Lớp học đặc biệt Sunshine

Lớp học đặc biệt Sunshine

Share

Sunshine là nhóm lớp dành cho các bạn nhỏ có nhu cầu đặc biệt, với tình yêu thương, nhiệt huyết, năng động để sánh bước trên con đường dài và gian nan.

Photos from Lớp học đặc biệt Sunshine's post 03/05/2022

QUÁ TRÌNH PT NGÔN NGỮ Ở TRẺ EM - TRẺ CHẬM NÓI.
🧍‍♂️Giai đoạn phát triển ngôn ngữ bình thường của trẻ được biểu hiện như sau:
• Từ 3 - 6 tháng: trẻ bắt đầu chăm chú nhìn vào người nói chuyện. Quay đầu về phía có tiếng động phát ra.
• Phân biệt được các tiếng động khác nhau phát ra từ các vị trí khác nhau.
• Nói được nguyên âm “a”, từ “ba”, “bà”.
• Từ 6 - 9 tháng: nói được 2 âm khác nhau như “ma ma”, “da da”.
• Từ 9 - 12 tháng: trẻ phát âm “ê”, “a” kéo dài thành một chuỗi âm thanh như người lớn nhưng không rõ từ.
• Tùy theo mỗi trẻ, nhưng khi được khoảng 11 tháng hay 1 tuổi có trẻ nói được khoảng 2 - 3 từ đơn khá rõ, có thể là: bố, bà.
• Từ 12 - 15 tháng: trẻ có thể phát âm như tiết tấu âm nhạc để giữ cho câu chuyện tiếp tục.
• Từ 15 - 18 tháng: sử dụng được 4 từ, thường là tên con vật kết hợp với cử chỉ, đưa tay vẫy, chỉ. Khi trẻ được 18 tháng tuổi trẻ bắt đầu nói và tự nối ghép được hai từ với nhau. Ở giai đoạn này, trẻ nói bắt đầu hình thành các trật tự câu. Trẻ biết chỉ được ít nhất là sáu bộ phận trên cơ thể, chỉ được một hai hình ảnh quen thuộc khi cho trẻ nhìn tranh như: hình bố, hình con cá hoặc hình con chó…
• Từ 18 tháng đến 2 năm: biết khoảng 25 từ, gọi tên người, chào hỏi, từ chối.
• Từ 2 - 3 tuổi: nói rất nhiều, biết từ 50 - 200 từ, tự nói chuyện khi chơi. Đến 3 tuổi trẻ tạo ra một cụm từ có đầy đủ thành phần chủ vị. Trẻ biết sử dụng các câu đơn giản, đặt câu hỏi đơn giản.
Trẻ trả lời được các câu hỏi như: cái gì, ở đâu? Có/không?. Sau giai đoạn này, trẻ sẽ nói được và sẽ tạo đà cho trẻ phát triển được rất nhiều các câu phức tạp, hình thành được các câu chuyện dài với nội dung khá logic.
• Từ 3 - 4 tuổi: trẻ nói được các câu phức tạp trẻ bắt đầu sử dụng các ngôn ngữ ấy một cách khá tốt. Tự kiểm soát được cường độ giọng nói, xây dựng ngữ điệu như người lớn, thường hỏi cái gì, ở đâu, tại sao...
👉Nguyên nhân khiến trẻ chậm nói:
Nguyên nhân làm trẻ chậm nói được xếp thành 2 nhóm chính là nguyên nhân thực thể và nguyên nhân tâm lý:
• Nguyên nhân thực thể là do trẻ có những vấn đề về cơ quan phát âm (tai, mũi, họng).Cụ thể trẻ chậm nói có thể do khiếm khuyết ở miệng, như vấn đề về lưỡi hoặc hở hàm ếch. Nếu lưỡi bị ngắn (do nếp gấp dưới lưỡi) có thể hạn chế chuyển động lưỡi khi nói. Nhiều trẻ em bị chậm phát triển nói do có vấn đề về răng miệng. Trẻ gặp khó khăn trong sử dụng và phối hợp giữa môi, lưỡi, và hàm để tạo âm thanh lời nói. Lúc này, vấn đề khó khăn bé gặp phải không chỉ là nói mà còn khó khăn trong một số hoạt động khác như khi ăn, uống. cơ quan chỉ huy (não bị dị tật bẩm sinh, bại não, những di chứng sau xuất huyết não, viêm màng não...)

• Nguyên nhân tâm lý là do gia đình hoặc quá cưng chiều, hay bỏ bê trẻ, hoặc đã xảy ra một biến cố nào đó làm ảnh hưởng đến tâm lý trẻ.

💁Khi nào cần can thiệp?
Trước tiên cha mẹ, người thân cần chú ý chăm sóc, quan tâm phát triển kỹ năng ngôn ngữ ở trẻ phù hợp với độ tuổi, và cần can thiệp sớm khi thấy trẻ có dấu hiệu bất thường về phát triển ngôn ngữ.

👉Dấu hiệu cho thấy bé chậm nói:
- Không đáp ứng với giọng nói hay những âm thanh to khi bé 6 – 8 tuần tuổi.
- Không cười với giọng nói của cha mẹ lúc 2 tháng.
- Không quan tâm đến người và vật xung quanh lúc 3 tháng.
- Không quay đầu theo hướng âm thanh lúc 4 tháng.
- Không cười tự phát lúc 6 tháng.
-Không bập bẹ lúc 8 tháng.
- Ở thởi điểm 12 tháng không sử dụng cử chỉ, ví dụ chỉ tay hoặc vẫy tay bye-bye.
- Ở thời điểm 18 tháng tuổi bé vẫn dùng những cử chỉ thay cho phát âm để giao tiếp.
- Có vấn đề rắc rối nếu không bắt chước được âm thanh khi 18 tháng tuổi. Vốn từ của bé ít hơn 6 từ. Bé thích dùng cử chỉ hơn là phát âm để giao tiếp. Không hiểu các yêu cầu bằng lời nói đơn giản.
-Không nói được từ đơn lúc bé 2 tuổi. Chỉ nhắc đi nhắc lại vài từ mà không thể sử dụng ngôn ngữ nói để giao tiếp theo đúng sự phát triển bình thường.
- Không nói được một câu đơn giản khi bé 3 tuổi.

🏠Nếu thấy trẻ có một trong những biểu hiện trên, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để kiểm tra. Tùy theo mức độ chậm nói và độ tuổi của trẻ các bác sĩ, nhà trị liệu sẽ có nhiều hình thức can thiệp khác nhau như tư vấn, hướng dẫn cha mẹ huấn luyện ngôn ngữ cho trẻ tại gia đình, hoặc cần kết hợp chuyên gia ngôn ngữ, tâm lý và bác sĩ để can thiệp thúc đẩy ngôn ngữ ở trẻ.
Đối với trẻ chậm nói do nguyên nhân thực thể, đa phần là do trẻ có vấn đề về thính lực. Các bác sĩ phải điều trị về thính lực cho trẻ. Đối với trẻ bị điếc nhẹ và điếc trung bình thì việc điều trị trước 5 tuổi rất có hiệu quả. Trong những trường hợp điếc do viêm tai, thủng màng nhĩ, trẻ sẽ được điều trị bằng phẫu thuật, vá màng nhĩ để nâng sức nghe. Với những trường hợp không nghe lại được thì phải can thiệp bằng cách đeo máy nghe.

🎒Các nguyên tắc cơ bản giúp cho trẻ cải thiện khó khăn về ngôn ngữ:
1. Giúp trẻ xây dựng mối quan hệ gắn bó:
Cha mẹ cần giúp trẻ hình thành mối quan hệ gắn bó với mình trong việc gần gũi với trẻ, cùng chơi đùa, cùng ăn uống, cùng trò chuyện với sự thân thiện và tôn trọng trong một môi trường an toàn và vui vẻ.
Cha mẹ nên khám phá những mặt mạnh, những điểm tích cực của trẻ để khuyến khích, nâng đỡ chứ không lèo lái các hoạt động của trẻ theo ý mính, không “ xâm phạm lãnh thổ cá nhân” của trẻ. Tuyệt đối không la mắng, trừng phạt bằng đòn roi mà chỉ là sự nhắc nhở rõ ràng và kiên quyết.

2. Giúp trẻ biết cách bầy tỏ nhu cầu:
Cha mẹ cần kiên nhẫn chờ đợi, khích lệ trẻ bầy tỏ nhu cầu thay vì phỏng đoán và đáp ứng ngay (làm thay cho trẻ). Những hành vi bùng nổ, la hét, tự hành hạ ( đập đầu, cào cấu, nằm lăn ra đất…) cũng chỉ là một loại “ngôn ngữ không lời” che dấu một nhu cầu, một ước muốn. Cha mẹ nên hết sức bình tĩnh để phân biệt các nhu cầu thực sự và những đòi hỏi, nhõng nhẽo quá đáng của trẻ. Cho trẻ biết đâu là sự giới hạn, sự cho phép và những điều không được phép làm với một ngôn ngữ không đe dọa hay mua chuộc.
Phải biết nói KHÔNG với những yêu cầu không thích hợp, nhưng đồng thời cũng cho phép trẻ có thể TỪ CHỐI bằng lời nói hay những hành động đơn sơ của mình, và cũng thông báo điều này cho mọi người có liên hệ với trẻ. Điều này sẽ giúp trẻ từ từ trở nên một chủ thể sáng tạo, biết tự quyết định, chọn lựa thay vì chỉ có những phản ứng máy móc, tự động, chỉ biết nhắc lại.

3. Giúp trẻ tham gia các hoạt động tâm vận động:
Trong một ngày, trẻ cần có một khoản thời gian nhất định ( tuỳ điều kiện để bố trí vào buổi sáng hay chiều, tối và chỉ kéo dài tối đa 60 – 90 phút ) – Trong buổi sinh hoạt này, trẻ sẽ vừa chơi vừa học bằng những họat động tạo vui thú như leo trèo, nhảy, xây dựng – phá hủy ( mô hình – khối gỗ…) trốn tìm ( chơi bịt mắt – chơi tìm và đoán các đồ vật bị che dấu).
Qua các trò chơi tương tác giữa mẹ và con, trẻ học được cách chờ đợi ( lần lượt làm, đến phiên mình) qua đó cũng biết luôn về giá trị của thời gian, biết phân biệt trước, sau. Hoạt động này giúp trẻ giải tỏa ức chế, phóng ngoại và xây dựng ý thức về bản thân, tạo điều kiện cho trẻ biết chọn lựa, vui thú và hành động tự chủ.

4. Trò chơi “Bập bẹ - líu lo” vận dụng các cơ quan phát âm của trẻ:
Cha mẹ khích lệ trẻ tự nói, dù chỉ là những tiếng bập bẹ, líu lo. Hãy xem đó như một trò chơi, khi trẻ nói cha mẹ sẽ bắt chước nói lại với những âm thanh tương tự, nhưng sẽ có những điều chỉnh và mở rộng hơn. Cha mẹ cũng có thể thu băng các lời nói của trẻ và sau đó phát lại cho trẻ nghe, điều này sẽ khích lệ trẻ phát âm nhiều hơn.

5. Lặp lại một số âm thanh và từ ngữ có trong ngôn ngữ bình thường:
Sau khi trẻ đã phát ra nhiều âm thanh trong lúc vui đùa, cha mẹ chọn lọc những âm thanh nào tương tự, gần giống với những từ phổ biến hàng ngày để nhắc lại cho trẻ ghi vào bộ nhớ.
Ví dụ : trẻ nói :Mờ, mờ - Mẹ: Má , trẻ: Bờ bờ - Mẹ: Ba, Trẻ: Chờ, chờ - Mẹ: Chơi, trẻ: Cờ cờ - Mẹ: Con.
Hoạt động này giúp trẻ biết cách phát ra ngôn ngữ bình thường. Tập cho trẻ phát ra những câu có 2 từ : ba về, đi chơi, cho con, cho má….

6. Giúp trẻ biết cách kết hợp và sắp xếp các đồ vật, hình ảnh và ngôn từ với nhau:
Cha mẹ xếp đặt một số mẫu vật dụng trước mặt trẻ và bảo trẻ làm lại giống như mình: Xếp cốc vào một chỗ, xếp thìa lại với nhau, xếp hình các con vật giống nhau cạnh nhau, xếp từ ghi tên đồ vật, con vật vào dưới ảnh của đồ vật hay ảnh con vật đó.
Cho trẻ xếp theo trình tự:
1/ Hình thể và màu sắc hoàn toàn giống nhau.
2/ Đồ vật và hình ảnh có màu sắc – kích thước tương tự
3/ Đồ vật và hình ảnh có màu sắc và kích cỡ khác nhau
4/ Chữ và hình đồ vật ( chữ GẤU dưới hình con Gấu)
Sắp xếp theo công dụng:
1/ Các dụng cụ học tập ( viết, tập, gôm…)
2/ Các dụng cụ làm bếp, các dụng cụ trong phòng khách, phòng ăn…
Sắp xếp theo khu vực hoạt động:
1/ Các sinh vật trên trời, dưới biển, trong rừng
2/ Các đồ vật ở nhà, trong Siêu thị, ngoài đường phố.

7. Giúp trẻ nghe và hiểu một số từ thông thường, qua việc thi hành những mệnh lệnh đơn sơ:
Bước đầu tập cho trẻ đi lấy những món đồ chơi, những đồ dùng hàng ngày, sau đó thông qua hình ảnh, nâng cao vốn từ cho trẻ để có thể nhận ra và chỉ từ 25 – 100 món đồ.

8. Giúp trẻ gọi tên từ 25 – 100 đồ dùng và các hoạt động thường ngày:
Thông qua các hình ảnh, trò chơi và các hoạt động hàng ngày để tạo điều kiện và khuyến khích trẻ có thể gọi tên các đồ vật và hoạt động hàng ngày.

9. Giúp trẻ hiểu biết và nói về các hoạt động trong gia đình:
Xây dựng một lịch hoạt động để trẻ ý thức được các hoạt động trong ngày, biết và xác định được các thời điểm ( trước/sau) các công việc nối tiếp để tạo sự ổn định tâm lý cho trẻ.
Lịch hoạt động ghi lại những hoạt động chính trong 1 ngày ( từ sáng đến tối) và trong 1 tuần ( từ thứ 2 – chủ nhật) bằng các hình vẽ đơn giản và lời minh họa ngắn gọn.

10. Biết trả lời các câu hỏi :
Giúp trẻ phát triển khả năng hình dung và tưởng tượng thông qua các câu hỏi gợi ý : Cái gì, ở đâu, thế nào, để làm gì, khi nào …
Nếu trẻ trả lời đúng phải khen ngợi, động viên – Nếu trẻ trả lời sai thì bỏ qua và nhắc lại câu hỏi. Đừng hỏi nhiều và tản mạn, cần tập trung vào một chủ đề ( Ví dụ: các loại bánh – các loại đồ dùng trong nhà bếp/phòng ăn/phòng ngủ)

11. Giúp trẻ nhận biết và sử dụng chữ và số:
Thông qua các trò chơi kết hợp hình ảnh và chữ viết
Khi tập cho trẻ nhận biết về con số, không phải là biết nhìn ra từ số 1 -10 hay đọc được đến 100, mà là biết rõ số lượng ( hai cái bánh, hai cái chén, hai con vịt…ba cái ly ) và mối tương quan ( hai cái ly thì nhiều hơn một cái ly ) – Khi được yêu cầu, trẻ có khả năng lấy ra 2,3 hình cái ly trong một loạt các hình bầy trước mắt. Trẻ có thể ghép được chữ Bàn ở dưới hình cái bàn.

12. Xây dựng mối quan hệ tốt và giúp trẻ biết chơi đùa với bạn bè
Chơi đùa là một hoạt động rất quan trọng, qua các trò chơi trẻ có thể thiết lập mối quan hệ tốt với bố mẹ và bạn bè. Ngay cả trong các hoạt động hàng ngày cũng nên đưa vào những câu nói và ý tưởng như một trò chơi ( Đố con lấy được cho mẹ hai cái chén sứ trong tủ chén – Đố con lên cầu thang trước mẹ …) Trong các ngày nghỉ, Lễ Tết, sinh nhật hãy tạo điều kiện cho trẻ đến chơi các công viên, khu vui chơi hay mời các trẻ quen biết lại nhà chơi.
(Tài liệu ST)
______________________________________
🌻LỚP HỌC ĐẶC BIỆT SUNSHINE🌻
💁‍♀️Nhận dạy : + Các bạn có nhu cầu đặc biệt " Chậm nói, RLP tự kỷ, tăng động giảm chú ý, down, bại não, khuyết tật trí tuệ, khó khăn trong học tập.
+ Rối loạn âm lời nói ( Ngọng)
+ Tiền tiểu học
🏠 Ngõ 67, Phố Cầu Cốc, Tây Mỗ, Nam Từ Liêm, HN.
☎️ 0963.001.541

19/02/2022

Kiến thức cơ bản về trẻ tự kỷ❤️❤️❤️

Tự kỷ là một hội chứng rối loạn phát triển lan tỏa ở trẻ em, bao gồm những khiếm khuyết nặng nề về khả năng tương tác xã hội, giao tiếp và những quan tâm, hoạt động bó hẹp, định hình. Trẻ tự kỷ điển hình có thể bị rối loạn nhiều kỹ năng phát triển như: tư chăm sóc, ngôn ngữ, giao tiếp ứng xử, quan hệ xã hội, hành vi, cảm xúc, trí tuệ… Theo phân loại của Hội tâm thần Mỹ, có 5 chứng thuộc các rối loạn lan tỏa kiểu tự kỷ, bao gồm:
🖍️ Hội chứng Asperger
🖍️Chứng tự kỷ điển hình
🖍️Hội chứng Rett
🖍️Hội chứng thoái triển ở trẻ em
🖍️Các rối loạn phát triển không đặc hiệu ứng

1️⃣ Chi tiết các chứng:
📌 Hội chứng Asperger:
Được thầy thuốc nhi khoa người Áo tên là Hans Asperger mô tả đầu tiên vào năm 1944. Tần suất gặp vào khoảng 1 trên 250 trẻ. Người lớn và trẻ em bị hội chứng này thường có năng lực trí tuệ tương đối bình thường nhưng có một số đặc điểm như sau:

- Khiếm khuyết về quan hệ xã hội: Kém về khả năng kết bạn so với các trẻ cùng tuổi khác; Sử dụng các kỹ năng không lời kém, chẳng hạn: nhìn bằng mắt, thể hiện bằng nét mặt, ngôn ngữ cơ thể… để kiểm soát giao tiếp xã hội; Thiếu sự giao lưu về xã hội, tình cảm và thấu cảm; Mất khả năng nhận biết về những ám chỉ, quy ước xã hội.
- Khiếm khuyết các kỹ năng giao tiếp tinh tế: Lời nói của trẻ lưu loát nhưng có khó khăn về hội thoại như: nội dung cứng nhắc, mô phạm, ngữ điệu không bình thường và có xu hướng hiểu theo nghĩa đen của thông điệp giao tiếp.
- Mối quan hệ hạn chế: Có những quan tâm đặc biệt , bất thường về cường độ và sự tập trung; Có xu thế các cử động định hình và cố định.

Bên cạnh những dấu hiệu điển hình đó, có một số biểu hiện khác thường gặp như: tay chân vụng về, thuận tay trái, nhạy cảm với âm thanh, sờ chạm. Thiếu niên hoặc người lớn bị bệnh này thường kém trong việc phân bố thời gian, trong việc thể hiện ý nghĩ và lời nói. Họ cũng có khó khăn trong kiểm soát và thể hiện cảm xúc của mình.

📌Hội chứng Rett

Hội chứng Rett là một trong 5 trường hợp rối loạn phát triển, khá hiếm gặp và chỉ thấy ở trẻ gái. Tần suất gặp là 1 trên 10.000-15.000 trẻ. Trẻ có một thời kỳ phát triển gần như bình thường ở độ tuổi 6-18 tháng. Sau đó xuất hiện các triệu chứng “thoái triển” và khác biệt hoàn toàn với tự kỷ. Não và đầu trẻ không phát triển nữa. Trẻ bị chậm phát triển về mặt xã hội và trí tuệ ngày càng nặng. Trẻ không đáp ứng lại với cha mẹ và quay lưng lại với tiếp xúc xã hội. Trẻ đang nói sẽ dần không nói được. Trẻ đi lại kém thăng bằng, tay trở nên không sử dụng được nữa và thường có những cử động định hình như: xoắn vặn, vỗ đập tay…Trẻ bị hội chứng Rett hay bị co giật và thường gặp hiện tượng thủ dâm. Những nghiên cứu về di truyền cho thấy đột biến chuỗi gen có thể gây ra hội chứng Rett.

Hội chứng Rett có khác biệt lớn hơn so với tự kỷ: thoái triển cả ngôn ngữ và vận động; trí tuệ chậm nặng. Trong khi trẻ bị tự kỷ không bị rối loạn vận động, trí tuệ phát triển bình thường. Trẻ bị chứng Rett thường nhìn chằm chằm trong khi trẻ tự kỷ liếc mắt rất kém. Trẻ bị tự kỷ cũng có các hành vi định hình nhưng những cử động đó phức tạp và đa dạng, ít khi cả hai tay thu về đường giữa (Còn trong hội chứng Rett lại thường thấy).

📌Hội chứng thoái triển ở trẻ em

Có rất ít trẻ bị tự kỷ được chuẩn đoán là hội chứng mất hòa nhập. Qua nhiều cuộc điều tra, người ta thấy chỉ có khoảng 2/100.000 trẻ mắc phải hội chứng này. Thông thường trẻ phát triển về giao tiếp và xã hội hầu như bình thường cho tới 3-4 tuổi. Giai đoạn phát triển bình thường khá dài rồi mới bị thoái triển giúp phân biệt hội chứng bất hòa nhập với hội chứng Rett. Trẻ bị chứng này khác so với tự kỷ “kinh điển” ở chỗ bị khiếm khuyết nặng nề vận động, giao tiếp và về quan hệ xã hội. Khác với tự kỷ, trẻ bị mất ngôn ngữ nặng, kém về kỹ năng xã hội và vui chơi. Bên cạnh đó, trẻ còn bị kiểm soát đại tiểu tiện, động kinh và chậm phát triển trí tuệ nặng.

📌Các rối loạn phát triển không đặc hiệu ứng

Đây là nhóm các rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu, bao gồm tất cả những trường hợp không phải những bệnh lý đã nêu trên. Trẻ cũng bị rối loạn về tương tác xã hội, giao tiếp và hành vi. Các tiêu chí để nhận biết gồm:

- Khiếm khuyết của một trong 3 kỹ năng trên quá “nhẹ” để chuẩn đoán nhưng quá nặng để xếp vào bệnh lý nhẹ hơn (được coi là tự kỷ nhẹ)

- Tuổi xuất hiện sau 30 tháng.

- Là sự xếp loại nhất thời khi các dấu hiệu quyết định như thời điểm xuất hiện các khiếm khuyết giao tiếp xã hội đều gới ý một dạng tàn tật khác như: loạn thần, loạn ngữ nghĩa và sử dụng ngôn ngữ…

📌 Tự kỷ diển hình

Ở hầu hết mọi nơi trên thế giới, các thống kê đều cho thấy tỷ lệ tỷ lệ trẻ mắc chứng tự kỷ gia tăng một cách đáng kể. Thậm chí có tác giả còn gọi đó là một bệnh dịch. Chẳng hạn ở Mỹ, những năm 80 của thế kỷ trước, người ta thống kê được số trẻ mắc tự kỷ chỉ chiếm tỷ lệ 1/2000 trẻ. Nhưng hiện nay tỷ lệ này là 6/2000 trẻ (từ 1/500 trẻ dến 1/166 trẻ). Tăng 12.04%. Đây thực sự là sự gia tăng quá lớn sau 2 thập kỷ. Thống kê của Anh cũng cho thấy tình cảnh tương tự. Hiện nay, tỷ lệ mắc chứng này ở đất nước này vào khoảng 1/150 trẻ.

Cũng theo thống kê của Mỹ về một số dạng tật trẻ em, thấy rằng tỷ lệ mắc của tự kỷ thấp hơn so với chậm phát triển trí tuệ (9,7 trên 1000 trẻ), nhưng cao hơn so với tỷ lệ mắc của bại não (2,8 trên 1000), khiếm thính (1,1 trên 1000) và khiếm thị (0,9 trên 1000 trẻ ở độ tuổi 3-10 tuổi).

Tỷ lệ mắc của một số dạng tật trẻ em (Center of Diseases Control 2003-Mỹ). Ở trong nước cũng thấy hiện tượng ngày càng gia tăng về những trường hợp tự kỷ mới. Trước kia vào khoảng thập kỷ 80, còn có nhiều chuyên gia cho rằng ở Việt Nam không có trẻ bị tự kỷ. Khái niệm tự kỷ còn rất xa lạ đối với các chuyên gia y tế nói chung và thầy thuốc khoa nhi nói riêng. Thậm chí vấn đề tự kỷ mới chỉ được đưa vào nội dung giảng dạy của trường Đại học Hà Nội trong vài năm trở lại đây. Hiện nay việc trẻ tự kỷ có thể gặp ở bất kỳ cơ sở y tế hay giáo dục nào là thực tế.

✅ Các dấu hiệu của chứng tự kỷ:

Tự kỷ có biểu hiện đặc trưng bằng 3 lĩnh vực:

- Khó khăn về quan hệ xã hội: Trẻ không biết khởi xướng, bắt đầu làm quen hoặc khó tiếp nhận một người bạn mới. Trẻ ít quan tâm và không có nhu cầu chia sẻ hứng thú, nhu cầu và hoạt động với bạn bè và mọi người xung quanh.

+ Không thưa khi gọi tên.

+ Không nhìn mặt người đối thoại khi chơi, giao tiếp

+ Tỏ ra không nghe thấy ai lúc đó (trẻ như không ở đó)

+ Kháng cự lại sự vuốt ve, ôm ấp hoặc âu yếm.

+ Tỏ ra không biết đến tình cảm của người khác.

+ Có vẻ thích chơi một mình-co lại trong thế giới riêng của trẻ.

- Khiếm khuyết về khả năng ngôn ngữ và giao tiếp. Nếu chưa biết nói: trẻ có khiếm khuyết trong việc sử dụng các kỹ năng giao tiếp không lời như:

+ Không nhìn mặt người đối thoại khi giao tiếp

+ Không hiểu và không sử dụng nét mặt, cử chỉ, tư thế cơ thể để giao tiếp

+ Các âm thanh lời nói bất thường về cao độ hoặc cường độ.

+ Không biết yêu cầu, phản đối hoặc thể hiện các nhu cầu bản thân

+ Không hoặc khó học các luật lệ về giao tiếp như: chào hỏi, xin đồ vật hoặc “ạ”, “bye, bye”…

+ Nếu trẻ đã nói được: Trẻ học nói muộn hơn trẻ bình thường; Mất khả năng nói được từ đơn hoặc cả câu sau khi đã biết nói; Trẻ dùng phát ngôn không phù hợp với mục đích: đáng lẽ trả lời thì trẻ nhắc lại câu được hỏi, nói nhại, nói vọng… Phát ngôn hoặc câu của trẻ có ngữ điệu đơn điệu, nghe véo von, thường có âm sắc cao hơn bình thường.

+ Nếu trẻ có ngôn ngữ khá hơn, có thể thấy chậm phát triển ngôn ngữ so với trẻ cùng độ tuổi. Trẻ thường không hiểu câu hỏi, ngôn ngữ của trẻ đơn giản, hiếm dùng những khái niệm so sánh, tưởng tượng.

- Các hành vi và các mối quan tâm bất thường

+ Các hành vi hoặc cử động định hình, lặp đi lặp lại: trẻ như bị cuốn hút vào một cử chỉ, một hoạt động hoặc trò chơi nào đó hàng giờ hoặc cả buổi. Ví dụ: xoắn cả buổi, vê vê ngón tay, vò giấy, quay bánh xe ô tô (đồ chơi)…

+ Trẻ có thể thích duy nhất một đồ vật, hoặc chỉ chơi với một người nào đó trong gia đình…

+ Trẻ có thể chỉ quan tâm và vê, xoay một chi tiết của vật: bánh xe, ống khói,…

+ Trẻ có thể có những phát ngôn hoặc phát ra âm thanh nào đó một cách định hình: tự phát, không có chủ ý và trong mọi tình huống…

+ Trẻ có thể nhạy cảm với một số loại kích thích (khi bị vuốt ve, sờ chạm hoặc có ánh sáng, tiếng động…)

b. Những rối loạn khác đi kèm với tự kỷ:

- Rối loạn giác quan: Nếu nhận thức của trẻ đã khá, trẻ có thể học được từ những gì chúng nhìn thấy, cảm thấy hoặc nghe thấy. Hoặc ngược lại nếu các thông tin từ giác quan bị sai lệch, những kinh nghiệm về thế giới có thể lẫn lộn. Nhiều trẻ tự kỷ có thể hòa nhập tốt hoặc thậm chí có nhạy cảm đau đối với một số âm thanh, loại vải, mùi vị. Một số trẻ không chịu đựng nổi khi quần áo chạm vào da. Một số âm thanh ví dụ như: máy hút bụi, chuông điện thoại, sấm chớp, ngay cả tiếng song vỗ vào bờ có thể khiến trẻ bịt tai và khóc thét lên. Ở trẻ tự kỷ, não thường tỏ ra khó cân bằng các cảm giác cho tương xứng. Một số trẻ tự kỷ không chú ý tới quá lạnh hoặc quá đau, chẳng hạn trẻ có thể tự đập đầu vào cạnh bàn làm lõm bên đầu nhưng không có cảm giác đau.

- Chậm phát triển trí tuệ
- Co giật
- Hội chứng nhiễm sắc thể X gãy
- U xơ thần kinh

2️⃣ Can thiệp sớm tự kỷ

Can thiệp đối với trẻ bị tự kỷ là 1 chương trình can thiệp toàn diện, lâu dài và cần có sự tham gia của mọi thành viên liên quan đến trẻ: cha mẹ, giáo viên và các chuyên gia. Trẻ cần được can thiệp từ nhiều phương diện: chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ, giáo dục và uốn nắn, hỗ trợ các kỹ năng cần thiết.

📌Giáo dục hành vi: Hiện nay, phương pháp ứng dụng Phân tích hành vi được áp dụng phổ biến trên thế giới trong việc dạy hành vi cho trẻ tự kỷ. Nguyên tắc của nó là xây dựng những hành vi có lợi về mặt xã hội và hạn chế những hành vi xấu.Quan điểm phân tích hành vi nhìn nhận tự kỷ như 1 hội chứng khiếm khuyết về hành vi do tổn thương thần kinh. Nhưng có thể thay đổi được nhờ một hệ thống tác động từ môi trường có thiết kế thành một chương trình cẩn thận. Giáo dục phân tích hành vi tập trung vào dạy một hệ thống những phần nhỏ đo lường được của hành vi. Mọi kỹ năng của trẻ (xã hội, giao tiếp,tự chăm sóc,…) được chia thành những bước nhỏ để dạy. Việc dạy này phải được tiến hành một đối một, nhờ các kỹ thuật đặc biệt. Trung tâm ứng dụng khoa học tâm lý Sống Trẻ đang áp dụng phương pháp này.

📌Ngôn ngữ trị liệu: Dạy trẻ tự kỷ giao tiếp là một trong những kỹ năng quan trọng vì giao tiếp là một trong những phương tiện giúp trẻ bộc lộ nhu cầu, hạn chế được hành vi xấu giúp tăng cường kỹ năng xã hội của trẻ. Tùy mức độ phát triển về trí tuệ, khả năng của trẻ mà các chuyên gia ngôn ngữ có thể dạy trẻ giao tiếp bằng lời nói, bằng cử chỉ hoặc bằng hình hình vẽ. Trước hết khả năng giao tiếp, ngôn ngữ, các khả năng giao tiếp không lời,..của trẻ được đánh giá. Việc huấn luyện ngôn ngữ của trẻ cũng được tiến hành 1 cô 1 trẻ, hằng ngày hoặc cách ngày.

Kết quả huấn luyện giao tiếp phụ thuộc nhiều vào sự tham gia của cha mẹ, thời điểm bắt đầu sớm hay muộn, mức độ phát triển trí tuệ và các kỹ năng khác của trẻ.

📌Can thiệp qua các giác quan: Hầu hết trẻ tự kỷ có vấn đề giác quan hoặc quá nhạy cảm hoặc trơ với các kích thích từ môi trường xung quanh. Việc tăng cường nhận thức giác quan của trẻ chủ yếu nhằm vào những cảm giác: tiền đình (về vận động và thăng bằng), xúc giác (cảm giác sờ chạm) và cảm thụ bản thể (cảm giác về vị trí thân thể trong không gian). Những kích thích này được thực hiện hằng ngày vào những thời gian nhất định, dưới dạng các động tác ve vuốt nhẹ nhàng dọc theo các phần thân thể của trẻ; những bài tập hoặc các hoạt động vui chơi, đi cầu thăng bằng, ngồi xích đu,…Sau 1 thời gian thực hiện các hoạt động này hầu hết trẻ đều tiếp nhận kích thích một cách dễ dàng, thích thú.

- Cải thiện kỹ năng xã hội

- Dạy trẻ vui chơi

📌 Sự tham gia của cha mẹ trẻ: Gia đình, cha mẹ và mọi người xung quanh trẻ là những người quan trọng nhất để can thiệp có hiệu quả. Đầu tiên, nhờ cha mẹ mà các khó khăn của trẻ được phát hiện, chuẩn đoán sớm. Việc cha mẹ tham gia can thiệp sớm là yếu tố quyết định. Có nhiều lý do khiến cha mẹ đóng vai trò quan trọng trong chương trình can thiệp sớm: giai đoạn trẻ dưới 3 tuổi, việc cho ăn uống , chăm sóc chiếm hầu hết khoảng thời gian trong hoạt động sinh hoạt hằng ngày của trẻ. Tiếp theo, cha mẹ là người luon thường xuyên ở bên cạnh trẻ, mọi kỹ năng được học có được áp dụng thường xuyên và liên tục. Mọi dịch vụ cần thiết đối với trẻ đều được cha mẹ áp dụng. Chưa kể, việc áp dụng sớm các kỹ năng dạy trẻ có thể mang lại hiệu quả tuyệt vời và dễ dàng hơn so với việc bắt đầu can thiệp muộn.
------
Nguồn: ST

03/02/2022

🐯CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2022 🐯
Kính chúc Ông Bà, Bố mẹ, cô dì, chú bác, anh chị em, bạn bè đồng nghiệp năm mới sức khỏe dồi dào, phát tài phát lộc, hạnh phúc, bình an.

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Website

Address

Hanoi

Opening Hours

Monday 07:30 - 20:00
Tuesday 07:30 - 20:00
Wednesday 07:30 - 20:00
Thursday 07:30 - 20:00
Friday 07:30 - 20:00
Saturday 07:30 - 20:00