Vũ Thị Hiền

Vũ Thị Hiền

Share

Gia đình là trường học của lòng khoan dung, vì nó luôn tồn tại và dạy chúng ta cách sống với những người khác

21/10/2021

Ta Hỏi
Ta hỏi này mùa thu
Đã bao ngày thay lá
Có bao giờ mặc cả?
Năm tới trả quả hoa
Ta hỏi con én nhỏ
Ngày xuân có gì vui?
Bình yên sao không thể?
Mặc gió táp lưng trời
Có bao giờ biển lớn
Biết tia nắng màu gì
Lãng mạn mang cho cả
Bắt cất bão bùng đi
Một nụ cười hạnh phúc
Đổi bằng mấy phong ba?
Người dưng còn có thể
Thương thế đã nhạt nhoà!

20/10/2021

GÓC NGHỊ LUẬN VĂN HỌC.
Con người trong văn học trung đại Việt Nam rất phong phú. Nó khác biệt với con người trong văn học dân gian. Mỗi thể loại có một cách quan niệm và biểu hiện con người riêng nhưng vẫn có cái chung. Quan niệm chung chi phối văn học trung đại Việt Nam là:
Thời trung đại, con người chủ yếu sống bằng nông nghiệp nên thường dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên để sống. Do đó, con người trung đại tin ở sự thống nhất trong thế giới. Thiên nhiên là bạn tri âm tri kỷ của con người. Người phương Đông xưa cũng quan niệm: thiên nhiên có mối giao hòa, giao cảm với con người bởi con người là một "tiểu vũ trụ" có quan hệ tương thông tương cảm với "đại vũ trụ"- thi.ên nhiên ngoại giới (Thiên nhân tương cảm, thiên nhân hợp nhất). Con người là một yếu tố trong mô hình vũ trụ: Thiên - Địa - Nhân hợp thành "Tam Tài". Con người sống trong vòng "Thiên phú. địa tái" (Trời che, đất chở). Cho nên, quan niệm “Thiên – Địa – Nhân” hay “Thiên Nhân t.ương cảm” cổ xưa ấy đã chi phối nhiều đến sự biểu hiện trong tác phẩm nghệ thuật. Do đó thơ văn trung đại thường chỉ xuất hiện một con người đứng trước trời đất.
Thời trung đại, con người chủ yếu sốn.g bằng nông nghiệp nên thường dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên để sống. Do đó, con người trung đại tin ở s.ự thống nhất trong thế giới. Thiên nhiên là bạn tri âm tri kỷ của con người. Người phương Đông xưa cũng quan niệm: thiên nhiên có mối giao hòa, giao c.ảm với con người bởi con người là một "tiểu vũ trụ" có quan hệ tương thông tương cảm với "đ.ại vũ trụ"- thiên nhiên ngoại giới (Thiên nhân tương cảm, thiên nhân hợp nhất). Con người là một yếu tố trong mô hình vũ trụ: Thiên - Địa - Nhân hợp thành "Tam Tài". Con người sống trong vòng "Thiên phú địa tái" (Trời che, đất chở). Cho nê.n, quan niệm “Thiên – Địa – Nhân” hay “Thiên Nhân tương cảm” cổ xưa ấy đã chi phối nhiều đến sự biểu hiện trong tác phẩm nghệ thuật. Do đó thơ văn trung đại thường chỉ xuất hiện một con người đứng trước. trời đất.
Chẳng hạn, thi đề quen thuộc của thơ trữ tình trung đại chính là con người một mình đối diện, đàm tâm với thiên nhiên vũ trụ. Người anh hùng được nhắc đến với tầm vóc s.ánh ngang vũ trụ:
“Trí chủ hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.”
(Phò vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch trời)
(Đăng Dung – Cảm Hoài)
Ở bài Tự tình nổi tiếng của nữa sĩ Hồ Xuân Hương, hình tượng con người vũ t.rụ nổi bật rõ: gian vũ trụ khoáng đạt, rộng lớn và hoành tráng, mà trong đó, con người dù nhỏ bé song vẫn cố gắng vươn lên ngang tầm và có khát vọng làm chủ trời đ..ất, vũ trụ, chinh phục thiên nhiên. Tác giả đã phóng lớn ngọn giáo của mình cho tương xứng với kích thước của đất nước, của vũ trụ:
“Hoành sóc giang san cáp kỷ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”
(Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân hùng dũng nuốt sao Ngưu)
Ở bài Tự tình nổi tiếng của nữa sĩ Hồ Xuân Hương, hình tượng con người vũ trụ nổi bật rõ:
"Trơ cái hồng nhan với nước non".
Con người được đặt giữa không gian mênh mông của vũ trụ nhưng không hòa nhập vào không gian bao la rộng lớn ấy mà cô độc, lẻ loi một mình. Nữ sĩ đưa từ “trơ” ra đầu câu như. để nhấn mạnh sự đối lập của một cá thể đơn lẻ với cả vũ trụ mênh mông, để gia tăng cảm giác cô đơn, .quạnh vắng trong tâm hồn nhân vật trữ tình. Khi bất đắc chí, đau đáu vì cuộc duyên không .rọn, con người tìm về với thiên nhiên như trở về nguồn cội nhưng lại bắt gặp:
“Vầng trăng bóng xế kh.uyết chưa tròn”
Thiên nhiên và lòng người vốn tương ứng tương cảm và có sự đồng điệu. Thế nên con người đang đau đáu vì cuộc duyên không trọn vẹn thì vầng trăng kia cũng chỉ có thể là vầng trăng khuyết giữa trời đ.ang dần xế bóng.
Chính vì vậy, ở đây, con người không xuất hiện với tư cách cá nhân. Họ buồn không phải một cá nhân buồn, mà cả vũ trụ cũng buồn theo, đúng như Nguyễn Du đã từng nói:
“Cảnh nào cảnh c.hẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
(Nguyễn Du - Truyện Kiều – Câu 1243-1244)
Đó là “con người vũ trụ” sống trong quy tắc “hô, ứng”. Vui buồn của mỗi con người buộc cả vũ trụ chuyển động.
“Vật mình, vẫy gió, tuôn mưa,
Dầm dề g.iọt ngọc thẫn thờ hồn mai.”
(Nguyễn Du - Truyện Kiều – Câu 2795-2796)
Sự miêu tả gián tiếp trong thơ tr.ng đại chính là bị sự chi phối của quan niệm vũ trụ đó. Con người không được miêu tả như một hiện tượng xã hội mà được như là một bộ phận của thiên nhiên, của vũ trụ. Chẳng hạn như khi nói sự bình phục của Kiều, thì Nguyễn Du viết:
“ Vừa tuần nguyệt sán.g, gương trong”
(Nguyễn Du - Truyện Kiều – Câu 1191)
về tình yêu của từ Hải và Kiều, thì:
“ Trai anh hùng, gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng”
(Nguyễn Du - Truyện Kiều – Câu 2211,2212)
Ngoài .ra, do quan niệm vũ trụ trong văn học ta bắt nguồn từ rất xa xôi, gắn liền với những quan niệm thần bí, tướng số. Cho nên, đặc biệt đối với những nhân vật xuất chúng, tác giả thườ.ng miêu tả thành những con người d.ị tướng, phi thường, hun đúc một sức mạnh nào đó của vũ trụ. Đó là những con người “chịu mệnh trời”. Từ Hải chính là nhân vật được Nguyễn Du xây dựng dựa trên quan niệm này:
“Râu hùm hàm én mày ngài
Vai năm tất. rộng thân mười thước cao”.
(Câu 2168-2169)
Đây là con người mà chí khí và tài năng được đo bằng chiều kích của vũ trụ. Bởi thế, nói đến Từ Hải, người đọc như thấy hiện rõ trước mắt mình một hình ảnh cao rộng của .trời đất và vũ trụ.
Đây là con người mà chí khí và tài năng được đo bằng chiều kích của vũ trụ. Bởi thế, nói đến Từ Hải, người đọc như thấy hiện rõ trước m.ắt mình một hình ảnh cao rộng của .trời đất và vũ trụ.ụ, mang dấu ấn vũ trụ, thiên nhiên qua đất trời, mây nước, cỏ cây, muông… với cái đạo vững bền, sâu thẳm của ..nó. Đây là nét khu biệt không thể lẫn so với các kiểu con người trong các thời kì sau của văn học.
3.2. Con người đạo đức
Toàn b.ộ xã hội trung đại được nhìn nhận trong một hệ thống tôn giáo đạo đức. Cho nên, con người luôn được nhìn nhận ở phương diện đạo đức luân lí. Vì thế, văn chương xưa chia. xã hội thành hai tuyến: thiện – ác, tốt – xấu với mục đích, chức năng nổi bật là giáo huấn:
“Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.”
(Nguyễn Đình Chiểu – Lục Vân Tiên)
Chính vì. vậy, con người sống theo luân lí đạo đức, theo lí trí thì được coi là chân chính; còn những người sống theo xúc cảm, theo những luân lí trần thế, nhân bản thì bị coi thường, chê trách.
Bên cạnh đó, con người trong văn học trun.g đại còn là con người của tấm lòng, co.n người của chí khí và việc tỏ lòng, tỏ chí khí là nét đặc trưng của họ. Bởi vậy, cái có giá trị nhất của .con người thuộc về tấm lòng, muốn đánh giá về một con người là xem tấm lòng của h.ọ như thế nào. Trong Truyện Kiều, để “tỏ lòng” hiếu thảo, Kiều đã bán mình chuộc cha. Đó là một hành động phi thường, trên thực tế nàng có thể vay tiền chuộc cha, nhưng như thế thì quá bình thường. Tương tự, Kiều Nguyệt Nga. cũng thể hiện tấm lòng trinh liệt của mình khi ôm bức chân dung Vân Tiên nhảy xuống sông tự vẫn.
Như vậy, sự “tỏ lòng” là rất quan trọng trong văn học trung đại. Chính nó đã làm cho hệ thống sự kiện trở nên gay gắt, căng thẳng hơn chứ kh.ông hề xây dựng được cốt truyện đơn thuần trên những việc bình thường hàng ngày.
Phải lo hiếu .kính đêm ngày khăng khăng.”ế kỷ thứ XV, là một nhà quân sự thiên tài, nhà chính trị lỗi lạc, một nhà .văn hóa vĩ đại của dân tộc. Trong tác phẩm Gia huấn ca, ông đã đề cao đạo đức luân lí trong mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội. Đạo hiếu được nhấn mạn..h rất rõ:
“Dù nội ngoại bên nào cũng vậy
Đừng tranh giành bên ấy, bên này
Cù Lao đội đức cao dày,
Trong truy.ện Nôm, các nhân vật luôn luôn bày tỏ tấm lòng rất rõ rệt. Các nhân vật tự trừu tượng hóa, đem tấm lòng ra đối diện với nhau. Trong Truyền kỳ mạn lục hình tượng con người đạo đức cũng được xuất hiện, có .thể kể đến nhân Tử Văn trong Chu.yện chức phán sự đền Tản Viên. Với hình ảnh người trí thức Tử Văn có tính tình cương trực, dũng cảm “thấy sự gian tà thì không chị.u được” Nguyễn Dữ hướng đến đề cao con người của công lý, chính nghĩa, đồng thời phê phán và trừng trị những kẻ phi đạo đức, xảo quyệt, làm hại nhân dân.
Còn phận làm con đối với cha mẹ thì:
“Khi ấm lạnh ta hầu săn sóc
Xem cháo cơm thay thế mọi bề
Ra vào thăm hỏi từng khi
Trong truyện Nôm, các nhân vật luôn luôn bày tỏ tấm lòng rất rõ rệt. Các nhân vật tự trừu tượng hóa, đem tấm lòng ra đối diện với nhau. Trong Truyền kỳ mạn .lục hình tượng c.on người đạo đức cũng được xuất hiện, có thể kể đến nhân Tử Văn trong Chuyện chức phán sự đ.ền Tản Viên. Với hình ảnh ngư.ời trí thức Tử Văn có tính tình cương trực, dũng cảm “thấy sự gian tà thì không chịu được” Nguyễn Dữ hướng đến đề cao con người của công lý, chính nghĩa, đồng thời phê phán và trừng trị những kẻ phi đạo đức, xảo quyệt, làm hại nhân dân.
Trong tru.yện Nôm, các nhân vật luôn luôn bày tỏ tấm lòng rất rõ rệt. Các nhân vật tự trừu tượng hóa, đem tấm lòng ra đối diện với nhau. Trong Truyền kỳ mạn lục hình tượng con người đạo đức cũng được xuất hiện, có thể kể đến nhân Tử Văn t.rong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên. Với hình ảnh người trí thức Tử Văn có tính tình cương trực, dũng cảm “thấy sự gian tà thì không chịu được” Nguyễn Dữ hướng đến đề cao con người của công. lý, chính nghĩa, đồng thời phê phán và trừng trị những kẻ phi đạo đức, xảo quyệt, làm hại nhân dân.
Tóm lại, cùng với con người vũ trụ, hình tượng con người đạo đức cũng xuất hiện. nhiều trong các tác phẩm văn học trung đại. Qua đó góp phần làm phong phú thêm hệ thống nhân vật của một thời kỳ văn học.
3.3. Con người đấng bậc
Cùng với mô hình con người vũ trụ và con người đạo đức là thái độ tôn xưng với những con người tài tình, phân biệt với những người khác. Trong văn học trung đại còn tồn tại một quan niệm khác về con người đ.ó là quan niệm về con người đấng bậc. Điề.u này được thể hiện rõ nét nhất là trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du. Cách miêu tả của Nguyễn Du chịu sự chi phối của quan niệm đấng bậc về con người. Trong quan niệm của ông, những con người như Kim Trọng, Thúy Kiều, Từ Hải là những “đấng”, nh.ững “bậc” đáng kính trọng. Họ là “đấng tài hoa” (Đạm Tiên); “bậc tài danh” (Kim Trọng); “bậ.c bố kinh” (Thúy Kiều); “đấng anh hùng” (Từ Hải)... Đối với những nhân vật ấy, tác giả dành cho những lời trang trọng, tượng trưng. Còn bọn Tú Bà, Mã Giám Sinh là. bọn vô loài, bọn chúng không có mẫu mực gì cả, mỗi đứa một vẻ, đều là “tuồng” vô lại. Bọn chúng được miêu tả theo đặc tính thực tế về nghề nghiệp cá nhân theo kiểu “Thoắt trông nhờn nhợt màu da”, hoặc: “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”… rất hiện thực.
Như vậy, con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du rất độc đáo, theo kiểu phương Đông. Cách “quan niệm về con người” này chi phối một giai đoạn rất dài của Văn học Việt Nam gần mười thế kỷ.
3.4. Co.n người có ý thức cá nhân
Con người cá nhân trong văn học chính là sự phản ánh cái tôi, là sự giãi bày, diễn tả thế giới tư tưởng, tình cảm riêng tư của tác giả. Nói cách khác, con người cá nhân trong văn học chính là sự tự khắc họa tâm tư, tình cảm, ý chí của tác giả được thể hiện thông qua những tác phẩm mà họ sáng tác. Tùy theo từng giai đoạn, thời kỳ văn học, mà con người cá nhân có những đặc .điểm khác nhau.
Riêng đối với văn học trung đại con người cá nhân cũng được thể hiện ở mức đ.ộ đậm nhạt và qua nhiều bình diện khác nhau. Cụ thể, ý thức về con người cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam trải qua hai giai đoạn với những hình thái khác nhau. Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII về cơ bản con người cá nhân được “khẳng định trên bình diện tinh thần, như một thực thể tinh thần, siêu nghiệm dưới các hình thức tu dưỡng, lựa chọn xuất xử, hoàn thiện nhân cách., tự hạn chế nhu cầu vật chất, tự đối lập với thói tục. Con người cá nhân tự khẳng định mình bằng cách gắn mình với đạo, với tự nhiên, với nghĩa vụ trong sự nghiệp chung của của cộng đồng. Yếu tố quyền lợi cá nhân chưa được chú ý. [3;194]. Còn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX, “con người trong văn học đã kêu to lên nhu cầu về quyền sống cá nhân, quyền hưởng hạnh phúc cá nhân như một quyền tự nhiên” [3;194].
Qua quá trình khảo sát ta có thể khẳng định rằng, con người cá nhân trong vă.n học trung đại Việt Nam có một quá trình tự ý thức chậm chạp, lâu dài nhưng mạnh mẽ. Tuy qua từng thời kì lịch sử có chịu ảnh hưởng của ý thức hệ thống trị đương thời nhưng không bao giờ đóng khung trong ý thức hệ đó, mà phản ánh quá trình vận động, giải phóng cá tính của con người trong thực tế đời sống.am chích quái và Truyền kỳ mạn lục); Con người cá nhân với niềm lo sợ tuổi trẻ chóng tàn (Chinh phụ ngâm), Con người cá nhân công danh hưởng lạc ngoài khuôn khổ (thơ văn Nguyễ..n Công Trứ, Cao Bá Quát); Con người cá nhân giải thoát bằng hưởng lạc (thơ ca trù cuối thế kỉ XIX), Con người cá nhân trống rỗng, mất hết ý nghĩa (thơ Nguyễn Khuyến,…
Qua quá trình khảo sát ta có thể khẳng định rằng, con người cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam có một quá trình tự ý thức chậm chạp, lâu dài nhưng mạnh mẽ. Tuy qua từng thời kì lịch sử có chịu ảnh hưởng của ý thức hệ thống trị đương thời nh.ưng không bao giờ đóng khung trong ý thức hệ đó, mà phản ánh quá trình vận động, giải phóng cá tính của con người trong thực tế đời sống.
KẾT LUẬN
Có ý kiến cho rằng, mọi sự thay đổi trong văn học đều bắt nguồn từ sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người. Do vậy, đi sâu khám phá .quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại Việt Nam là bước đi ngắn nhất để chúng ta đến gần với cái bản chất nội tại của tác phẩm, nắm được sự thay đổi, cách tân và vận động của cả một giai đoạn, một thời kì văn học trung đại, đồng thời nêu bật được sức hấp dẫn của thời .kì văn học này cũng như khẳng định những giá trị không lỗi thời của nó về sau.
------------------------------------------------
Nguồn: Sưu tầm.

20/10/2021

[ 𝐌𝐨̣̂𝐭 𝐜𝐡𝐮́𝐭 𝐬𝐞̉ 𝐜𝐡𝐢𝐚 𝐯𝐮̛̃𝐧𝐠 𝐛𝐮̛𝐨̛́𝐜 𝐝𝐢 𝐱𝐚 ]
Nhận được sự chia sẻ từ cô Phạm Thị Minh Tươi, hiện đang là giáo viên chủ nhiệm lớp 12B - trường THPT Quang Trung để mong được sự trợ giúp - chúng tôi chia sẻ đến mọi người để mọi người cùng chung tay.
“ Chưa bao giờ mình làm việc lớn như này, nhưng vì giọt nước mắt của em ngày hôm nay và nụ cười của em sau này mình sẽ làm”
- Rằng lớp 12B mình đang chủ nhiệm có em Ninh Nguyễn Hà Như (quê Nam Thịnh, Nam Trực), gia đình em có hoàn cảnh khó khăn, bố em mất khi em sinh ra chưa được 3 tháng, lên 3 tuổi mẹ em cũng mất, rồi em sang sống cùng ông bà. Nhưng ông nội em mất cách đây mấy năm, em lại sang ở cùng bác. Nhà bác cũng khó khăn và cũng vì bác còn phải lo cho cả mấy con ăn học nên giờ con đường học tiếp của em đang mịt mù trước mắt, chưa biết đi đâu về đâu.
Vì tiếc cho 1 học sinh có lực học luôn đứng nhất lớp, 1 học sinh chăm ngoan biết vượt qua hoàn cảnh để đứng dậy, mình kêu gọi các mạnh thường quân, các anh chị em , bạn bè, các em học sinh đã ra trường và đang đi học hãy chung tay giúp đỡ em để em viết tiếp tương lai tươi sáng.
Những sự giúp đỡ dù lớn hay nhỏ đối với em lúc này cũng đều đáng quý.
Xin cảm ơn mọi người !

24/09/2021

KHI CON DƯỚI 3 TUỔI !
Cả cuộc đời của con chỉ gói gọn trong 3 năm đầu đời (mình ý kiến 1 chút - 3 năm đầu đời là giai đoạn quan trọng nhất )!
❤Chỉ cần chú ý những việc dưới dây thì việc dậy con sẽ nhàn tênh :
🍀1. Hành vi của con từ 1 đến 3 tuổi quyết định tính cách cả đời của con . Vậy nên hãy cân nhắc trước khi thỏa mãn 1 yêu cầu nào đó của con . Dù nhỏ nhất cũng phải đặt ra câu hỏi : Liệu điều này có giúp ích gì cho con sau 20 năm nữa ? Nếu có: OK . Nếu không: nuốt nước mắt vào trong mà từ chối . Đừng nghĩ nó nhỏ xíu , đừng nghĩ vì yêu , đừng nghĩ vì mình dư điều kiện đáp ứng ....... "Chiếc thuyền đắm chỉ vì 1 lỗ nhỏ" .
🍀2. Ngôn từ : Cung cấp vốn từ cho con mọi lúc mọi nơi mọi hoàn cảnh . Ngôn từ giao tiếp của người lớn xung quanh con hấp thu hoàn toàn . Vậy nên hãy cẩn trọng tìm môi trường ngôn ngữ tích cực cho con . Người lớn muốn trò chuyện to tiếng . Muốn cãi nhau thì dắt nhau vào nhà vệ sinh mà cãi . Cứ trước mặt con có cái gì là con học không chọn lọc . Đừng hỏi vì sao con đanh đá . Đừng hỏi tại sao con lại có những ngôn từ ấy .... từ ta mà ra cả đấy .
🍀3. Nhất quán trong cách dạy con : cái bánh sẽ ra sao khi có 3 đầu bếp chạm tay vào . Ai cũng nghĩ công thức của mình đúng nhưng 3 công thức đúng cộng lại sẽ tạo ra công thức sai . Đứa trẻ cũng thế . Nó sẽ hoang mang không biết rốt cuộc mình phải làm sao và phải theo ai . Lúc đó con sẽ chọn người đưa ra phương án dễ dàng nhất là người yêu thương nó nhất . và sau này con sẽ mất đi chính kiến của mình . Và con sẽ sống theo kiểu nắng bên nào thì che bên ấy .
🍀4. Mỗi ngày dành cho con 3 phút . Cho con nghe các giai điệu của các bài hát thiếu nhi sinh động . Vốn từ và trí tưởng tượng của con phát triển từ đây.
🍀5. Cho con tương tác nhiều với màu sắc : xanh- đỏ- tím -vàng- lục- lam- chàm- tím . Giới thiệu để con khỏi bị mù màu sau này . Màu sắc gì đang xuất hiện trước mắt con là ta vơ nó để cung cấp ngay vốn từ cho con . Ớt màu đỏ này. Cải màu xanh .....
🍀6. Cho con tương tác với hình dạng : tròn , vuông , tam giác ....... để tư duy không gian và tư duy logic con hình thành .
🍀7. Cho con nhìn bản đồ . Mind map......
🍀8. Cho con ra bên ngoài . Đi trung tâm thương mại . Đi chiêm ngưỡng những ngôi nhà đẹp . Những kiến trúc tuyệt tác .... để con hình thành nên những giấc mơ của cuộc đời con .
🍀9. Bạn mong muốn con trở thành con người như thế nào hãy cho con tương tác với người tương tự như thế
😊Muốn con hạnh phúc => Gặp gỡ người hạnh phúc
😊Muốn con hoạt ngôn => tương tác với người hoạt ngôn
😊Muốn con tươi cười => tương tác với người cười suốt ngày .
=> Người khác không thể cho con bạn cái mà họ không có .
😊 Người tiêu cực không thể cho con bạn tích cực .
😊Người mặt nhăn nhó không thể cho con bạn nụ cười
😊Người nói dối không thể cho con bạn trung thực .
😊Người thiên vị không thể cho con bạn sự công bằng ......

Photos from Vũ Thị Hiền's post 23/09/2021

Nhìn nhanh đáp án chính thức của Bộ cho môn Ngữ văn!
1/ Phần Đọc hiểu dành 50% quĩ điểm (1,5 điểm) cho câu 1 & 2, đó là hai câu hỏi nhận biết, chỉ cần chép đúng hai câu đầu và cuối trong ngữ liệu đọc hiểu là đã đạt điểm tuyệt đối 0,75/ câu. Đó là yêu cầu chỉ dành cho học trò tiểu học!
Tôi đặc biệt băn khoăn về câu hỏi và đáp án của câu 3 phần đọc hiểu.
Câu hỏi như sau: “Những câu văn sau giúp anh/ chị hiểu gì về dòng chảy của nước và cuộc sống con người: “Một ông lão băng qua cây cầu, một cô gái trẻ trên chiếc xe đạp, một đôi tình nhân ngồi ngắm sông trôi. Cứ mãi chầm chậm và cứ mãi xanh, dòng sông chứng kiến lũ trẻ chơi đùa trong công viên hai bên bờ và người cha cùng cậu còn nhỏ đang chơi bắt bóng”.
Đây là kiểu câu hỏi thông hiểu nhưng có kết hợp vận dụng, vận dụng cao khi đòi hỏi học sinh vận dụng những trải nghiệm qua thực tế và văn chương, thể hiện cách hiểu, cách cảm của bản thân để thực hiện yêu cầu trong câu lệnh. Có thể thấy rõ tính chất mở của câu hỏi, đồng nghĩa với việc chấp nhận các cách hiểu, cách cảm đa dạng, khác biệt của đoạn văn - tiếc là đáp án lại đóng kín với 03 ý khẳng định: Dòng chảy của nước chậm rãi, hiền hoà/ Cuộc sống của con người thanh bình, yên ả/ Dòng chảy của nước và cuộc sống con người gắn bó, hài hoà!
Dễ nhận thấy một nghịch lí trong câu hỏi và đáp án ở đây: câu hỏi đưa ra một đoạn văn đúng là gợi sự thanh bình yên ả của cả nước và cuộc sống - nhưng nếu từ câu đọc hiểu này, học sinh tự rút cho mình thông điệp, các em sẽ chạm phải nghịch lí khi trong thực tế, cuộc sống cũng như dòng sông luôn nối tiếp cả êm đềm và ghềnh thác, cắt khúc một đoạn văn rồi áp vào một phương án đáp án theo hướng êm đềm hài hoà như vậy, những học trò có tư duy phản biện sắc sảo sẽ bức bối khó chịu vì cảm giác áp đặt; những học sinh ngoan hiền sẽ yên tâm về dòng đời êm ả ( như bài thi), sự yên tâm sẽ khiến các em phải trả giá đau đớn khi gặp ghềnh thác!
Nếu vẫn cho đoạn văn cắt khúc ấy, bên cạnh việc chấp nhận những cách hiểu khác biệt mà thuyết phục của học trò, có thể đưa ra một gợi ý về điểm giống nhau giữa dòng chảy của nước và cuộc sống con người theo quan niệm quen thuộc của Heraclitus: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” - cuộc sống như dòng sông, luôn trôi chảy với cả sự vĩnh hằng và thay đổi, vậy thôi!
Câu hỏi 4 là câu hỏi thuộc mức độ vận dụng cao. Theo câu lệnh: “Qua hành trình từ sông ra biển của nước trong đoạn trích, anh/chị rút ra những bài học gì về lẽ sống?” thì sẽ là thừa ý 1 trong đáp án, chỉ cần nhắc lại nguyên văn nửa đầu câu lệnh “Qua hành trình từ sông ra biển của nước trong đoạn trích,…” đã đủ cơ sở rút ra bài học mà không nhất thiết phải chia đôi quĩ điểm cho việc tóm tắt lại hành trình như trong đáp án.
2/ Câu nghị luận văn học: cả phần cảm nhận về đoạn thơ và nhận xét về vẻ đẹp nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh đều chưa đề cập tới một nét rất “nữ tính” và rất “Xuân Quỳnh”, đó là những dự cảm lo âu, bất ổn ngay trong đằm thắm, khát khao…!
Nhìn chung, với tính cá thể hoá cao độ của môn văn và tính đa dạng, khác biệt của các chủ thể tiếp nhận, không nên đưa ra những phương án đáp án cứng nhắc, đáp án chỉ nên là một hay nhiều phương án gợi ý tham khảo cho học trò và giám khảo trong việc đối chiếu và đánh giá bài làm! Quan trọng và chính xác nhất vẫn là sự đánh giá công tâm, tinh sắc của giám khảo trước các phương án nghị luận/ cách cảm / cách hiểu thể hiện tư duy độc lập, sáng tạo và cái tôi cá tính của học trò.

22/09/2021

Hì , đang dạy học , mà tự nhiên nhận được tin nhắn như này đấy ạ . em cũng chỉ mong là em giúp mọi người rồi thì cũng được lời cảm ơn như này thôi ạ .!! chúc mừng anh Hiệp . chúc anh nhanh khỏi hẳn căn bệnh của mình ạ

22/09/2021

BẢY CÂU TRẢ LỜI SÂU SẮC CỦA MỘT VỊ THÁNH NHÂN...!!!
1. Vật gì sắc bén nhất?
Đó là lưỡi của con người. Lưỡi có thể dễ dàng làm tổn thương trái tim của người khác.
2. Nơi nào xa nhất?
Quá khứ. Cho dù chúng ta là ai, giàu có cỡ nào, chúng ta không thể quay về quá khứ, vậy nên phải sử dụng tốt ngày
hôm nay và những ngày sắp tới.
3. Cái gì lớn nhất?
Ham muốn là thứ lớn nhất. Nhiều người trở nên khốn khổ vì quá ham muốn. Hãy cẩn thận với ham muốn.
4. Cái gì khó và nặng nhất?
Lời hứa là thứ khó và nặng nhất. Dễ nói nhưng cực kỳ khó làm.
5. Cái gì nhẹ nhất?
Sự khiêm nhường là thứ nhẹ nhất. Người ta rất dễ lãng quên
và rời bỏ sự khiêm nhường.
6. Cái gì gần nhất với chúng ta?
Cái chết gần nhất. Nó là tất yếu và có thể đến bất cứ lúc nào.
7. Cái gì dễ làm nhất?
Việc dễ làm nhất là làm người khác đau buồn. Do vậy chúng ta nên thận trọng !

22/09/2021

Ngày ấy, còn trẻ măng đã phải đối mặt với sự lựa chọn.
Ngày ấy, sinh viên có thể học cùng lúc hai trường Đại học, miễn là lịch học không chồng nhau.
Bố bảo” nhà nghèo, con đừng mơ ước viển vông. Cứ dạy học như mẹ mày chẳng chết đói được đâu, nhưng nghèo”
Thế là LỰA CHỌN.
Thế là từ bỏ niềm kiêu hãnh vẩn vơ.
Ngày, tháng, năm trôi đi....
Đúng là người chọn nghề,nhưng ngọt ngào hay nghiệt ngã thì vẫn chưa có hồi kết!

22/09/2021

Một ngày, một năm và đời người...
Một ngày rất ngắn, ngắn đến mức chưa nắm được cái sáng sớm thì đã tới hoàng hôn.
Một năm thật ngắn, ngắn đến mức chưa kịp thưởng thức sắc màu đầu xuân thì đã tới sương thu.
Một cuộc đời rất ngắn, ngắn tới mức chưa kịp hưởng thụ những năm tháng đẹp thì người đã già rồi.
Luôn luôn đến quá nhanh mà hiểu ra thì quá muộn, cho nên chúng ta phải học cách trân trọng: trân trọng tình thân, tình bạn, tình đồng nghiệp, tình yêu, tình vợ chồng, tình phụ mẫu, tình đồng loại...
Vì một khi đã lướt qua, thì khó có thể gặp lại.
️* Sau 20 tuổi thì đất khách và quê nhà giống nhau vì đi đến đâu cũng có thể thích ứng.
* Sau 30 tuổi thì ban ngày và ban đêm giống nhau vì mấy ngày mất ngủ cũng không sao.
* Sau 40 tuổi thì trình độ học vấn cao thấp giống nhau , học vấn thấp có khi kiếm tiền nhiều hơn.
* Sau 50 tuổi thì đẹp và xấu giống nhau vì lúc này có đẹp đến mấy cũng xuất hiện nếp nhăn và tàn nhang .
* Sau 60 tuổi thì làm quan lớn và quan bé giống nhau vì nghỉ hưu rồi cấp bậc giống nhau.
* Sau 70 tuổi thì nhà to và nhà nhỏ giống nhau vì xương khớp thoái hóa không thể đi được hết những không gian muốn đi .
* Sau 80 tuổi thì tiền nhiều và tiền ít giống nhau vì có tiêu cũng chẳng tiêu được bao nhiêu tiền.
* Sau 90 tuổi thì nam và nữ giống nhau vì không thể làm nổi chuyện gì nữa .
* Sau 100 tuổi thì nằm và đứng giống nhau vì đứng dậy cũng chẳng biết làm gì?
Vậy nên:
Trước hay sau, trẻ hay già, giàu hay nghèo, sang hay hèn, quan hay dân dù là bất cứ ai đều giống nhau.
Vậy nên hãy sống và giữ cho mình thứ tồn tại bất biến là: niềm tin, tình người và nhân nghĩa

21/09/2021

TRỒNG NGƯỜI
Đời người từ lúc nằm nôi
Đến khi nhắm mắt mới thôi học hành
Cô thầy lặng lẽ ươm trồng
Chèo, đưa trò nhỏ qua sông giúp đời
Ươm từng tiếng hát nụ cười
Toán văn sử địa,,,,,,dạy người trò ngoan
Nghề giáo vất vả gian nan
Ươm mầm con chữ làm đời rạng danh
Bao nhiêu tiến sỹ ,doanh nhân
Không thầy cô dạy thì cơm cháo gì
Việt nam ,cô vít tràn về
Giảng dạy trực tiếp chuyển về on lai
Chăm trò dạy dỗ sớm mai
Cô trò bịn rịn mỗi mai ra trường
Thành đạt lập nghiệp tứ phương
Muốn quay trở lại ngôi trường năm nao
Thầy cô xưa ,của năm nào!
Tóc đã điểm bạc vì bao lớp trò?
Ôi nghề nhân đức thơm tho
Dạy tài dạy đức, đẹp cho cuộc đời!!!

21/09/2021

BỐN PHÉP TÍNH CỦA CUỘC ĐỜI
1. Nếu bạn muốn thật giàu có... phải giỏi phép tính NHÂN (nhân bản, nhân cách, nhân từ).
2. Nếu bạn muốn có nhiều bạn bè, nhiều người mến, nhiều người tin tưởng thì phải giỏi phép tính CHIA (chia sẻ). ĐỪNG BIẾT MÀ GIỮ CHO RIÊNG MÌNH.
3. Nếu bạn muốn làm được những gì mình muốn, hãy dùng phép tính CỘNG (cộng tác, hợp tác).
4. Nếu bạn muốn làm cái mới để thay đổi phải bỏ đi những thói quen, cách làm cũ, hãy dùng phép tính TRỪ (loại trừ, buông bỏ).
Thành thạo cả 4 điều trên bạn sẽ trở thành 1 người xuất sắc.
Và Hãy nhớ:
- Nhân (x) chia ( : ) trước
- Cộng (+) trừ ( - ) sau
Cuối cùng, hãy đơn giản hoá cuộc sống của chính bạn. Đừng quên học đi đôi với hành, và thực hành phải luôn đi trước lời nói. Cứ làm tốt những điều trên cuộc đời bạn chắc chắn sẽ thay đổi theo hướng tích cực hơn mỗi ngày và con đường thành công cũng sẽ rộng mở và gần hơn.

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Website

Address

Quận Thanh Trì
Hanoi
100000