng gốm Bát Tràng dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các loại hoa văn hoạ tiết. Nghệ nhân vẽ gốm phải có tay nghề cao có thể sử dụng nhiều hình thức trang trí khác nhau và có hiệu quả nghệ thuật như đánh chỉ, bôi men chảy màu, vẽ men màu…
22/09/2024
4.2. Đặc trưng của gốm Bát Tràng:
Các đồ gốm sứ Bát Tràng được làm từ loại đất sét trắng dẻo, giàu khoáng chất. Điều này giúp sản phẩm có độ bền cao, chắc chắn, và tạo bề mặt láng mịn sau khi nung. Gốm thường có xương gốm dày, chắc khỏe, lớp men thường ngả màu ngà, đục, bởi các công đoạn tạo dáng sản phẩm đều được làm bằng tay. Gốm Bát Tràng nổi tiếng với hoa văn tinh tế, thường mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam như họa tiết rồng, phượng, hoa lá và phong cảnh làng quê, bên cạnh đó còn có một số dòng men riêng độc đáo chỉ có tại Bát Tràng như men xanh rêu, men trắng, nâu, men xanh rạn và cốt gốm xốp màu nâu xám.
22/09/2024
4.1. Đặc trưng của làng:
Hầu hết các sản phẩm gốm Bát Tràng được sản xuất theo lối thủ công. Từ việc chọn lọc nguyên liệu cho đến việc tạo dáng thành hình. Các sản phẩm đều được tạo nên từ những đôi bàn tay tài hoa và loại men khai thác trong nước. Vì vậy, đồ gốm Bát Tràng đều mang trên mình những nét riêng biệt mà không pha lẫn với những thứ pha tạo bên ngoài dù bị cạnh tranh đến đâu.
Gốm sứ Bát Tràng có nhiều loại khác nhau, phục vụ cho nhiều mục đích sử dụng. Dựa theo mục đích sử dụng, có thể phân loại gốm sứ Bát Tràng ra thành các loại như:
– Đồ gốm gia dụng: Bao gồm các loại đĩa, chậu, bát, chén, khay trà, ấm, điếu, nậm rượu, bình vôi,…
– Đồ gốm đồ thờ cúng: gồm các loại chân đèn, chân nến, lư hương, đỉnh, đài thờ, mâm gốm và kiếm.
– Đồ gốm trang trí: Bao gồm mô hình nhà, long đình, các loại tượng như tượng nghê, tượng ngựa, tượng Di Lặc, tượng Kim Cương, tượng hổ, tượng voi, tượng người ba đầu, tượng đầu khỉ mình rắn và tượng rồng,…
- Đồ quà tặng
..
Nguồn: https://www.patra.vn/blogs/news/gom-su-bat-trang-co-nhung-san-pham-nao
22/09/2024
3. Các giai đoạn phát triển của làng gốm Bát Tràng:
- Thời kì phát triển:
Vào thế kỷ 15 và 16, nhà Mạc áp dụng chính sách cai trị cởi mở khiến cho giao thương hàng hóa được phát triển, các sản phẩm đồ gốm Bát Tràng cũng có cơ hội lưu thông rộng rãi trong cả nước. Người sử dụng chủ yếu vẫn là giới quý tộc, hoàng thất,… trải dài khắp các vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
Sang đến thế kỷ 16 – 17, khi các nước Tây Âu tràn sang khu vực châu Á lại càng khiến cho hoạt động kinh tế, giao thương trở lên sôi động hơn nữa. Đặc biệt là sự ra đời của nhà Minh (Trung Quốc) cùng với chính sách cấm tư nhân buôn bán với nước ngoài lại càng khiến cho hoạt động xuất khẩu đồ gốm Bát Tràng sang các nước như Nhật Bản có cơ hội được phát triển và du nhập vào cuộc sống của người dân nơi đây.
Thế kỷ 15 – 17 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất trong lịch sử hình thành của làng gốm Bát Tràng và của ngành gốm xuất khẩu của nước ta trong đó Bát Tràng là nơi đóng vai trò quan trọng nhất. Bát Tràng có một lợi thế lớn đó là nằm bên bờ sông Hồng ở khoảng giữa thành Thăng Long và phố Hiến, là cửa ngõ thông thương với bên ngoài. Qua thuyền buôn của các nước Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á, các nước Tây Âu đồ gốm Việt Nam đã được đưa đi rất nhiều nước khác trên thế giới.
- Thời kỳ suy thoái của các sản phẩm gốm sứ:
Vào thời điểm triều Thanh bãi bỏ các chính sách cấm vận buôn bán với nước ngoài đã khiến cho các sản phẩm gốm sứ của nước ta không có nhiều cơ hội tiếp cận đến các thị trường Đông Nam Á. Riêng đối với thị trường Nhật Bản, sau khi họ có chính sách bảo vệ nguyên liệu quý thì nên kinh tế trong nước đã có sự phát triển vượt bậc và không còn phải đi mua của nước ngoài.
Đến khoảng thế kỷ 18 – 19, triều Trịnh Nguyễn đưa ra các chính sách hạn chế ngoại thương lại càng khiến cho quan hệ giao thương giữa Việt Nam và nhiều nước khác bị giảm sút trầm trọng, từ đó sản phẩm gốm sứ cũng không còn được xuất khẩu ra thị trường thế giới.
- Hiện nay:
Vào những năm 60 của thế kỷ 20, khi nhà nước đang trong chế độ hình thành các hợp tác xã thì tại làng gốm Bát Tràng cũng được ra đời Xí nghiệp gốm sứ Bát Tràng, có các công nhân làm việc tại đây. Họ được thực hành và sáng tạo trong nghề gốm từ đó đã tạo nên một thế hệ có tay nghề làm gốm nổi tiếng
Hiện nay, các sản phẩm gốm Bát Tràng đang ngày càng trở lên phong phú và đa dạng, bên cạnh các mặt hàng truyền thống thì Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước như ấm chén, bát đĩa, lọ hoa… các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng. Từ đây, mặt hàng gốm sứ Bát Tràng cũng đã có mặt trên thị trường nhiều nước châu Âu, châu Á. Một số nghệ nhân đã thành công trong việc khôi phục lại những đồ gốm cổ truyền với kiểu dáng, nước men từ thời Lý, Trần, Lê, Mạc…
Nguồn: https://bautroigomviet.com/tin-tuc/tom-tat-lich-su-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-lang-gom-bat-trang-t16.html
24/05/2022
Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận Huy hiệu 55 tuổi Đảng
(Dân trí) - Chiều 24/5, Đảng bộ Văn phòng Chính phủ tổ chức lễ trao Huy hiệu 55 tuổi Đảng tặng nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.
Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã trao Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng tặng nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tham gia công tác, chiến đấu trong quân đội từ rất sớm và có 55 năm liên tục cống hiến cho Đảng, cho đất nước trên nhiều cương vị và lĩnh vực công tác khác nhau.
Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, nhất là trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thủ tướng Phạm Minh Chính chúc nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng gia đình luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, tiếp tục đóng góp, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, vì sự phát triển phồn vinh, thịnh vượng của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.
Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ vui mừng, cảm động được nhận Huy hiệu 55 tuổi Đảng. Nguyên Thủ tướng cho rằng, đây là vinh dự trong cuộc đời hoạt động cách mạng, là sự ghi nhận, đánh giá và cũng là sự động viên, yêu cầu của Đảng với đảng viên về lòng trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của Đảng, về sự nỗ lực hoàn thành các trọng trách, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó, đóng góp tích cực vào thành tích chung.
Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định sẽ tiếp tục phấn đấu, làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm của người công dân, người đảng viên cộng sản, tiếp tục đóng góp, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc.
Theo Dân trí
22/05/2022
Mới đây, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã công bố một số hình ảnh về tiến trình phục hồi, phục dựng điện Kiến Trung. Ít ai biết rằng mục đích, công năng sử dụng của công trình này là gì ? Và hình ảnh điện Kiến Trung một thời huy hoàng trong những năm 20, 30 của thế kỉ trước. Hôm nay Tôi yêu Việt Nam sẽ giải đáp những thắc mắc đó cho các bạn.
Điện Kiến Trung (chữ Nho: 建忠) là một cung điện của nhà Nguyễn trong Tử Cấm thành (Huế) được vua Khải Định cho xây vào năm 1921-1923 cùng thời gian với việc xây lăng để làm nơi sinh hoạt của vua trong hoàng cung.
Đúng ra theo ngữ nghĩa thì "cung" là nơi vua ở, có tính cách riêng tư, kín đáo; còn "điện" là nơi vua làm việc có tính cách mở để các quan vào chầu. Điện Kiến Trung theo đó thoạt tiên là nơi vua làm việc, sau được tân trang để làm nơi vua sinh hoạt với gia đình.
Nhưng trong những năm kháng chiến chống Pháp, Điện Kiến Trung đã bị sụp đổ chỉ còn nền điện và hàng lan can trong khu vực Tử Cấm Thành.
Dưới đây là một số bức ảnh chúng tôi sưu tầm được.
13/05/2022
Vĩnh biệt người vợ Nhật của giáo sư Lương Định Của
TTO - Sáng 14-5, gia đình sẽ làm lễ truy điệu và hỏa táng cụ bà Nakamura Nobuko - người vợ Nhật của GS Lương Định Của - vừa tạ thế ngày 10-5-2022, hưởng đại thọ 100 tuổi.
Nếu GS Lương Định Của được nhắc đến như một nhà bác học trên đồng ruộng với những thành tựu to lớn trên lĩnh vực nông nghiệp, thì bà Nobuko được nhiều người biết đến với tình yêu trong sáng, tha thiết và bền bỉ với chồng, với đất nước Việt Nam.
Tình yêu ấy đã đưa bà theo ông mang con về nước giữa chiến tranh, tập làm quen với những bữa ăn kham khổ, tập tắm trên những lều lá ven sông với những xô nước "màu cà phê nhạt", và bền bỉ với những chương trình phát thanh tiếng Nhật của Đài tiếng nói Việt Nam, phát những bản tin từ Hà Nội đạn bom đến quê hương mình.
Ngày 30-4-1975, bà đã đọc bản tin tiếng Nhật bằng tất cả tình yêu Việt Nam và chồng con người Việt của mình: "Tiếng pháo chúc mừng thắng lợi to lớn trong giây phút này đang vang dội khắp thủ đô Hà Nội và cả nước. Bất kể già trẻ hay trai gái, ai ai cũng xuống đường chia sẻ thắng lợi. Họ đang chúc mừng đại thắng lợi của dân tộc.
Nhân dịp này, nhân dân Việt Nam xin được chia sẻ niềm vui vô bờ bến này đến bạn bè quốc tế. Nhân dân Việt Nam gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn và anh em quốc tế năm châu. Các bạn thính giả thân mến, chúng tôi mong muốn các bạn cùng nhau chúc mừng niềm vui to lớn này…".
Chị Hà Gia, con dâu thứ của bà, kể rằng ngày 30-4 vừa rồi, chị mở lại đoạn ghi âm ấy mà gia đình lưu giữ được trên điện thoại, áp vào tai bà.
Đã nằm trên giường bệnh từ vài tháng nay vì suy kiệt tuổi già, nhưng nghe lại được tiếng reo vui của chính mình năm ấy, gương mặt bà tươi lên, mắt mở ra nhìn con cháu gật đầu. Bà đã chờ cho đến khi các con tề tựu về đủ mặt rồi mới ra đi.
Tình yêu với ông Lương Định Của, và qua đó trở thành tình yêu Việt Nam, đã được bà ghi lại trong cuốn hồi ký Cơn gió thổi từ Hà Nội.
Sau khi ông Lương Định Của mất đột ngột vào ngày 28-12-1975, bà và các con đã chuyển vào TP.HCM để được sống ở miền Nam, quê hương ông.
Bà thường xuyên cùng con trai trở về quê ông ở Đại Ngãi, tỉnh Sóc Trăng lo việc họ hàng, và đi khắp nơi đồng hành với Giải thưởng Lương Định Của do Trung ương Đoàn sáng lập dành cho các thanh niên có đóng góp sáng tạo trong nông nghiệp.
Không may, mùa dịch năm 2021 vừa rồi, người con trai cả Lương Hồng Việt của ông bà đã mất vì nhiễm COVID-19 trong những ngày TP.HCM trải qua đỉnh dịch.
Hôm nay, viếng bà tại gia đình có rất nhiều vòng hoa của những người làm ngành nông nghiệp: Bộ trưởng Lê Minh Hoan, Thứ trưởng Lê Quốc Doanh, ông Hồ Quang Cua, ngành nông nghiệp Sóc Trăng, Đồng Tháp, rồi Viện Nông học, Đài tiếng nói Việt Nam, Hội hữu nghị Việt - Nhật…
Bà vẫn giữ quốc tịch Nhật, nhưng một đời đã sống với Việt Nam như thế.
Theo Tuổi Trẻ
14/04/2022
CHÚC MỪNG SINH NHẬT LẦN THỨ 78 CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG (14/4/1944-14/4/2022)