Văn Chương Mạn Đàm

Văn Chương Mạn Đàm

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Văn Chương Mạn Đàm, Education Website, Đường Hà Hoàng/Thạch Trung, Ha Tinh.

✨ Fanpage được sáng lập bởi đội ngũ Admin giàu kinh nghiệm Trường THPT Chuyên Hà Tĩnh - GV Ngữ văn và Cựu HSGQG môn Văn.
🌈 Ở đây có: tiếng nói TRI ÂM qua trang sách, CÂU CHUYỆN văn chương thú vị và KIẾN THỨC cần thiết cho tất cả các kì thi ☘️

Nhìn lại những "điểm sáng" của đề văn tốt nghiệp THPT 2026 13/06/2026

Nhìn một cách khách quan, đây là một đề thi phân hoá tốt, đáp ứng được mục đích “Hai trong một” của kì thi.

Nhìn lại những "điểm sáng" của đề văn tốt nghiệp THPT 2026 (Dân trí) - Không chỉ đổi mới về ngữ liệu, đề thi ngữ văn tốt nghiệp THPT năm 2026 cho thấy nỗ lực chuyển từ việc kiểm tra khả năng ghi nhớ sang đánh giá tư duy, năng lực lập luận và vốn hiểu biết của người học.

Photos from Văn Chương Mạn Đàm's post 12/06/2026

CÁCH TRẢ LỜI CÂU HỎI: LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ NHỮNG “STEVE JOBS VIỆT NAM” TRONG MỘT ĐOẠN VĂN.

Các bạn tham khảo một số đoạn văn của Văn Chương Mạn Đàm.
Chúng tôi cố gắng điều chỉnh các đoạn văn theo từng mức độ viết
khác nhau (Vừa, khá, giỏi)

-----------------------------------------------
📌Tham gia các GROUP HỌC TẬP của chúng tôi để có thêm nhiều kiến thức ôn luyện hiệu quả
1️⃣Nhóm học tập miễn phí: Văn Chương Mạn Đàm - Người trong cuộc
2️⃣Nhóm học tập mất phí - Membership: 50k/tháng
3️⃣Link đăng kí mua các gói tài liệu: 1,2,3,4,5
👉Link tham gia ở phần bình luận

Photos from Văn Chương Mạn Đàm's post 12/06/2026

STEVE JOBS LÀ AI?
Mời các bạn đọc sách giáo khoa Ngữ văn nhé!

11/06/2026

[ CHUYÊN MỤC: THÌ THẦM VĂN CHƯƠNG ]

Về làng - Trần Đăng Khoa

I. Tác giả
Nhà thơ Trần Đăng Khoa sinh năm 1958, tại làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cũ, trong một gia đình có truyền thống văn chương. Lớn lên bên những cánh đồng, lũy tre và con sông Kinh Thầy,... khung cảnh quê hương ấy đã thấm sâu vào hồn thơ ông từ thuở ấu thơ. Từ thuở nhỏ, Trần Đăng Khoa đã được mệnh danh là thần đồng thi ca Việt Nam bởi khi mới 8 tuổi, ông đã có thơ được đăng báo. Trần Đăng Khoa nhập ngũ năm 1975 khi đang học lớp 10. Chính những năm tháng trận mạc, từ cánh rừng bị hủy diệt đến đồng đội ngã xuống đã tạo nên chất liệu sống thực để ông viết bài thơ “Về làng”.

Trần Đăng Khoa đi qua hai chặng sáng tác rõ rệt: thơ thiếu nhi hồn nhiên trong sáng (Góc sân và khoảng trời, 1968) và thơ người lính trầm lắng, từng trải (Bên cửa sổ máy bay, 1985). Phong cách của ông giản dị, trong sáng và giàu hình ảnh, với ngôn ngữ mộc mạc gần gũi đời sống nhưng chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa và cảm xúc sâu lắng. Ở giai đoạn hậu chiến, sự mộc mạc ấy chuyển hóa thành thành thật hiếm có.

II. Tác phẩm Về làng
Bài thơ được sáng tác tại Điền Trì vào năm 1982, in trong tập Bên cửa sổ máy bay (1985). Đây là thời điểm đất nước vừa bước ra khỏi những năm dài chiến tranh, người lính trở về phải đối mặt với cuộc sống thời bình với tất cả ngổn ngang của nó: thân thể thương tật, tình yêu lỡ dở, quê hương quen mà lạ. Bài thơ ra đời như một cuộc trở về thực sự của chính tác giả, không chỉ về mặt địa lý mà còn là cuộc đối thoại thầm lặng với ký ức, với bản thân.

Bài thơ xây dựng quanh ba lần điệp câu "Anh lại về làng quê ta đây em", mỗi lần mở ra một lớp tâm trạng khác nhau. Lần đầu là sự trở về với khung cảnh làng quê mùa thu yên tĩnh, tiếng côn trùng rụt rè, trâu đủng đỉnh qua ngõ, hơi sương tan trên cúc tần, ánh chiều rơi vào khung cửa sổ, những hình ảnh thân thuộc đủ sức kéo cả một trời ký ức về. Lần thứ hai là cuộc chạm trán với thực tại đau lòng: người yêu đã lấy chồng, bế con người đứng đón anh dưới bóng trúc, vì "đồng đội báo về là anh đã... chết". Nhưng anh không oán trách "Có gì đâu, chuyện đó cũng thường thôi", câu thơ chứa cả một bể trải đời. Lần thứ ba là sự thanh thản và kiêu hãnh: dù cô đơn đến già, người lính vẫn khẳng định nếu được sống lại tuổi mười tám, vẫn sẵn sàng lên đường khi Tổ quốc gọi, vẫn chấp nhận "rồi lại về làng với chiếc gậy trong tay".

Về làng là một trong những bài thơ hậu chiến đặc sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Bài thơ dám nhìn thẳng vào cái giá của chiến tranh mà không rơi vào bi kịch hóa hay ngợi ca một chiều. Người lính ở đây không phải tượng đài mà là con người bình thường với trái tim đầy đủ buồn vui, nhưng chọn đứng thẳng trước số phận.

Mời bạn cùng lắng nghe bài thơ qua giọng đọc của cô Nguyễn Thanh Huyền - Giáo viên Ngữ văn - Trường THPT Chuyên Nguyễn Trãi - Hải Dương cũ
-----------------------------------------------
📌Tham gia các GROUP HỌC TẬP của chúng tôi để có thêm nhiều kiến thức ôn luyện hiệu quả
1️⃣Nhóm học tập miễn phí: Văn Chương Mạn Đàm - Người trong cuộc
2️⃣Nhóm học tập mất phí - Membership: 50k/tháng
3️⃣Link đăng kí mua các gói tài liệu: 1,2,3,4,5
👉Link tham gia ở phần bình luận

11/06/2026

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2026
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Môn thi: NGỮ VĂN
(Đề thi có 02 trang)
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
(1) Năm 1440, tại một xưởng cơ khí nhỏ nằm lọt thỏm giữa thành phố Mainz nước Đức, Johannes Gutenberg phát minh ra máy in. [...]
(2) Trước năm 1440, tri thức là một dạng tài sản bị giam cầm. Nó nằm im lìm trong các thư viện, tu viện hay sau những cánh cổng sắt của các lâu đài, được lưu giữ trên những cuốn sách chép tay bằng da cừu mà giá trị của mỗi cuốn có thể đổi ngang một trang trại trù phú. Sự khan hiếm đó không phải là ngẫu nhiên, nó là một trật tự được thiết lập. Khi việc sao chép một văn bản đòi hỏi hàng nghìn giờ lao động thủ công của các tu sĩ, tri thức mặc nhiên trở thành đặc quyền của tầng lớp tinh hoa. Dân chúng không có quyền tiếp cận văn bản gốc, và do đó, họ không có quyền nghi ngờ.
(3) Phát minh của Gutenberg phá vỡ sự độc quyền đó bằng một khái niệm mang tính cách mạng: sự nhân bản công nghiệp của tri thức.
(4) Lần đầu tiên trong lịch sử, tư tưởng của một con người có thể tách rời khỏi thể xác họ và nhân ra hàng ngàn bản sao với chi phí thấp. Sách bắt đầu tràn xuống đường phố. Những ý tưởng, cả vĩ đại lẫn nguy hiểm, bắt đầu thấm thấu vào đại chúng. William Shakespeare được hậu thế tôn vinh là đại văn hào không chỉ bởi tài năng của ông, mà còn bởi ông sống đúng vào điểm rơi của công nghệ in ấn. Nếu không có những bản in First Folio được xuất bản năm 1623, những vở kịch kinh điển như Macbeth hay Hamlet có lẽ đã tan biến vào hư không ngay sau khi tấm màn nhung của nhà hát Globe khép lại.
(5) Sức mạnh của máy in không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn văn hóa, nó trở thành thước đo cho vận mệnh các quốc gia. Một sự phân hóa rõ rệt bắt đầu xuất hiện trên bản đồ thế giới. Những quốc gia phương Tây như Anh, Hà Lan hay Đức, nơi chấp nhận các phiên bản cải tiến sau này của máy in Gutenberg và để chúng vận hành hết công suất; đã chứng kiến sự bùng nổ chưa từng có về dân trí và khoa học. Tri thức không còn bị độc quyền, nó trở thành nhiên liệu cho Phục Hưng và Cách mạng Công nghiệp, giúp con người phát minh ra động cơ hơi nước và điện.
(6) Ngược lại, ở phía bên kia Địa Trung Hải, các Sultan của Đế quốc Ottoman hùng mạnh đã đưa ra một quyết định định mệnh khi cấm in ấn bằng tiếng Ả Rập và Thổ Nhĩ Kỳ trong suốt gần 300 năm, vì lo sợ sự lan truyền của những tư tưởng “lệch lạc”. Hậu quả là trong khi châu Âu đang tranh luận sôi nổi về vật lý và thiên văn học trên những trang báo in, thì một đế chế từng là trung tâm văn minh của thế giới lại dần chìm vào sự trì trệ và lạc hậu. Sự thiếu vắng hạ tầng nhân bản tri thức khiến tỷ lệ biết chữ tại đây dậm chân tại chỗ ở mức dưới 5% trong suốt nhiều thế kỷ. Họ bỏ lỡ hoàn toàn chuyến tàu của Cách mạng Khoa học và kỷ nguyên Khai sáng, đơn giản vì các ý tưởng đột phá không có cơ hội được sao chép, lan truyền để tạo ra sự cộng hưởng trí tuệ.
(Trích CODE VÀ CÁT – Những quyền lực công nghệ xoay chuyển thế giới, Phan Tuấn, NXB Thế giới, 2026, tr.8–10)
Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Theo văn bản, trước năm 1440, tri thức được lưu giữ ở đâu?
Câu 2. Chỉ ra câu văn chứa đựng bằng chứng về vai trò của máy in đối với tác phẩm của William Shakespeare trong đoạn (4).
Câu 3. Anh/Chị hiểu như thế nào về nghĩa của cụm từ tài sản bị giam cầm (đoạn 2) và từ nhiên liệu (đoạn 5) được tác giả sử dụng khi nói về tri thức trước và sau năm 1440?
Câu 4. Nhận xét về mối liên hệ giữa luận đề và các luận điểm trong văn bản.
Câu 5. Trong bối cảnh cần có những đột phá về khoa học công nghệ hiện nay, từ góc nhìn của người trẻ, theo anh/chị, cần sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) như thế nào để tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ?
II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)
Nước Mĩ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới.
Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?
Câu 2 (4,0 điểm)
Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:
NHỮNG CHIẾC LÁ
Nguyễn Đình Thi

Chiều lạnh cóng, vườn cây vắng tanh, gió thổi bay lao xao,
những chiếc lá rụng trên mặt cỏ
Những chiếc lá nâu, đen, rách quăn queo

Đâu những ngày xuân, chúng ta xòe biếc đón về ríu rít những đàn chim.
Những buổi trưa hè, chúng ta um tùm che mát cho người đi đường mồ hôi nhễ nhại.
Những chiều thu nhẹ trong, chúng ta thắp vàng trên đầu bao đôi người yêu.

Đến hôm nay, gió bấc đã rứt chúng ta, ném xuống đất bụi.
Chiều lạnh cóng, những chiếc lá rụng bay lao xao trong vườn cây.

Ai bé nhỏ vừa đi tới.
Giữa gió buốt, chú bé lụi hụi xuýt xoa,
loạt xoạt, loạt xoạt, chiếc chổi tre quét trên mặt cỏ.
Sắp tối rồi. Chú bé ôm từng ôm lá nén vào chiếc bao tải dần căng phồng.
Đi đâu, chú bé vác bao tải to,
trên con đường đầu ô bụi bặm.

đợi mẹ đi làm về.

Đây rồi, dưới mái bếp tranh,
chú bé ngồi vốc từng nắm lá khô nhóm lửa, đặt nồi cơm,
Khói hắc hắc thơm thơm bay lên.

À, à, vậy chứ, vậy chứ, – những chiếc lá reo phù phù, nhảy nhót.

(Thơ Nguyễn Đình Thi, NXB Kim Đồng, 2025, tr.87–88)

ĐÁP ÁN GỢI Ý-

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1 (0,5 điểm). Theo văn bản, trước năm 1440, tri thức được lưu giữ ở đâu?
- Theo văn bản, trước năm 1440, tri thức được lưu giữ trong các thư viện, tu viện hay sau những cánh cổng sắt của các lâu đài.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra câu văn chứa đựng bằng chứng về vai trò của máy in đối với tác phẩm của William Shakespeare trong đoạn (4).
- Câu văn chứa bằng chứng đó là: “Nếu không có những bản in First Folio được xuất bản năm 1623, những vở kịch kinh điển như Macbeth hay Hamlet có lẽ đã tan biến vào hư không ngay sau khi tấm màn nhung của nhà hát Globe khép lại.”
Câu 3 (1,0 điểm). Anh/Chị hiểu như thế nào về nghĩa của cụm từ tài sản bị giam cầm (đoạn 2) và từ nhiên liệu (đoạn 5) được tác giả sử dụng khi nói về tri thức trước và sau năm 1440?
- Tài sản bị giam cầm” là cách nói ẩn dụ chỉ tri thức tuy vô cùng quý giá nhưng bị giới hạn trong phạm vi nhỏ hẹp, bị lưu giữ trong các thư viện, tu viện, lâu đài và trở thành đặc quyền của tầng lớp tinh hoa. Đại bộ phận dân chúng không có điều kiện tiếp cận và thụ hưởng nguồn tri thức ấy.
- “Nhiên liệu” là cách nói ẩn dụ chỉ vai trò của tri thức như nguồn động lực, nguồn năng lượng mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội, khoa học và văn minh nhân loại.
- Sự thay đổi ấy cho thấy tri thức đã chuyển từ trạng thái bị độc quyền, hạn chế lan tỏa sang trạng thái được phổ biến rộng rãi, trở thành sức mạnh tạo nên những bước tiến lớn của lịch sử.

Câu 4 (1,0 điểm). Nhận xét về mối liên hệ giữa luận đề và các luận điểm trong văn bản.

Luận đề của văn bản: Sức mạnh và vai trò quyết định của công nghệ nhân bản tri thức (cụ thể là máy in Gutenberg) đối với sự phát triển văn minh, khoa học và vận mệnh của các quốc gia.

Các luận điểm trong văn bản:

* Luận điểm 1: Tri thức trước khi có máy in bị độc quyền và giam cầm.
* Luận điểm 2: Phát minh máy in phá vỡ thế độc quyền, đưa tri thức đến với đại chúng và góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa.
* Luận điểm 3: Máy in tạo ra sự bùng nổ dân trí, trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của các quốc gia phương Tây.
* Luận điểm 4: Sự cấm đoán in ấn dẫn đến sự trì trệ và tụt hậu của Đế quốc Ottoman.

=> Luận đề và các luận điểm có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất. Các luận điểm được triển khai theo trình tự logic, kết hợp giữa sự đối chiếu trước – sau và đối lập giữa những quốc gia biết tận dụng công nghệ với những quốc gia hạn chế sự lan truyền tri thức. Nhờ đó, luận đề được làm sáng tỏ toàn diện và tăng sức thuyết phục.

Câu 5 (1,0 điểm). Trong bối cảnh cần có những đột phá về khoa học công nghệ hiện nay, từ góc nhìn của người trẻ, theo anh/chị, cần sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) như thế nào để tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ?
- Từ góc nhìn của người trẻ, để AI không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn là chất xúc tác tạo nên “sự cộng hưởng trí tuệ”, chúng ta cần:
+ Chuyển từ tư duy “ủy thác” sang tư duy “cộng tác”: Không dùng AI để làm thay hay tư duy thay, mà sử dụng AI để hệ thống hóa dữ liệu, gợi mở ý tưởng mới và phản biện các lập luận của bản thân.
+ Tận dụng AI để phá bỏ rào cản thông tin: Sử dụng AI trong dịch thuật, tóm tắt và phân tích các nguồn tư liệu, nghiên cứu khoa học nhằm tiếp cận nhanh hơn với tri thức nhân loại.
+ Chia sẻ và kết nối cộng đồng: Sử dụng AI để kết nối những người có chung đam mê nghiên cứu, học tập và sáng tạo, từ đó tạo ra môi trường trao đổi và phát triển các ý tưởng đột phá.
+ Chủ động kiểm chứng thông tin và giữ vai trò chủ thể sáng tạo: Không phụ thuộc hoàn toàn vào AI mà cần đánh giá, chọn lọc và phát triển các ý tưởng bằng tư duy độc lập của con người.

Câu 1 (2,0 điểm) - Đoạn văn nghị luận 200 chữ

Chủ đề: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

1. Mở đoạn
- Dẫn dắt trực tiếp từ gợi dẫn: Sự xuất hiện của các nhà sáng tạo công nghệ như Steve Jobs, Mark Zuckerberg hay Elon Musk đã góp phần thay đổi diện mạo thế giới và trở thành niềm tự hào của nước Mỹ.
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đối với người trẻ Việt Nam, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để chúng ta có thể kiến tạo và nuôi dưỡng những “Steve Jobs Việt Nam” trong kỷ nguyên số.

1. Thân đoạn
- Giải thích khái niệm “Steve Jobs Việt Nam”:
Không chỉ là một cá nhân cụ thể mà là biểu tượng cho những người Việt có tư duy đổi mới sáng tạo, có khả năng tạo ra những sản phẩm, công nghệ mang giá trị lớn cho đất nước và thế giới.
- Đề xuất giải pháp:
+ Thay đổi triết lí giáo dục: Chuyển từ giáo dục thiên về ghi nhớ sang giáo dục phát triển tư duy phản biện, khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề và khuyến khích sự khác biệt.
+ Về phía cộng đồng, quốc gia: Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp thực chất; có sự đồng hành của Nhà nước và các doanh nghiệp trong việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học, hỗ trợ đổi mới sáng tạo và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
+ Về xã hội: Xây dựng văn hóa chấp nhận thất bại, xem thất bại là cơ hội học hỏi và trưởng thành thay vì là lý do để phán xét hay từ bỏ.
+ Về phía bản thân người trẻ: Cần nuôi dưỡng khát vọng lớn, tinh thần bền bỉ, chủ động học tập và làm chủ các công nghệ cốt lõi như AI, dữ liệu lớn, tự động hóa,… để tạo ra giá trị mới cho xã hội.

=> Bài học nhận thức và hành động: Bản thân mỗi người trẻ cần không ngừng tự học, dám bước ra khỏi vùng an toàn và nuôi dưỡng khát vọng cống hiến cho đất nước.

3.Kết đoạn

- Khẳng định lại vấn đề: Những “Steve Jobs Việt Nam” không xuất hiện từ nỗ lực của một cá nhân đơn lẻ mà là kết quả của một môi trường nuôi dưỡng sáng tạo lành mạnh.
- Thông điệp: Khi giáo dục đổi mới, cơ hội được trao và người trẻ dám dấn thân, Việt Nam hoàn toàn có thể xuất hiện những tài năng công nghệ mang tầm vóc toàn cầu.

Câu 2: Nghị luận văn học (4,0 điểm)

Chủ đề: Phân tích bài thơ “Những chiếc lá” của Nguyễn Đình Thi.

A. MỞ BÀI

- Giới thiệu tác giả Nguyễn Đình Thi: Một nghệ sĩ đa tài (viết văn, làm thơ, soạn nhạc, viết kịch) với phong cách thơ giàu chất suy tư, triết lý, ngôn từ cô đọng và luôn hướng tới những giá trị nhân văn sâu sắc.
- Giới thiệu tác phẩm “Những chiếc lá”: Bài thơ được in trong tuyển tập thơ Nguyễn Đình Thi do NXB Kim Đồng xuất bản. Tác phẩm mượn hình tượng thiên nhiên quen thuộc là những chiếc lá để gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc về ý nghĩa của sự sống và sự cống hiến.
- Định hướng nội dung nghị luận: Bài thơ là hành trình hóa thân và dâng hiến không ngừng của những chiếc lá từ lúc tươi xanh đến khi trở thành ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời, qua đó bộc lộ cái nhìn nhân văn và lạc quan của nhà thơ.

B. THÂN BÀI

1. Khái quát chung về tác phẩm

- “Những chiếc lá” không đơn thuần là bài thơ miêu tả thiên nhiên mà còn là một bài thơ giàu ý nghĩa triết lí. Nhan đề hướng người đọc tới hình tượng chiếc lá - một sự vật nhỏ bé, quen thuộc nhưng chứa đựng cả một vòng đời đầy ý nghĩa.
- Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, giúp tác giả tự do triển khai mạch cảm xúc và suy tưởng. Mạch vận động của bài thơ đi từ hiện thực tàn úa của những chiếc lá mùa đông, ngược về những mùa dâng hiến đẹp nhất trong quá khứ, rồi hướng tới sự hồi sinh trong ngọn lửa và mái ấm gia đình. Bao trùm tác phẩm là cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp của sự dâng hiến thầm lặng cùng niềm tin vào giá trị bền vững của cuộc sống.

2. Phân tích chi tiết

2.1. Hiện thực tàn úa và ký ức về những mùa dâng hiến đẹp đẽ

- Khổ 1: Không gian mùa đông khắc nghiệt và sự tàn tạ của những chiếc lá
+ Ngữ liệu: “Chiều lạnh cóng, vườn cây vắng tanh… lá nâu, đen, rách quăn queo”.
+ Chiều lạnh cóng”, “vườn cây vắng tanh” cùng âm thanh “lao xao” gợi nên không gian cô quạnh, lạnh lẽo.
+ Hình ảnh những chiếc lá “nâu”, “đen”, “rách quăn queo” khắc họa sự tàn úa, kiệt quệ sau một vòng đời dài dâng hiến. Đó cũng là quy luật tự nhiên không thể tránh khỏi của mọi sự sống.

- Khổ 2: Những mùa dâng hiến đẹp đẽ trong quá khứ

+ Từ ngữ : Đâu những ngày xuân… thắp vàng trên đầu bao đôi người yêu.”
+ Điệp ngữ “chúng ta” được lặp lại nhiều lần như một lời tự hào về hành trình sống có ích của những chiếc lá.
+ Hành trình dâng hiến qua những mùa đẹp nhất của đời lá:
Mùa xuân: “xòe biếc đón về ríu rít những đàn chim” mang đến sức sống và niềm vui cho thiên nhiên.
Mùa hè: “um tùm che mát cho người đi đường mồ hôi nhễ nhại” đem đến bóng mát và sự sẻ chia với con người.
Mùa thu: “thắp vàng trên đầu bao đôi người yêu” góp phần làm đẹp cho cuộc sống và nuôi dưỡng cảm xúc con người.

=> Trong suốt vòng đời của mình, những chiếc lá luôn sống vì người khác, luôn hiện diện bằng những đóng góp âm thầm nhưng ý nghĩa.

2.2. Sự va đập của quy luật nghiệt ngã và sự xuất hiện của tình người

- Khổ 3: Sự khắc nghiệt của thời gian và tạo hóa

- Từ ngữ : Đến hôm nay, gió bấc đã rứt chúng ta, ném xuống đất bụi.”
- Các động từ mạnh “rứt”, “ném” diễn tả sự khắc nghiệt của thời gian và quy luật tự nhiên. Những chiếc lá bị tách khỏi cành, tưởng như đã kết thúc hành trình tồn tại của mình.

- Khổ 4: Sự xuất hiện của chú bé - điểm sáng nhân văn của bài thơ

+ Chú bé nhỏ vừa đi tới… chiếc bao tải dần căng phồng.”
+ Giữa cái lạnh giá của mùa đông, hình ảnh chú bé với những động tác “lụi hụi”, “xuýt xoa”, tiếng chổi “loạt xoạt” mang đến hơi ấm của sự sống và lao động. Chi tiết “đợi mẹ đi làm về” gợi lên hoàn cảnh bình dị, có phần khó khăn nhưng đầy tình thương của một gia đình lao động.
+ Hành động gom lá của chú bé không chỉ giúp những chiếc lá có thêm một giá trị mới mà còn thể hiện sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên trong cuộc sống thường ngày.

2.3. Sự hóa thân kỳ diệu - bản trường ca của sự dâng hiến
- Khổ cuối: Đây rồi, dưới mái bếp tranh… những chiếc lá reo phù phù, nhảy nhót.”
- Không gian từ khu vườn “lạnh cóng” chuyển sang mái bếp tranh ấm áp, tạo nên sự vận động từ lạnh sang ấm, từ tàn lụi đến hồi sinh.
- Những chiếc lá khô không mất đi mà hóa thân thành ngọn lửa, thành làn khói bếp “hắc hắc thơm thơm”, góp phần nấu chín nồi cơm và sưởi ấm mái nhà.
- Biện pháp nhân hóa qua các từ ngữ “À, à, vậy chứ, vậy chứ”, “reo”, “nhảy nhót” diễn tả niềm vui sướng của những chiếc lá khi tiếp tục được sống có ích.
- Dù không còn hiện hữu trên cành cây, chúng vẫn tiếp tục cống hiến cho cuộc đời bằng một hình thức khác.

3. Đánh giá về nội dung và nghệ thuật

3.1. Đặc sắc nghệ thuật:

- Thể thơ tự do linh hoạt, phù hợp với dòng cảm xúc và suy tưởng của tác giả.
- Nghệ thuật nhân hóa đặc sắc giúp hình tượng chiếc lá mang tâm hồn và suy nghĩ của con người.
- Ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi; hệ thống hình ảnh đối lập giữa lạnh – ấm, tàn úa – hồi sinh góp phần làm nổi bật tư tưởng tác phẩm.

3.2. Giá trị tư tưởng:

- Qua hình tượng chiếc lá, Nguyễn Đình Thi gửi gắm một triết lí nhân sinh sâu sắc: giá trị của sự sống không nằm ở thời gian tồn tại mà nằm ở khả năng đem lại ý nghĩa cho cuộc đời.
- Từ khi còn xanh tươi đến lúc trở thành lá khô, những chiếc lá chưa bao giờ ngừng cống hiến. Ngay cả khi rời cành, chúng vẫn tiếp tục hóa thân để góp phần sưởi ấm cuộc sống con người.
- Bài thơ thể hiện niềm tin lạc quan vào ý nghĩa của sự dâng hiến và khẳng định rằng những giá trị tốt đẹp sẽ luôn được tiếp nối dưới nhiều hình thức khác nhau.

C. KẾT BÀI

* Khẳng định giá trị tác phẩm: “Những chiếc lá” là một bài thơ giàu ý nghĩa nhân văn và triết lí của Nguyễn Đình Thi.
* Khái quát thông điệp cốt lõi: Bài thơ khẳng định rằng giá trị của một đời sống không nằm ở thời gian tồn tại mà ở những gì ta cống hiến cho cuộc đời. Sự dâng hiến chân chính sẽ không mất đi mà luôn tiếp tục được lan tỏa dưới những hình thức mới.
* Liên hệ bản thân: Tác phẩm khơi dậy trong thế hệ trẻ hôm nay ý thức sống trách nhiệm, biết sẻ chia và cống hiến để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
P/s: Bản quyền thuộc về page Văn chương mạn đàm. Nếu bạn copy, hãy ghi nguồn nhé!!!

Photos from Văn Chương Mạn Đàm's post 11/06/2026

ĐỀ THI MÔN NGỮ VĂN SÁNG NAY!
- NLXH: Công nghệ
- NLVH : Phân tích bài thơ Những chiếc lá ( Nguyễn Đình Thi)

10/06/2026

Gửi các sĩ tử 2k8 yêu quý!

Ngày mai các bạn sẽ bước vào kì thi quan trọng nhất cuộc đời học sinh của mình, cuộc thi quyết định tương lai của các bạn! Văn Chương Mạn Đàm chúc các bạn gặp nhiều may mắn, thăng hoa, đạt đỉnh cao phong độ để có được kết quả tốt đẹp nhất.

Văn Chương Mạn Đàm xin gửi tới các bạn một số kinh nghiệm trong khi làm bài thi Môn Ngữ văn nhé!!!

Photos from Văn Chương Mạn Đàm's post 10/06/2026

TỔNG HỢP NHỮNG BÀI VĂN LUYỆN THI TNTHPT ĐẠT ĐIỂM CAO.
Các bạn tham khảo! ☘️☘️☘️

09/06/2026

[ BÍ QUYẾT NÂNG ĐIỂM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI ]

I. TẠI SAO BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI KHÓ ĐẠT ĐIỂM TỐI ĐA?

Nhiều học sinh thắc mắc: “Làm đúng đáp án, không thiếu ý, chuẩn chính tả, sao vẫn chỉ được 3,5/4?”. Khác với các môn khối Tự nhiên, làm đúng là đạt điểm tối đa, bài văn nghị luận được chấm theo cả chiều sâu tư duy lẫn chất lượng diễn đạt. Viết đúng mới chỉ là điều kiện cần, viết hay mới quyết định điểm số.
Dưới đây là những hạn chế phổ biến khiến giám khảo không thể mạnh tay cho điểm cao, cùng các giải pháp để khắc phục.

Những hạn chế cần vượt qua

1. Bài viết chưa đủ dung lượng, thiếu điểm nhấn
Mỏi ý đều được chạm đến nhưng chỉ ở mức sơ sài, chưa được giải quyết đến nơi đến chốn. Kết quả là toàn bộ bài viết thiếu đi sức thuyết phục, không để lại ấn tượng rõ nét trong mắt người đọc.

2. Lí luận thiếu chiều sâu
Bài viết chưa biết vận dụng những hiểu biết về quy luật tự nhiên, xã hội làm nền tảng suy luận. Thiếu những “căn cứ khoa học” để làm điểm tựa, lí lẽ dễ trở nên nhạt, nội dung cạn và thiếu sức nặng.

3. Dẫn chứng nghèo nàn, lạc hậu
Nhiều bài cứ xoay quanh vài nhân vật quen thuộc, được khai thác lặp đi lặp lại đến mòn nhắn. Hơn nữa, dẫn chứng đưa vào chỉ cho có, chưa được phân tích đế khai thác giá trị thực sự cho luận điểm.

4. Bài viết vô cảm, thiếu chất văn
Một bài nghị luận viết như AI tạo ra, các ý lắp ghép cứng nhắc, cảm xúc giả tạo hoặc vắng bóng hoàn toàn sẽ không chạm được đến cảm xúc của người chấm. Giọng văn ngữ điều, chững, thiếu hới thở sống động của người thửc sự suy nghĩ và cảm nhận.

5. Thiếu cá tính, chưa mang hơi thở thời đại
Diễn đạt phổ thông, câu chữ đơn giản, không có nét riêng của người viết. Một bài văn xuất sắc phải cho người đọc nhận ra bản lĩnh và tâm hồn riêng của tác giả, điều không thể có được khi diễn đạt chỉ dừng ở mức bình thường.

II. GIẢI PHÁP NÂNG TẦM BÀI NGHị LUẬN XÃ HỘI
Biết nhược điểm rồi, vậy làm gì để thay đổi? Dưới đây là năm giải pháp cụ thể, giúp người viết chủ động đưa bài nghị luận xã hội lên một tầm mới.
Năm phương hướng cần thực hiện

1. Đảm bảo dung lượng và cấu trúc bài viết
Một bài viết đầy đủ cần có 7 - 8 đoạn văn: Mở bài - Kết bài và 5 thao tác lập luận gồm: Giải thích - Bàn luận - Chứng minh - Phản biện - Bài học nhận thức và hành động. Về dung lượng, bài viết nên dạt khoảng 3,5 trang. Nếu ngắn hơn, chắc chắn một số ý đang được xử lý sơ sài; nếu dài quá 4 trang, bài có thể bị trừ điểm vì vượt yêu cầu. Lưu ý cần đọc kỹ đề để nắm bắt thao tác nào được nhấn mạnh.

2. Bồi đắp chiều sâu lí luận
Biết vận dụng những quy luật vận động của tự nhiên, xã hội; nắm được đặc điểm tâm sinh lý con người, nhất là giới trẻ; hiểu bức tranh công nghệ đang biến đổi thế giới mỗi ngày. Khi tư duy được trang bị nền tảng tri thức đó, lí lẽ sẽ có trọng lượng và lập luận sẽ thuyết phục hơn hẳn.

3. Làm giàu và biết phân tích dẫn chứng
Bài viết cần hai tầng dẫn chứng: (1) Dẫn chứng tri thức khoa học, những quy luật đã được chứng minh trong triết học, tâm lý học, sinh học, vật lý, thiên văn...; (2) Dẫn chứng thực tiễn đường đời, những sự kiện, nhân vật càng mới càng hấp dẫn, nhất thiết có dẫn chứng ở tầm quốc gia, dân tộc. Khi phân tích, cần giữ thái độ khách quan, đa chiều, tự thể hiện những trăn trở, xúc động thực sự, tuyệt đối tránh giọng điệu sùng bái thái quá hay hạ thấp bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.

4. Tạo giọng điệu riêng, viết “thấu tình đạt lý”
Ngoài lí lẽ sắc bén và dẫn chứng thuyết phục, bài văn cần có hồn, tức là cảm xúc đầy đủn, tinh tế, được thể hiện qua cách đặt câu, chọn từ. Có thể sử dụng cấu trúc trùng điệp để tạo đợt sóng cảm xúc, hoặc những tình thái từ gợi suy tư như “đáng lẽ”, “phải chăng”, “thử hỏi”, “liệu...”. Nên chọn giọng chiêm nghiệm, suy tư, trăn trở, tránh rao giảng hay giáo huấn. Đại từ chủ thể nên linh hoạt: “tôi”, “ta”, “chúng ta”, “người trẻ”, “tuổi trẻ”...

5. Dùng từ đặt câu độc đáo, giàu hình ảnh
Cá tính người viết lộ ra ngay từ mở bài. Có thể mở theo lối suy tưỿng, gợi vận đề qua một hình ảnh độc đáo, rồi kết bài quay trở về với hình ảnh đó. Trong bài, cần dùng so sánh, ẩn dụ một cách có chủ ý để bài văn có chất nghệ thuật. Dưới đây là một số câu văn có hình ảnh sáng tạo có thể tham khảo:
- Về mối quan hệ giữa Tài năng và Sự bền bỉ: “Nếu tài năng được ví như cánh buồm thì sự bền bỉ là gi, không có sức gió mạnh mẽ thì con thuyền không thể vượt sóng trùng dương.”
- Về giữ gìn văn hóa truyền thống và đổi mới sáng tạo: “Giữ gìn bản sắc dân tộc luôn đi đôi với tinh thần đổi mới sáng tạo, cũng như gốc rễ vững chắc sẽ nâng đỡ cành lá vươn cao, một cái giữ ta không lạc cội, một cái giúp ta chạm tới trời xa.”
- Về làm chủ công nghệ và phẩm chất nhân văn: “Làm chủ công nghệ mà không giữ gìn phẩm chất nhân văn cũng như xây nhà cao tầng trên nền đất lún - càng hiện đại bao nhiêu, càng dễ sụp đổ bấy nhiêu.”

Điểm tuyệt đối bài văn nghị luận xã hội không trao cho người làm đúng, nó thuộc về người biết suy nghĩ sâu, dẫn chứng phong phú, viết có hồn và dám thể hiện bản lĩnh riêng của mình.

-----------------------------------------------
📌Tham gia các GROUP HỌC TẬP của chúng tôi để có thêm nhiều kiến thức ôn luyện hiệu quả
1️⃣Nhóm học tập miễn phí: Văn Chương Mạn Đàm - Người trong cuộc
2️⃣Nhóm học tập mất phí - Membership: 50k/tháng
3️⃣Link đăng kí mua các gói tài liệu: 1,2,3,4,5
👉Link tham gia ở phần bình luận

Photos from Văn Chương Mạn Đàm's post 09/06/2026

Bài văn viết thử của HSG Quốc gia ôn thi Tốt nghiệp! Các bạn tham khảo nhé!

Want your school to be the top-listed School/college in Ha Tinh?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Address

Đường Hà Hoàng/Thạch Trung
Ha Tinh