Akigawa Class 秋河クラス

Akigawa Class 秋河クラス

Share

日本語を楽しもう〜
Lớp tiếng Nhật nhỏ xinh giúp mọi người khám phá tiếng Nhật như làm quen một người bạn mới 🍀

Photos from Akigawa Class 秋河クラス's post 31/05/2026

✨Từ vựng N1 quan trọng?✨

Thật ra từ nào chả quan trọng nếu bạn cần nó để hiểu thông điệp từ bài đọc hay bài nghe =]]

Ở đây chỉ tổng hợp các cụm hay xuất hiện trong N1 thôi, học ra sao là tùy ở bạn 😌

24/05/2026

Trả lời câu hỏi: 食べさせる có dùng cho động vật được không?

22/05/2026

✨Sự khác biệt giữa よい và いい✨

Khi mới học về tính từ, hẳn bạn sẽ thắc mắc rốt cuộc tại sao いい lại phải chia thành よくない ở dạng phủ định.

Tôi sẽ giải thích dựa trên những thông tin có được từ những nguồn uy tín.

🌵Về mặt ngữ nghĩa: Không có gì khác biệt

🌵Nguồn gốc từ cổ văn

よい (yoi) là từ cổ hơn rất nhiều. Dạng văn ngữ (văn cổ) của 「よい」 là 「よし」(yoshi), đã có xuất hiện trong các văn bản từ thời Nara và đầu thời Heian như 日本書紀 (Nihon Shoki) và 万葉集(Man'youshuu).

いい (ii) xuất hiện vào thời Edo.
日本国語大辞典 cho rằng đây có lẽ là từ phát sinh từ cách phát âm trại theo giọng Kantou của từ えい (ei) thấy ở đầu thời Edo. えい dường như đã phổ biến và được sử dụng từ khoảng niên hiệu Meiwa - An’ei (1764–1781), bắt đầu được dùng bởi tầng lớp 俠客 (kyoukaku giới hiệp khách).

Tức là chúng ta có: よし → よい → えい (giọng Kantou) → いい

🌵Về văn phong
よい mang tính văn viết còn いい mang tính khẩu ngữ.

🌵Về ngữ pháp
よい đầy đủ các dạng chia của tính từ, còn いい chỉ có dạng 終止形 (kết câu) và 連体形 (bổ nghĩa danh từ).

Chính vì thế có quan điểm không coi よい và いい là hai từ khác nhau, mà coi rằng dạng 終止形・連体形 của よい có hai biến thể là よい và いい.

⚠️ Tiếng Nhật trong suốt lịch sử có khuynh hướng dung hợp các chuỗi nguyên âm (連母音) thành nguyên âm dài duy nhất. Các nguyên âm kép /ai, oi, ui/ v.v. biểu hiện qua nhiều dạng dung hợp khác nhau trong các phương ngữ khắp Nhật Bản. Ví dụ dễ thấy nhất là hiện tượng ai → trường âm e.

18/05/2026

〜が最後: khi が không phải が hiện đại 🧐

Cấu trúc: 動詞タ形 + が最後

⚠️Trong tiếng Nhật cổ văn, が là 格助詞 có thể dùng thay cho の (連体修飾格 bổ nghĩa cho danh từ phía sau). Tức là が và の vốn gần như hoán đổi được cho nhau trong nhiều trường hợp.

⚠️Phân tích 〜たが最後:
〜た + が(=の) + 最後
[đã V] [của/về] [điểm cuối cùng]
Nghĩa gốc: "điểm cuối cùng của việc đã làm ~"
Tức là một khi hành động đó xảy ra, mọi thứ đều chấm dứt từ đó.

⚠️Cấu trúc này cùng một が với:

〜がゆえに = 〜が(の) + ゆえに = "vì lý do của ~"

Cả hai đều dùng が theo nghĩa "の" trong cổ văn, gắn một cụm động từ vào danh từ phía sau. が trong tiếng Nhật hiện đại (chỉ chủ ngữ) là một chức năng khác hoàn toàn.
Trong cổ văn Nhật, が và の không có ranh giới rõ ràng. が với chức năng 連体修飾格 mang nghĩa "〜の" (bổ nghĩa cho danh từ).

3 câu ví dụ:
① チャンスは一度逃したが最後、二度と訪れないかもしれない。
👉 Cơ hội mà đã để tuột một lần rồi, có khi sẽ không bao giờ quay lại nữa.

② この子はデパートでほしいおもちゃを見つけたが最後、買ってもらえるまでそこを離れようとしない。
👉 Đứa bé này mà đã nhìn thấy món đồ chơi mình thích ở trung tâm thương mại, sẽ không chịu rời chân cho đến khi được mua mới thôi.

③ おしゃべりな彼女に話したが最後、あした中には君の秘密は社内に知れ渡るよ。
👉 Cậu mà đã lỡ kể cho con bé hay chuyện đó nghe rồi, ngày mai bí mật của cậu sẽ lan khắp công ty đó.

Tóm lại:
〜たが最後 = "kể từ cái mốc đó trở đi, không thể quay đầu"

12/05/2026

Tận dụng AI để học nghe

Thay vì nghe-chép khá tốn thời gian, bạn sẽ không chép toàn bộ câu mà chỉ chép ra những âm mà bạn chưa rõ là gì.

Chẳng hạn, bạn nghe bài tiếng Trung về buổi phỏng vấn giáo sư, bắt được cụm gồm 3 từ "ji liang nian", nghĩ không ra là gì. Bạn hỏi AI với ngữ cảnh đã rõ, những câu bạn nghe được trước đó và những từ đằng sau, phiên âm của từ còn thiếu, nhờ AI đưa gợi ý xem từ đó có thể là gì rồi kiểm chứng. Việc này sẽ giúp bạn bớt thụ động khi nghe.

Cụ thể trong trường hợp trên, bài nghe có câu đầy đủ là "还有李教授jiliangnian 发表的文章", AI sẽ nhanh chóng đưa ra câu trả lời cho bạn là 近两年.

12/05/2026

✨Khóa tiếng Nhật nhập môn✨

Chúng mình sẽ học từ Hiragana, dành cho người bắt đầu từ con số 0 hoặc đã thử nhiều cách nhưng không thể nhớ được bảng chữ cái.

Đặc biệt, lớp phù hợp cho ai chỉ có 30-60 phút mỗi ngày để tự ôn tập 😄

Ở Gõ Cửa, mình sẽ chỉ bạn:

→ Nguồn gốc chữ
→ Thứ tự nét đúng
→ Phát âm kĩ (cho ai chưa biết, ngữ âm và ngữ pháp có quan hệ chặt chẽ với nhau)
→ Cách phân biệt những chữ trông-có-vẻ-giống-nhau
→ Cấu trúc câu
→ Vai trò của TRỢ TỪ
→ です nên hiểu thế nào?
→ Cách tự học N5 sau 10 buổi

12/05/2026

✨Katakana + い: Khi người Nhật "chế" tính từ cho vui✨

Có thể bạn đã nghe qua văn hoá "kawaii" (dễ thương) của Nhật. Kawaii là tính từ đuôi i (い) bình thường rồi, nhưng gần đây có một kiểu tính từ đuôi i khác mà sách giáo khoa không nhắc đến: người Nhật (chủ yếu giới trẻ) lấy một từ bất kì, viết bằng katakana, rồi gắn đuôi い vào, thế là thành tính từ mới.

Phần katakana phía trước thường chỉ có 2 âm tiết, nghe gọn và bắt tai.

(emoi) cảm xúc, sâu lắng, "emotional" (từ mới, đang rất phổ biến)
(guroi) kinh dị, ghê (từ "grotesque")
(eroi) gợi tình (từ "erotic")
(uzai) khó chịu, phiền (rút gọn từ うざったい)
(kimoi) ghê, rợn (rút gọn từ 気持ち悪い)
(hazui) ngượng, xấu hổ (rút gọn từ はずかしい)
(ragui) lag, giật (từ "lag" trong game)
(chirui) chill, thư giãn (từ "chill")

Thường các từ カタカナ+い có nguồn gốc ngoại lai như エモい, グロい, エロい, nhưng ウザい, キモい, ハズい đều là từ thuần Nhật bị rút gọn rồi viết lại bằng katakana cho "cool." Đây là lí do mà người nước ngoài hay bối rối khi thấy katakana mà tra từ điển không ra.

Katakana trong tiếng Nhật không chỉ dùng cho từ ngoại lai, nó còn có mấy chức năng khác mà người học hay bỏ qua:

Thứ nhất, katakana tạo cảm giác nhẹ nhàng. So sánh うざったい (Uzattai 5 âm tiết, toàn hiragana, nặng nề) với ウザい (3 âm tiết, katakana + い, nghe gọn và vui tai hơn hẳn). Âm thanh khác, ấn tượng thị giác cũng khác.

Thứ hai, katakana giúp từ đang nằm giữa đoạn văn toàn hiragana và kanji nổi bật hơn. Viết きもい giữa một câu dài thì dễ bị "chìm", viết キモい thì nhận ra ngay.

Đây là tiếng lóng của giới trẻ. Người lớn mà dùng sai sẽ rất là cringe. Dù bạn thấy hay mấy, hãy coi đây là "từ vựng thụ động", nghe hiểu được là đủ, không cần cố gắng nhét vào câu nói hàng ngày của mình, đặc biệt là trong môi trường công sở nghiêm túc.

08/05/2026

*Giai đoạn ghét tiếng Nhật: chuyện bình thường mà không ai nói với bạn*

Bạn học hết N4, bắt đầu bước sang N3 hoặc muốn rút ngắn thời gian và học thẳng N2, nhưng tất cả những gì bạn cảm thấy là mình đang ngợp trong biển từ vựng ngữ pháp. Bạn bật Youtube hoặc app để luyện nghe, nhưng nghe được 5 phút thì đầu óc mất tập trung, thậm chí còn thấy buồn nôn khi phải nghe tiếng Nhật.
Bạn thấy tội lỗi vì không thể hoàn thành, nhưng có gì đó trong bạn không cam tâm.

Rõ ràng bạn không lười, bạn đã học qua trình độ A2 hay B1, tức là đã bỏ ra không ít thời gian mà.
Vậy cảm giác ấy từ đâu ra?

✨Chuyện học tiếng Nhật buồn chán của tôi✨

Tôi sẽ kể bạn nghe quá trình ngụp lặn ở giai đoạn trước khi đạt N1 của tôi. Có hai giai đoạn:
1. Trước khi sang Nhật
2. Khi học khóa dự bị ĐH và năm 1 ở Nhật

Ở giai đoạn 1, tôi đạt N2 với điểm không cao, bắt đầu tập tành đọc các đầu sách tiếng Nhật tôi có hứng thú như lịch sử thế giới cho học sinh cấp 2 hay kinh tế nước Nga (tôi tò mò về quan hệ Nga-Nhật), thử xem show truyền hình, nghe kịch truyền thanh (mấy otome game khá nổi thời 2015-16). Nhưng kết quả là tôi không duy trì được thứ gì quá 3 ngày vì đọc sách thì mỗi trang cả hai chục từ mới, nghe bập bõm được vài câu, trên chương trình pha trò thì tôi chả cười nổi vì chẳng hiểu tại sao.

Sau đó tôi đi làm thêm biên dịch. Trải nghiệm tệ nhất là tôi nghe hiểu giám đốc nói gì nhưng không thể mở miệng ra trả lời được một câu hoàn chỉnh, chỉ có thể nói những từ rời rạc, đợi bác ấy tóm tắt lại ý của mình và “はい”. Những khi dịch tài liệu hay email cũng vậy, toàn những cụm từ tôi không biết từ đâu ra, Google Translate không được, mò trên mạng cũng chưa chắc đúng. Những ngày đi làm đó, tôi thấy tiếng Nhật đúng là không dành cho mình, mình không cần cố với nó nữa.

Số phận “trớ trêu” là tôi lại ẵm cái học bổng toàn phần sang Nhật với toàn bộ hồ sơ và phần trả lời phỏng vấn bằng tiếng Anh trong khi có trình độ tiếng Nhật N2. Tôi vẫn sợ dùng tiếng Nhật khi sang học khóa dự bị ĐH, sợ mỗi lần phải học chung với các bạn đã có N1, sợ phải đứng lên phát biểu và thầy cô biết mình đang nói sai, sợ đến lượt thuyết trình vì tôi chỉ biết viết ra và đọc chứ không diễn đạt bằng ý mình được.

Nỗi sợ ấy đi theo tôi lên năm 1 ĐH.

Tôi học khoa tiếng Trung, trong khi nhiều bạn học áp lực khi tới giờ học tiếng, những giờ tiếng Trung là thời gian tôi được “giải thoát” khỏi tiếng Nhật. Tôi được nói một ngôn ngữ mới, được thoải mái cày phim với lí do học tiếng, mỗi ngày đến trường đều nghe mấy bài hot douyin. Ngược lại, những giờ học các môn đại cương giống như cực hình. Tôi vẫn nhớ một vài trải nghiệm đau thương:

- Nhập môn Chính trị học: không vào đầu một chữ nào khi lên lớp nên dù không bị yêu cầu phải làm bài bình sách, tôi vẫn chọn đọc cuốn về Populism (chủ đề khá hot thời 2019) để lấy thêm điểm cứu vãn GPA.
- Nhập môn Nghiên cứu khu vực: tôi ngủ gần như mọi tiết, chỉ thức được khoảng 30 phút đầu tiên. Hôm nào lỡ vào muộn không có chỗ thì cùng mấy đứa bạn ngồi dựa góc tường, khỏi nghe giảng mà ôm cặp thiếp đi luôn.
- Triết học phương Tây: chỉ nghe được tên của các triết gia, còn nội dung bài học thật sự không đọng lại gì, chả hiểu sao đọc tiếng Việt chưa thông mà đâm đầu vào học bằng tiếng Nhật cơ!
Còn nhiều, nhưng tóm lại là tôi không thể chịu đựng được việc phải đọc tiếng Nhật 24/7. Phải đọc nhiều văn bản, ngày nào cũng viết báo cáo, suốt kì nghe giảng bằng tiếng Nhật, tôi bị hoảng loạn tới mức buồn nôn mỗi khi cầm giáo trình lên.
Chắc bạn bè Nhật cũng thấy tôi khốn khổ lắm, vì gặp ai tôi cũng than “Giờ điểm kém tao sẽ phải về nước”. Khoa Trung có nhiều người lưu ban vì không qua được năm 1, chuyện đó không phải tôi than cho vui.

Còn nói?
- Lớp nhỏ nhất là lớp Nói tiếng Trung khoảng 10 đứa, lớp Ngữ pháp là cả khoa, tôi chủ động làm quen được ai là tôi xin LINE, không phải để nói chuyện mà để nhờ mấy đứa bạn check câu từ bài thuyết trình.
- Tôi cùng một nhóc mới từ Mỹ về là 2 đứa duy nhất không đi dã ngoại 2 ngày 1 đêm với khoa. Tôi ngại phải nói tiếng Nhật và qua đêm cùng nhiều người lạ, còn không biết nhóc kia thì sao.
- Mỗi khi tới giờ học thuyết trình, tôi phủ đầu mọi người rằng tiếng Nhật mình không tốt, làm ơn bỏ qua nhé.

Kết quả kì đầu tiên chắc các bạn cũng đoán ra.
- Mấy môn đại cương tốt lắm thì được A, toàn mấy môn liên quan Trung Quốc vì có kiến thức nền lịch sử, còn lại B, tệ nhất thì C.
- Môn tiếng thì tôi học nhàng nhàng cũng được S.

Bây giờ nhìn lại, tôi vẫn thấy thời gian đó thật sự kinh hoàng về mặt tâm lí.

✨Tại sao cơ thể phản ứng như vậy?✨

Tôi sẽ trình bày theo ý hiểu của mình hai lí do phổ biến nhất, không học thuật nặng, chỉ đủ để bạn hiểu đây là cơ chế bình thường, không phải vấn đề của riêng bạn.

Lí do 1: Não đang bị quá tải

A2-B1 là giai đoạn não vẫn phải xử lí ngôn ngữ có ý thức. Nghe một câu tiếng Nhật, não vừa phải giải mã âm thanh, vừa suy luận nghĩa, vừa theo dõi mạch hội thoại, vừa chuẩn bị phản hồi, tất cả gần như cùng lúc. Đó là lí do 10 phút nghe hội thoại tiếng Nhật đôi khi gây mệt mỏi hơn một tiếng xem phim tiếng Việt.
Cảm giác buồn nôn, mất tập trung hay não trắng xoá khi tiếp xúc ngôn ngữ không phải dấu hiệu bạn kém cỏi hay không có năng khiếu. Đó là phản ứng sinh lí bình thường khi hệ thống xử lí thông tin bị đẩy đến giới hạn.
Cứ tưởng tượng bạn như đang chạy nhiều ứng dụng nặng cùng lúc trên một chiếc máy tính trung bình, không phải lỗi máy, chỉ là đang overload.
Điều tốt là não người học cách thích nghi được. Khi tiếp xúc đủ lâu với ngôn ngữ đó, một phần quá trình xử lí sẽ dần dần chuyển sang vô thức, giống như bạn không cần nghĩ khi đọc tiếng Việt nữa vậy. Nhưng quá trình chuyển đổi đó cần thời gian, và trong thời gian chờ đợi, bạn sẽ cảm thấy mệt, và điều đó hoàn toàn bình thường.

Lí do 2: Khoảng cách giữa kì vọng và thực tế

A2-B1 là giai đoạn nhạy cảm vì bạn biết đủ để hiểu mình còn thiếu bao nhiêu. Bạn nghe hiểu được khoảng 60%, biết rõ mình đang bỏ lỡ 40% còn lại nhưng chưa có đủ công cụ để lấp đầy khoảng trống đó.
Học A1 không khổ như thế này vì kì vọng còn thấp. Nghe được câu chào, gọi được món ăn, bắt chuyện được vài câu với người bản xứ là đã thấy hạnh phúc. Nhưng ở A2-B1, bạn đã có đủ nền tảng để muốn nhiều hơn thế, trong khi năng lực thực tế vẫn chưa theo kịp.
Khoảng cách giữa nơi bạn muốn đến và nơi bạn đang đứng bỗng nhiên hiện ra rõ mồn một, và không ít người ở giai đoạn này cảm thấy thất vọng với chính mình hơn là với tiếng Nhật.
Thật ra thì bạn không thụt lùi. Bạn đang nhìn rõ hơn, và cái nhìn rõ đó đôi khi đau hơn khi không thấy gì.

✨Nhìn lại từ phía bên kia✨
(vượt qua được giai đoạn khó khăn)

Tôi không biết câu chuyện của bạn sẽ kết thúc như thế nào, nhưng tôi biết câu chuyện của tôi.
Sau tất cả những học kì kinh hoàng, những buổi thuyết trình run tay, những lần lẻn ra ngoài để tránh phải nói chuyện bằng tiếng Nhật, tôi vẫn ở lại Nhật. Không phải vì tôi yêu lại tiếng Nhật, mà vì tôi ngừng đòi hỏi bản thân phải thích nó vào đúng lúc mình đang ghét nó nhất.
Tôi bắt đầu học tiếng Nhật theo cách của mình, không phải theo cách tôi nghĩ là đúng.
Tôi đọc những gì mình thực sự muốn đọc, nghe những gì mình thực sự muốn nghe, chấp nhận rằng có những giai đoạn mình chỉ cần duy trì tiếp xúc mà không cần tiến bộ rõ rệt. Và dần dần, tiếng Nhật không còn là thứ tôi phải chịu đựng nữa.
Giai đoạn ghét tiếng Nhật không có nghĩa là bạn không hợp với nó. Đôi khi nó chỉ có nghĩa là bạn đang ở đúng chỗ cần phải vượt qua, nhưng chưa tìm được cách vượt phù hợp với mình.
Không cần yêu lại ngay, cứ ở lại với tiếng Nhật đã.

07/05/2026

[Gõ Cửa 2]

🌸Gõ Cửa là khóa học dành cho những bạn muốn học tiếng Nhật nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Tên khóa học lấy từ hình ảnh đứng trước một cánh cửa và gõ (ドアをノックする). Bạn chưa cần biết bên trong có gì. Bạn chỉ cần gõ.

🌸10 buổi, mỗi buổi 2 tiếng. Không nhiều, nhưng đủ để bạn đọc được Hiragana và Katakana, chào hỏi được người Nhật mà không cần Google Translate, gọi được món ăn mà không cần chỉ tay vào hình xong nhìn nhân viên chờ họ "fill in the blank", hỏi được đường mà không cần đứng ngơ ngác giữa ga Shinjuku. Nói cách khác, đủ để bạn sống sót 3 ngày ở Nhật Bản, và đó đúng là nội dung những bài hội thoại mà chúng ta sẽ học.

🌸Chúng mình không cần viết lách nhiều, mới nhập môn thôi, chỉ cần đánh giá qua giao tiếp thực tế và bài voice/video bạn nộp. Bài tập về nhà có viết nhưng không phải chép vài trang chữ đâu ^^ Cái mình muốn biết là bạn có thoải mái mở miệng nói được không, có nghe hiểu những từ cơ bản được không - những thứ thực sự có ích khi bạn đặt chân đến Nhật.

🌸Lớp tối đa 8 người. Không phải "tối đa 8 nhưng nhét 12". Cam kết không quá số lượng, vì nếu quá thì mình không sát sao từng cá nhân nổi, còn lớp thì mất đi cái không khí "nhỏ xinh" mà mình muốn giữ.

🌸Học online qua Zoom, thứ 2 - 4 - 6, 20:00 – 22:00. Có chat tương tác, không phải kiểu online mà giáo viên nói một mình còn học viên tắt camera đi lướt Shopee. (À, bật camera khi luyện phát âm là bắt buộc, không bật cam mình sẽ mời bạn ra khỏi lớp đấy nhé!)

🌸Giáo trình dùng TRY! START kết hợp tài liệu riêng của Akigawa Class, cộng thêm video Minna no Nihongo tích hợp mỗi buổi. Hoàn thành khóa học, trình độ của bạn sẽ là bước đệm vững chắc để bước tiếp vào N5.

***

Đọc feedback khoá trước ở cmt ^^

01/05/2026

Mục từ ví dụ trong 漢辞海 cho chữ 窶 là:
【窶陋】クロウ 貧相でみにくいさま。〈三国・劉繇伝・注〉
Nghĩa là: “có vẻ ngoài bần hàn, xấu xí, không đẹp mắt”, xuất xứ từ phần chú thích trong Tam Quốc Chí – Lưu Do truyện
Đoạn này thực ra không nói về Lưu Do, mà nói về bác của Lưu Do – Lưu Sủng (劉寵), được Bùi Tùng Chi (裴松之) dẫn từ “Tục Hán Thư” vào để bổ sung khi chú giải đoạn “繇伯父寵,為漢太尉” (Bác của Do là Sủng, làm Thái úy nhà Hán).

***

Bài viết đầy đủ ở cmt.

Want your school to be the top-listed School/college in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Address

Hanoi