Văn Chương Mạn Đàm

Văn Chương Mạn Đàm Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Văn Chương Mạn Đàm, Education Website, Đường Hà Hoàng/Thạch Trung, Ha Tinh.

✨ Fanpage được sáng lập bởi đội ngũ Admin giàu kinh nghiệm Trường THPT Chuyên Hà Tĩnh - GV Ngữ văn và Cựu HSGQG môn Văn.
🌈 Ở đây có: tiếng nói TRI ÂM qua trang sách, CÂU CHUYỆN văn chương thú vị và KIẾN THỨC cần thiết cho tất cả các kì thi ☘️

[ TÁC PHẨM VĂN HỌC KINH ĐIỂN ]NGƯỜI BÁN HÀNG KABUL - Rabindranath Tagore1. BẢN DỊCHCon gái năm tuổi của tôi, Mini, không...
28/09/2026

[ TÁC PHẨM VĂN HỌC KINH ĐIỂN ]

NGƯỜI BÁN HÀNG KABUL - Rabindranath Tagore

1. BẢN DỊCH

Con gái năm tuổi của tôi, Mini, không thể sống mà thiếu những câu chuyện. Tôi thực sự tin rằng trong suốt cuộc đời mình, con bé chưa từng để phí một phút nào cho sự im lặng. Mẹ nó thường phát bực vì điều ấy và tìm cách ngăn những lời huyên thuyên của con, nhưng tôi thì không. Nhìn Mini im lặng là một điều gì đó thật trái tự nhiên, và tôi không thể chịu đựng được lâu. Vì thế, những cuộc trò chuyện giữa hai cha con chúng tôi lúc nào cũng rộn ràng.

Một buổi sáng nọ, chẳng hạn, khi tôi đang mải mê với chương mười bảy của cuốn tiểu thuyết mới, cô bé Mini lẻn vào phòng, nắm lấy tay tôi và nói: “Cha ơi! Ramdayal, người gác cổng ấy, gọi con quạ là ‘krow’! Ông ấy chẳng biết gì cả, phải không cha?”
Trước khi tôi kịp giải thích cho con bé về những khác biệt ngôn ngữ trên thế gian này, nó đã chuyển sang một đề tài hoàn toàn khác. “Cha nghĩ sao? Bhola bảo có một con voi ở trên mây, nó phun nước từ vòi của mình, nên trời mới mưa đấy!”

Rồi chẳng đợi tôi kịp trả lời câu ấy, nó lại chuyển ngay sang một chuyện khác, còn tôi vẫn ngồi đó, cố nghĩ xem nên đáp lại thế nào: “Cha ơi! Mẹ là gì của cha?”

Tôi cố làm ra vẻ nghiêm nghị và nói: “Đi chơi với Bhola đi, Mini! Cha đang bận!”

Cửa sổ phòng tôi nhìn ra đường phố. Con bé ngồi dưới chân tôi, bên cạnh chiếc bàn, khe khẽ chơi đùa, hai tay gõ nhịp lên đầu gối. Tôi đang mải mê với chương mười bảy, nơi Pratap Singh, người anh hùng, vừa ôm Kanchanlata, nữ nhân vật chính, và chuẩn bị cùng nàng trốn qua cửa sổ tầng ba của tòa lâu đài, thì bất chợt Mini bỏ trò chơi, chạy đến bên cửa sổ và reo lên: “Một người bán hàng Kabul! Một người bán hàng Kabul!” Quả nhiên, dưới phố có một người bán hàng Kabul đang chậm rãi đi ngang qua.

Ông ta mặc bộ quần áo rộng và đã cũ bẩn theo kiểu người quê mình, đội một chiếc khăn xếp cao trên đầu; trên lưng là một chiếc túi, còn trên tay xách những hộp nho.
Tôi không biết cảm xúc của con gái mình lúc nhìn thấy người đàn ông ấy là gì, nhưng nó bắt đầu gọi thật to. Tôi nghĩ: “Thế là ông ta sẽ vào đây, và chương mười bảy của mình sẽ chẳng bao giờ viết xong mất!” Đúng lúc ấy, người bán hàng Kabul quay lại và ngước nhìn đứa trẻ. Vừa thấy ông ta, Mini hoảng sợ chạy vụt vào lòng mẹ và biến mất. Con bé tin một cách tuyệt đối rằng trong chiếc túi người đàn ông to lớn kia mang theo có thể đang nhốt hai hoặc ba đứa trẻ khác giống như nó.

Trong khi đó, người bán hàng bước vào cửa nhà tôi, mỉm cười chào.

Vì tình thế của người anh hùng và nữ nhân vật trong câu chuyện đang quá đỗi hiểm nghèo, phản ứng đầu tiên của tôi là dừng bút lại và mua một thứ gì đó, bởi chính người đàn ông kia đã được gọi vào. Tôi mua vài món nhỏ, rồi chúng tôi bắt đầu trò chuyện về Abdurrahman, người Nga, người Anh và chính sách vùng Biên giới.
Khi chuẩn bị rời đi, ông hỏi: “Cô bé đâu rồi, thưa ông?”

Tôi nghĩ rằng Mini cần phải từ bỏ nỗi sợ vô lý của mình, nên cho gọi con bé ra.
Nó đứng bên ghế của tôi, nhìn người bán hàng Kabul và chiếc túi của ông. Ông đưa cho nó các loại hạt và nho khô, nhưng con bé không bị dụ dỗ, chỉ càng nép sát vào tôi hơn, những nghi ngờ trong lòng dường như lại càng tăng.

Đó là lần đầu tiên họ gặp nhau.

Tuy nhiên, chỉ vài ngày sau, một buổi sáng nọ, khi tôi chuẩn bị rời khỏi nhà, tôi ngạc nhiên thấy Mini đang ngồi trên một chiếc ghế dài gần cửa, vừa cười vừa trò chuyện với người bán hàng Kabul to lớn đang ngồi dưới chân nó. Có vẻ như trong suốt cuộc đời mình, cô con gái nhỏ của tôi chưa từng gặp một người kiên nhẫn lắng nghe mình đến thế, ngoại trừ cha nó. Và lúc ấy, góc nhỏ trên chiếc sari của con bé đã đầy hạnh nhân và nho khô, quà của người khách. “Tại sao ông lại cho con bé những thứ này?” tôi hỏi, rồi lấy ra một đồng tám anna đưa cho ông.

Người đàn ông nhận tiền không một chút ngần ngại và bỏ vào túi.

Than ôi, khi trở về một giờ sau đó, tôi phát hiện đồng tiền đáng thương kia đã gây ra rắc rối lớn gấp đôi giá trị của nó! Người bán hàng Kabul đã đưa nó cho Mini; và mẹ con bé, vừa nhìn thấy đồng tiền sáng loáng ấy, lập tức hỏi dồn: “Con lấy đồng tám anna này ở đâu?”

“Người bán hàng Kabul cho con,” Mini vui vẻ đáp.

“Người bán hàng Kabul cho con ư!” mẹ nó kinh ngạc kêu lên. “Ôi Mini! Sao con lại nhận tiền của ông ta?”

Đúng lúc ấy tôi bước vào, kịp cứu con bé khỏi một tai họa đang chờ sẵn, rồi tự mình hỏi han cho rõ chuyện.

Hóa ra đó không phải lần đầu tiên, cũng chẳng phải lần thứ hai, hai người gặp nhau. Người bán hàng Kabul đã khéo léo dùng những món hạt và hạnh nhân để xua tan nỗi sợ ban đầu của con bé, và giờ đây họ đã trở thành đôi bạn thân thiết.

Họ có rất nhiều trò đùa kỳ lạ khiến cả hai thích thú. Ngồi trước mặt ông, ngước nhìn thân hình khổng lồ ấy bằng tất cả vẻ nghiêm trang bé nhỏ của mình, Mini thường cười khúc khích rồi bắt đầu: “Ôi, người bán hàng Kabul! Người bán hàng Kabul! Trong túi ông có gì thế?”

Và ông sẽ đáp, bằng giọng mũi của người miền núi: “Một con voi!” Có lẽ chẳng có gì đáng cười lắm, nhưng cả hai lại thích thú vô cùng! Còn đối với tôi, những cuộc trò chuyện giữa một đứa trẻ và một người đàn ông trưởng thành ấy lúc nào cũng có một sức cuốn hút kỳ lạ.

Rồi người bán hàng Kabul, không chịu kém cạnh, sẽ đến lượt mình hỏi: “Thế còn cô bé, bao giờ cháu đến nhà bố chồng?”

Hầu hết những bé gái Bengali đều đã nghe nói về “nhà bố chồng” từ lâu. Nhưng chúng tôi vốn hơi tân tiến, nên chưa từng nói những chuyện ấy với con mình. Vì vậy, trước câu hỏi này, Mini hẳn có chút bối rối. Nhưng nó không chịu để lộ điều đó và nhanh trí đáp lại: “Thế ông có đi đến đó không?”

Đối với những người thuộc tầng lớp của người bán hàng Kabul, ai cũng biết rằng cụm từ “nhà bố chồng” còn có một nghĩa kép. Đó là một cách nói tránh về nhà tù, nơi người ta được chăm sóc chu đáo mà chẳng phải trả một đồng nào. Người bán hàng khỏe mạnh kia hiểu câu hỏi của con bé theo nghĩa ấy. “À,” ông nói, vừa lắc nắm đấm vào một viên cảnh sát tưởng tượng, “tôi sẽ đánh cho ông bố chồng ấy một trận!” Nghe vậy, rồi hình dung ra người họ hàng đáng thương đang bị đánh cho tơi bời, Mini bật lên những tràng cười giòn giã, và người bạn to lớn của nó cũng cười theo.

Đó là những buổi sáng mùa thu, thời điểm mà ngày xưa các vị vua thường lên đường chinh chiến; còn tôi, chẳng bao giờ rời khỏi góc nhỏ của mình ở Calcutta, lại để tâm trí lang thang khắp thế giới. Chỉ cần nghe đến tên một đất nước khác, trái tim tôi đã hướng về nơi ấy; và mỗi khi nhìn thấy một người ngoại quốc trên phố, tôi lại bắt đầu dệt nên cả một mạng lưới những giấc mơ: những ngọn núi, những thung lũng và những khu rừng của quê hương xa xôi nơi họ đến, ngôi nhà nhỏ nằm giữa cảnh vật ấy, cùng cuộc sống tự do và phóng khoáng nơi miền hoang dã cách xa đây.

Có lẽ những cảnh tượng của những chuyến đi hiện lên trước mắt tôi và đi đi lại lại trong trí tưởng tượng càng sống động hơn bởi cuộc sống của tôi vốn quá đỗi bình lặng, đến mức một lời gọi lên đường cũng có thể giáng xuống tôi như một tiếng sét. Ở bên người bán hàng Kabul này, tôi lập tức được đưa tới chân những đỉnh núi khô cằn, nơi những khe núi nhỏ hẹp ngoằn ngoèo giữa những vách đá cao vút.

Tôi nhìn thấy đoàn lạc đà chở hàng, nhìn thấy những nhóm thương nhân đội khăn xếp, người mang theo những khẩu súng cổ kỳ lạ, người mang theo giáo, đang men xuống những vùng đồng bằng. Tôi có thể nhìn thấy... Nhưng thường đến lúc ấy, mẹ Mini lại xen vào, khẩn khoản bảo tôi: “Hãy coi chừng người đàn ông đó.”

Mẹ Mini, đáng tiếc thay, là một người phụ nữ vô cùng nhút nhát. Mỗi khi nghe thấy một tiếng động ngoài phố, hoặc nhìn thấy ai đó đi về phía nhà mình, bà luôn lập tức nghĩ rằng đó có thể là kẻ trộm, người say rượu, rắn, hổ, bệnh sốt rét, gián hoặc sâu bọ. Ngay cả sau ngần ấy năm trải nghiệm, bà vẫn không thể vượt qua nỗi sợ hãi của mình. Vì thế, bà luôn đầy nghi ngờ về người bán hàng Kabul và thường khẩn khoản tôi phải để mắt đến ông ta.

Tôi cố nhẹ nhàng cười xòa trước nỗi sợ của bà, nhưng rồi bà lại nghiêm túc quay sang hỏi tôi những câu đầy lo lắng:

Chẳng lẽ chưa từng có trẻ con bị bắt cóc?

Chẳng lẽ ở Kabul không có chế độ nô lệ?

Chẳng lẽ một người đàn ông to lớn như thế lại không thể mang một đứa trẻ bé xíu đi hay sao?

Tôi nói rằng, dù điều ấy không phải là không thể, nhưng khả năng xảy ra là cực kỳ thấp. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, nỗi sợ của bà vẫn còn đó. Tuy nhiên, vì nỗi sợ ấy không có một căn cứ cụ thể nào, tôi thấy không nên cấm người đàn ông kia bước vào nhà. Và mối thân tình giữa chúng tôi vẫn tiếp tục như trước.

Mỗi năm một lần, vào giữa tháng Giêng, Rahmun, người bán hàng Kabul, thường trở về quê nhà. Khi thời điểm ấy đến gần, ông rất bận rộn, đi hết nhà này đến nhà khác để thu những món nợ. Thế nhưng năm ấy, ông vẫn luôn tìm được thời gian để đến thăm Mini. Với một người ngoài cuộc, có lẽ hai người họ giống như đang có một âm mưu bí mật nào đó, bởi nếu không thể đến vào buổi sáng, ông sẽ xuất hiện vào buổi tối.

Ngay cả tôi, đôi khi cũng hơi giật mình khi bất chợt bắt gặp người đàn ông cao lớn, mặc quần áo rộng thùng thình và mang theo chiếc túi lớn ấy trong một góc tối của căn phòng; nhưng mỗi khi Mini chạy vào, nở nụ cười và reo lên: “Ôi, người bán hàng Kabul! Người bán hàng Kabul!”, rồi hai người bạn cách nhau cả một thế hệ lại chìm vào những tiếng cười và những câu chuyện đùa quen thuộc, tôi lại cảm thấy yên lòng.

Một buổi sáng, vài ngày trước khi ông quyết định lên đường, tôi đang ngồi trong phòng làm việc sửa bản in thử. Trời khá lạnh. Qua cửa sổ, những tia nắng chạm vào chân tôi, mang đến một chút hơi ấm thật dễ chịu. Gần tám giờ sáng, những người đi đường sớm đang trở về nhà, đầu trùm kín. Bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng náo động ngoài phố. Nhìn ra cửa sổ, tôi thấy Rahmun đang bị hai viên cảnh sát trói dẫn đi, phía sau là một đám trẻ tò mò.

Quần áo người bán hàng Kabul dính đầy máu, còn một trong hai viên cảnh sát đang cầm một con dao. Tôi vội chạy ra, chặn họ lại và hỏi chuyện gì đã xảy ra. Qua lời người này, rồi lời người kia, tôi mới hiểu rằng một người hàng xóm nọ nợ người bán hàng tiền mua một chiếc khăn choàng Rampuri, nhưng đã gian dối phủ nhận rằng mình từng mua nó, và trong lúc cãi vã, Rahmun đã đánh người ấy.

Giờ đây, trong cơn kích động, người tù bắt đầu gọi kẻ thù của mình bằng đủ thứ tên. Đúng lúc đó, trên hành lang nhà tôi xuất hiện cô bé Mini với tiếng reo quen thuộc: “Ôi, người bán hàng Kabul! Người bán hàng Kabul!” Gương mặt Rahmun sáng lên khi ông quay về phía con bé. Hôm nay ông không có chiếc túi bên mình, vì thế Mini không thể hỏi về con voi.

Nó lập tức chuyển sang câu hỏi tiếp theo: “Ông có đi đến nhà bố chồng không?” Rahmun cười và đáp: “Đúng nơi ta đang đi đấy, cô bé!” Rồi thấy câu trả lời chẳng làm con bé vui, ông giơ đôi tay đang bị còng lên. “À!” ông nói, “ta định đánh cho ông bố chồng già ấy một trận, nhưng tay ta đang bị trói!”

Với tội danh hành hung có ý định giết người, Rahmun bị kết án vài năm tù.
Thời gian trôi đi và người ta dần quên mất ông. Công việc quen thuộc vẫn tiếp diễn ở nơi quen thuộc, còn hình ảnh người miền núi từng được tự do ấy đang trải qua những năm tháng trong tù hiếm khi, hoặc có lẽ chẳng bao giờ, xuất hiện trong tâm trí chúng tôi. Ngay cả Mini vốn vô tư, tôi thật xấu hổ khi phải thừa nhận, cũng quên mất người bạn cũ. Những người bạn mới lấp đầy cuộc sống của con bé. Càng lớn, nó càng dành nhiều thời gian hơn cho những cô bé khác. Thời gian nó ở bên họ nhiều đến mức không còn chạy vào phòng cha như trước nữa. Tôi gần như chẳng còn nói chuyện được với con.

Nhiều năm đã trôi qua. Một lần nữa mùa thu lại về, và chúng tôi bắt đầu chuẩn bị cho đám cưới của Mini. Hôn lễ sẽ diễn ra trong kỳ nghỉ lễ Puja. Cũng như nữ thần Durga trở về Kailas, ánh sáng của ngôi nhà chúng tôi cũng sắp rời đi để đến nhà chồng, bỏ lại ngôi nhà của cha mình trong bóng tối.

Buổi sáng hôm ấy trời rất đẹp. Sau những cơn mưa, không khí mang một cảm giác trong trẻo như vừa được gột rửa, còn ánh nắng trông như vàng ròng. Ánh sáng rực rỡ đến mức ngay cả những bức tường gạch xám xịt của những con ngõ Calcutta cũng ánh lên một vẻ đẹp dịu dàng. Từ sáng sớm, tiếng kèn cưới đã vang lên, và mỗi nhịp kèn dường như cũng làm trái tim tôi rung lên. Giai điệu ai oán của khúc Bhairavi càng khiến nỗi đau chia lìa trong tôi thêm sâu sắc. Đêm nay, Mini của tôi sẽ lấy chồng.

Từ sáng sớm, cả ngôi nhà đã ngập trong tiếng động và sự tất bật. Ngoài sân, mái che phải được dựng lên bằng những cột tre; những chiếc đèn chùm leng keng phải được treo trong từng căn phòng và ngoài hành lang. Khắp nơi là sự vội vã và náo nức không ngừng. Tôi đang ngồi trong phòng làm việc, xem lại các khoản chi tiêu, thì có người bước vào, kính cẩn chào tôi và đứng trước mặt. Đó là Rahmun, người bán hàng Kabul. Thoạt đầu tôi không nhận ra ông.

Ông không còn chiếc túi, mái tóc dài cũng không còn, và vẻ mạnh mẽ ngày trước đã biến mất. Nhưng ông mỉm cười, và tôi nhận ra người quen cũ.

“Rahmun, anh về từ bao giờ?” tôi hỏi.

“Tối qua,” ông đáp. “Tôi vừa được thả khỏi nhà tù.”

Những lời ấy khiến tôi chói tai. Trước đó, tôi chưa bao giờ nói chuyện với một người từng làm bị thương đồng loại của mình. Khi nhận ra điều ấy, lòng tôi bất giác co lại; tôi cảm thấy ngày hôm nay có lẽ đã tốt lành hơn nếu ông không xuất hiện.

“Trong nhà đang có lễ,” tôi nói, “và tôi rất bận. Hay anh quay lại vào một ngày khác được không?”

Ông lập tức quay người định đi; nhưng đến cửa, ông dừng lại và nói: “Tôi không thể gặp cô bé một lát sao, thưa ông?”

Ông vẫn tin rằng Mini còn là cô bé ngày nào. Ông hình dung con bé sẽ chạy đến với mình như trước, gọi lớn: “Ôi, người bán hàng Kabul! Người bán hàng Kabul!” Ông cũng tưởng tượng hai người sẽ lại cười nói với nhau như ngày xưa. Thực ra, để nhớ về những ngày tháng cũ, ông đã cẩn thận gói trong giấy một ít hạnh nhân, nho khô và nho tươi, bằng cách nào đó kiếm được từ một người đồng hương; số tiền ít ỏi ông có đã tiêu hết cả rồi.

Tôi lại nói: “Trong nhà đang có lễ, hôm nay anh sẽ không thể gặp được ai đâu.”

Gương mặt người đàn ông chùng xuống. Ông nhìn tôi đầy lưu luyến một lúc, rồi nói: “Chào ông” và bước ra ngoài.

Tôi thấy hơi áy náy, định gọi ông trở lại, nhưng ông đã tự mình quay lại. Ông đến gần tôi, đưa những món quà ra và nói: “Tôi mang những thứ này cho cô bé, thưa ông. Ông đưa giúp tôi cho cháu.”

Tôi nhận lấy và định trả tiền, nhưng ông nắm lấy tay tôi và nói: “Ông thật tốt bụng, thưa ông! Xin hãy nhớ đến tôi. Đừng đưa tiền cho tôi! Ông có một cô con gái nhỏ. Tôi cũng có một đứa con gái như thế ở quê nhà. Tôi nghĩ đến con bé, rồi mang hoa quả cho con ông, chứ không phải để kiếm lời cho mình.”

Nói rồi, ông đưa tay vào trong chiếc áo rộng thùng thình và lấy ra một mảnh giấy nhỏ, đã cáu bẩn. Ông cẩn thận mở nó ra, rồi dùng cả hai tay vuốt phẳng trên bàn tôi. Trên đó là dấu bàn tay nhỏ xíu của một đứa trẻ. Không phải một bức ảnh. Không phải một bức vẽ. Đó là dấu một bàn tay đã được quệt mực rồi áp phẳng lên mặt giấy. Dấu vết của đứa con gái nhỏ ấy đã luôn nằm trong trái tim ông, mỗi năm khi ông đến Calcutta, đi khắp các con phố để bán hàng.

Nước mắt trào lên trong mắt tôi. Tôi quên mất rằng ông chỉ là một người bán hoa quả nghèo đến từ Kabul, còn tôi là. Nhưng không, tôi thì có gì khác ông? Ông cũng là một người cha.

Dấu bàn tay nhỏ của cô bé Pārbati, đứa con gái đang ở một miền núi xa xôi, khiến tôi nhớ đến cô con gái nhỏ Mini của mình.

Tôi lập tức cho gọi Mini từ gian phòng phía trong. Có rất nhiều lời ngăn cản, nhưng tôi không chịu nghe. Mặc bộ sari lụa đỏ của ngày cưới, trên trán bôi bột đàn hương, được trang điểm như một cô dâu trẻ, Mini bước ra và e thẹn đứng trước mặt tôi.
Người bán hàng Kabul hơi sững lại trước hình ảnh ấy. Ông không thể khơi lại tình bạn ngày xưa. Cuối cùng, ông mỉm cười và nói: “Cô bé, cháu sắp đến nhà bố chồng rồi phải không?”

Nhưng giờ đây Mini đã hiểu “nhà bố chồng” nghĩa là gì, và nó không thể trả lời ông như ngày trước. Con bé đỏ mặt trước câu hỏi ấy, rồi đứng trước ông, cúi gương mặt cô dâu xuống.

Tôi nhớ lại ngày đầu tiên người bán hàng Kabul gặp Mini, và lòng chợt buồn. Khi con bé đi khỏi, Rahmun thở dài một tiếng thật sâu rồi ngồi xuống sàn. Bất chợt ông nhận ra con gái mình hẳn cũng đã lớn lên trong quãng thời gian dài ấy, và ông sẽ phải làm quen lại với con bé từ đầu. Chắc chắn ông sẽ không còn tìm thấy ở con gái mình cô bé mà ông từng biết. Hơn nữa, ai biết được trong tám năm qua đã có chuyện gì xảy ra với con bé?

Tiếng kèn cưới lại vang lên, và ánh nắng mùa thu dịu nhẹ tràn quanh chúng tôi. Nhưng Rahmun vẫn ngồi trong con ngõ nhỏ ở Calcutta, trước mắt ông là những dãy núi Afghanistan khô cằn, trơ trụi.

Tôi lấy một tờ tiền giấy đưa cho ông và nói: “Về với con gái anh đi, Rahmun, về quê hương của anh. Mong rằng niềm hạnh phúc trong ngày hai cha con gặp lại nhau sẽ mang đến may mắn cho con tôi!”

Sau khi tặng ông món quà ấy, tôi buộc phải cắt bớt một phần lễ cưới. Tôi không thể lắp những ngọn đèn điện như dự định, cũng không thể thuê ban nhạc quân đội, và những người phụ nữ trong nhà đều có vẻ buồn bã vì điều đó. Nhưng với tôi, bữa tiệc cưới hôm ấy lại trở nên sáng sủa hơn bao giờ hết, bởi tôi nghĩ rằng, ở một miền đất xa xôi, một người cha đã mất con từ lâu đang được gặp lại đứa con duy nhất của mình.

2. TÁC GIẢ

Rabindranath Tagore (1861–1941) là nhà thơ, nhà văn và nhà tư tưởng lớn của Ấn Độ, sáng tác bằng tiếng Bengal và tiếng Anh. Ông để lại một di sản phong phú gồm thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, tiểu luận, ca khúc và hội họa. Năm 1913, Tagore được trao Giải Nobel Văn học, trở thành người châu Á đầu tiên nhận giải Nobel.
The Cabuliwallah (tên gốc Bengali: Kabuliwallah) là một trong những truyện ngắn nổi tiếng của Tagore, được viết và xuất bản lần đầu bằng tiếng Bengal vào năm 1892. Bản tiếng Anh xuất hiện sau đó, trong Hungry Stones and Other Stories năm 1916.

3. ĐỊNH HƯỚNG ĐỌC HIỂU – GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

a. Từ tình bạn trẻ thơ đến sự gặp gỡ giữa những con người xa lạ
Mini và Rahmun thuộc hai thế giới khác nhau: một cô bé người Bengal và một người bán hàng đến từ Kabul. Tuy vậy, giữa họ hình thành một mối quan hệ thân thiết, tự nhiên qua những câu chuyện và trò đùa giản dị. Từ mối quan hệ ấy, tác phẩm gợi ra một câu hỏi rộng hơn: Điều gì khiến những con người khác biệt về quê hương, tuổi tác, hoàn cảnh vẫn có thể tìm thấy sự gần gũi ở nhau?

b. Tình phụ tử là mạch cảm xúc quan trọng của truyện
Ban đầu, Rahmun tìm đến Mini như một người bạn nhỏ. Nhưng ở phần cuối, khi người kể chuyện nhìn thấy dấu bàn tay của con gái Rahmun, ý nghĩa của mối quan hệ ấy được mở rộng. Rahmun không chỉ là một người bán hàng xa quê. Anh là một người cha luôn mang theo hình ảnh đứa con gái nhỏ của mình. Người kể chuyện cũng là một người cha và chính sự tương đồng ấy khiến khoảng cách giữa hai con người dần được xóa bỏ.

c. Thời gian làm thay đổi con người và các mối quan hệ
Tám năm Rahmun ở trong tù cũng là khoảng thời gian Mini trưởng thành. Khi gặp lại, cô bé ngày nào đã trở thành một thiếu nữ sắp lấy chồng; những câu chuyện đùa giữa Mini và Rahmun không thể trở lại như trước. Sự thay đổi ấy tạo nên một nỗi buồn nhẹ nhưng sâu sắc rằng thời gian không chỉ làm con người lớn lên mà còn khiến những điều từng thân thuộc trở thành ký ức.

d. Chi tiết dấu bàn tay
Dấu bàn tay của cô con gái được Rahmun giữ trong nhiều năm là một chi tiết đặc biệt giàu sức gợi. Đó không phải một bức ảnh, mà chỉ là dấu bàn tay in trên một mảnh giấy, nhưng với Rahmun, nó trở thành ký ức về đứa con đang ở rất xa. Chi tiết này cũng là cầu nối giúp người kể chuyện nhận ra sự tương đồng giữa mình và Rahmun: cả hai đều là những người cha có một đứa con mà họ yêu thương.

e. Giá trị nhân văn
Tác phẩm không xây dựng tình cảm giữa Mini và Rahmun như một câu chuyện đơn thuần về tình bạn. Qua đó, Tagore hướng sự chú ý tới những tình cảm rất căn bản của con người: tình yêu dành cho con, nỗi nhớ gia đình, sự chia lìa và khát vọng được đoàn tụ. Đặc biệt, ở cuối truyện, người kể chuyện đã lựa chọn giúp Rahmun trở về với con gái. Hành động ấy cho thấy sự thay đổi trong cách nhìn của ông: từ một người xa lạ đáng ngờ trở thành một người cha có hoàn cảnh mà ông có thể thấu hiểu.

f. Nghệ thuật kể chuyện
Truyện được kể qua ngôi thứ nhất, từ điểm nhìn của người cha – cũng là người quan sát mối quan hệ giữa Mini và Rahmun. Cách kể này tạo nên cảm giác gần gũi, đồng thời cho phép sự thay đổi trong nhận thức của người kể chuyện trở thành một phần quan trọng của câu chuyện. Tagore không đẩy cảm xúc lên thành những lời giáo huấn trực tiếp. Ý nghĩa của tác phẩm dần hiện ra qua những chi tiết đời thường như tiếng cười của Mini, những câu chuyện giữa hai người, quãng thời gian Rahmun trong tù, sự trưởng thành của Mini và cuối cùng là dấu bàn tay của đứa con gái.

----------------------------------
📚 VĂN CHƯƠNG MẠN ĐÀM: Hệ sinh thái học tập và ôn thi Ngữ văn
📌 LINK THAM GIA CÁC GROUP HỌC TẬP & ĐĂNG KÝ TÀI LIỆU Ở PHẦN BÌNH LUẬN
1️⃣ Nhóm học tập miễn phí – Văn Chương Mạn Đàm | Người trong cuộc
2️⃣ Nhóm học tập Membership 03 – 50K/tháng
3️⃣ Đăng ký mua các gói tài liệu
📖 LINK ĐỌC THỬ TÀI LIỆU
🔹 Tài liệu ôn thi HSG
🔹 Tài liệu ôn thi vào 10 & TN THPT
🌐 Website: vanchuongmandam.com
▶️ YouTube: Văn Chương Mạn Đàm - Radio

🔥 TỔNG HỢP ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH CÁC TỈNH----------------------------------📚 VĂN CHƯƠNG MẠN ĐÀM: Hệ sinh thái học tập và ...
27/09/2026

🔥 TỔNG HỢP ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH CÁC TỈNH
----------------------------------
📚 VĂN CHƯƠNG MẠN ĐÀM: Hệ sinh thái học tập và ôn thi Ngữ văn
📌 LINK THAM GIA CÁC GROUP HỌC TẬP & ĐĂNG KÝ TÀI LIỆU Ở PHẦN BÌNH LUẬN
1️⃣ Nhóm học tập miễn phí – Văn Chương Mạn Đàm | Người trong cuộc
2️⃣ Nhóm học tập Membership 03 – 50K/tháng
3️⃣ Đăng ký mua các gói tài liệu

📖 LINK ĐỌC THỬ TÀI LIỆU
🔹 Tài liệu ôn thi HSG
🔹 Tài liệu ôn thi vào 10 & TN THPT

🌐 Website: vanchuongmandam.com
▶️ YouTube: Văn Chương Mạn Đàm - Radio

[ MỞ BÀI – KẾT BÀI TỪ BỨC TRANH PEACE (HÒA BÌNH) - LOUIS GALLAIT, 1872 ]I. GIỚI THIỆU VỀ BỨC TRANH1. Tác giảLouis Gallai...
26/09/2026

[ MỞ BÀI – KẾT BÀI TỪ BỨC TRANH PEACE (HÒA BÌNH) - LOUIS GALLAIT, 1872 ]

I. GIỚI THIỆU VỀ BỨC TRANH

1. Tác giả
Louis Gallait (1810–1887) là họa sĩ người Bỉ gốc vùng Wallonie, sinh tại Tournai và mất ở Brussels (Schaerbeek). Ông giữ vai trò quan trọng trong việc hồi sinh dòng tranh lịch sử ở Bỉ thế kỷ 19, nổi tiếng với bức Charles V thoái vị. Tranh của Gallait được đánh giá cao ở tính hiện thực, sự chăm chút phục trang và cách phối màu.

2. Hoàn cảnh ra đời
Peace hoàn thành năm 1872, tạo thành một cặp tranh đối xứng với bức War (Chiến tranh), cũng do Gallait vẽ trong cùng năm. Theo lời một nhà phê bình người Bỉ đăng trên báo Feuille de Tournai (21/4/1872), hai bức được ông xếp vào hàng những tác phẩm xuất sắc nhất của Gallait, là những ngụ ngôn về hòa bình và chiến tranh nhưng được xây dựng theo lối mới, lấy hiện thực sống động thay cho các hình tượng ước lệ trừu tượng. Nhà phê bình bày tỏ hy vọng rằng sau khi trưng bày ở một triển lãm học thuật tại London, cặp tranh sẽ quay về Bỉ để công chúng rộng rãi được xem, nhưng trên thực tế chúng ở lại London rồi sau đó thuộc về bộ sưu tập của William T. Walters ở Mỹ.

3. Chất liệu
Sơn dầu trên vải canvas, kích thước 118 × 82,3 cm; tính cả khung, kích thước khoảng 162,9 × 126,7 cm. Chữ ký và năm sáng tác "Louis Gallait R.A.; 1872" được đặt ở góc dưới bên trái, vẽ trên hình một chiếc xa quay sợi xuất hiện trong tranh.

4. Ý nghĩa
Trong tranh là ba nhân vật quây quần dưới bóng cây: một người mẹ tóc nâu đỏ đang cho con bú, đứa bé trần trụi tựa vào lòng mẹ; bên cạnh là một cô gái trẻ tóc vàng, tay giơ cao một cành hoa trắng nở rộ như đang chỉ về phía chân trời. Dưới chân họ, một chú dê con nằm cuộn tròn, phía xa là quang cảnh đồng quê với vài bóng gia súc và bầu trời dịu nhẹ. Bố cục quây quần, gam màu ấm và ánh sáng tập trung vào mẹ con tạo cảm giác no đủ, an nhiên, trái ngược hẳn với gam nâu xám lạnh và sự đổ nát trong bức War.

War chọn hình ảnh người mẹ kiệt sức cùng đứa trẻ hoảng sợ để nói về mất mát, còn Peace dùng hình ảnh người mẹ cho con bú, đứa trẻ lớn hân hoan giơ cành hoa và chú dê con hiền lành để gợi ra một cuộc sống sung túc, được nuôi dưỡng và an toàn. Cách xây dựng cặp tranh theo lối tương phản này cho thấy Gallait chọn con đường riêng để minh họa hòa bình và chiến tranh, thay cho các biểu tượng quy ước như cành ô liu hay thần chiến tranh, bằng cách đặt cạnh nhau hai cảnh đời rất con người: một bên là sự sống được che chở và sinh sôi, một bên là sự sống bị đe dọa và mất mát. Nhờ vậy, ý niệm về hòa bình và chiến tranh trở nên cụ thể, gần gũi hơn nhiều so với những khái niệm trừu tượng.

5. Nơi trưng bày hiện nay
Peace thuộc bộ sưu tập của Walters Art Museum (Baltimore, Maryland, Mỹ), số đăng ký 37.119. Tranh được William T. Walters mua năm 1882, con trai ông là Henry Walters thừa kế năm 1894, và đến năm 1931 tác phẩm chính thức thuộc về bảo tàng theo di chúc của Henry Walters. Bức War (số đăng ký 37.124) cũng nằm trong cùng bộ sưu tập này.

II. 10 MỞ BÀI – KẾT BÀI TỪ BỨC TRANH PEACE

PHẦN A. NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

1. Hạnh phúc nằm trong những điều giản dị
Mở bài: Trong bức tranh Peace (1872) của Louis Gallait, hạnh phúc hiện ra rất đỗi bình thường, đó một người mẹ cho con bú dưới bóng cây, cô gái nhỏ bên cạnh giơ cao một cành hoa vừa nở, chú dê con nằm cuộn tròn dưới chân họ. Khung cảnh vắng bóng mọi biến cố, chỉ là một buổi chiều yên ả giữa đồng quê. Vậy mà nó vẫn khiến người xem cảm nhận trọn vẹn ý niệm về sự bình yên. Từ đó gợi ra một vấn đề đáng suy ngẫm: phải chăng hạnh phúc thật sự thường ẩn trong những điều giản dị nhất mà con người dễ lướt qua?
Kết bài: Tóm lại, hạnh phúc trong bức tranh của Gallait tồn tại mà chẳng cần một biến cố nào chứng minh, nó nằm sẵn trong một bữa ăn no đủ, một buổi chiều bình yên bên người thân. Con người hiện đại, giữa nhịp sống hối hả và những tiêu chuẩn thành công liên tục thay đổi, dễ bỏ quên rằng hạnh phúc vốn gần gũi hơn nhiều so với những gì người ta mải miết kiếm tìm ở đâu xa. Biết dừng lại để cảm nhận những điều nhỏ bé quanh mình, đó cũng là cách con người giữ cho tâm hồn được tươi mới giữa bộn bề cuộc sống.

2. Gia đình là nơi nuôi dưỡng và chở che
Mở bài: Nhìn vào bức tranh Peace của Louis Gallait, ta thấy ba nhân vật đang quây quần bên nhau: người mẹ ôm ấp đứa con thơ, cô chị lớn đứng kề bên như đang cùng gìn giữ khoảnh khắc ấy. Không gian ấm áp ấy khiến người xem liên tưởng đến một mái nhà, nơi mỗi thành viên đều có phần trách nhiệm chăm sóc, yêu thương lẫn nhau. Từ hình ảnh giản dị này, có thể nhận ra vai trò của gia đình như một điểm tựa đầu tiên và bền vững nhất trong hành trình trưởng thành của mỗi con người.
Kết bài: Như vậy, gia đình là nơi con người được nuôi dưỡng cả về thể chất lẫn tâm hồn, là nền tảng để mỗi cá nhân đủ vững vàng bước ra thế giới rộng lớn hơn. Bức tranh của Gallait, qua hình ảnh mẹ và các con quấn quýt bên nhau, nhắc mỗi người biết trân trọng mái ấm của mình. Giữ gìn gia đình, suy cho cùng, là giữ gìn nơi chốn luôn sẵn lòng đón ta trở về.

3. Ý nghĩa và giá trị của hòa bình
Mở bài: Trong bức tranh Peace (1872) của Louis Gallait, hòa bình hiện lên qua một khung cảnh rất chân thật, đó là người mẹ cho con bú dưới bóng cây, cô con gái lớn đứng bên giơ cao cành hoa mới nở, chú dê con nằm yên dưới chân họ, thay vì được minh họa bằng cành ô liu hay những biểu tượng quen thuộc. Cảnh vật quanh họ giữ nguyên vẻ tĩnh lặng, chỉ có sự sống được nuôi dưỡng trong bình yên. Đặt cạnh bức War mà Gallait vẽ cùng năm, hình ảnh ấy càng cho thấy hòa bình quý giá đến nhường nào, bởi nó cũng chính là điều kiện để sự sống được tiếp diễn. Từ đó, đặt ra vấn đề về ý nghĩa và giá trị thật sự của hòa bình đối với đời sống con người.
Kết bài: Hòa bình trong bức tranh của Gallait là nền tảng cho những điều bình dị nhất, đó là một đứa trẻ được nuôi lớn an toàn, một gia đình quây quần yên ổn, một vùng đất được canh tác và sinh sôi, hơn là một khái niệm xa xôi. Giá trị của hòa bình thường chỉ được nhận ra trọn vẹn khi đặt cạnh hình ảnh của chiến tranh và mất mát. Vì vậy, gìn giữ hòa bình là trách nhiệm chung của mọi người, là điều kiện để mỗi mái ấm, mỗi sự sống nhỏ bé được tiếp tục lớn lên trong yên ổn.

4. Sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên
Mở bài: Bối cảnh bức tranh Peace của Gallait là một khoảng đồng quê thoáng đãng với bóng cây, cánh đồng xa, đàn gia súc nhỏ và chú dê con nằm hiền lành dưới chân ba mẹ con. Con người trong tranh hòa vào thiên nhiên một cách tự nhiên, êm đềm, thay vì đứng tách biệt với nó. Khung cảnh ấy gợi nhắc về một mối quan hệ đáng quý, đó là sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, điều mà cuộc sống hiện đại với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng đang dần đánh mất.
Kết bài: Có thể thấy, hình ảnh con người sống thuận theo nhịp điệu của thiên nhiên trong bức tranh của Gallait là một nhắc nhở giản dị nhưng sâu sắc. Con người chỉ thật sự an yên khi biết tôn trọng và gìn giữ môi trường sống quanh mình, thay vì khai thác nó đến cạn kiệt. Giữa những đô thị ngày càng ngột ngạt, học cách trở về gần hơn với thiên nhiên cũng là cách để tâm hồn con người được thở.

5. Lòng biết ơn
Mở bài: Đứa trẻ trong bức tranh Peace (1872) của Louis Gallait vẫn còn quá nhỏ để hiểu vòng tay đang ôm ấp mình là cả một sự chăm sóc bền bỉ. Với đứa trẻ, bầu sữa mẹ, bóng cây mát và sự yên ổn quanh mình có lẽ chỉ là điều dĩ nhiên. Nhưng với người đứng ngoài khung tranh nhìn vào, tất cả những điều ấy đều mang dấu vết của sự cho đi và hy sinh từ một ai đó. Khoảng cách nhận thức ấy đặt ra một vấn đề đáng suy ngẫm về lòng biết ơn, thứ tình cảm giúp con người nhận ra và trân trọng những gì mình đang có.
Kết bài: Đứa trẻ trong tranh rồi sẽ lớn lên và một ngày nào đó hiểu ra vòng tay mẹ từng nâng đỡ mình nhiều đến thế nào. Con người cũng vậy, thường chỉ nhận ra giá trị của những gì mình có khi nhìn lại một chặng đường đã đi qua. Biết ơn, vì thế, chỉ cần một sự dừng lại đúng lúc để nhận ra ai đã âm thầm góp phần cho mình có được ngày hôm nay, chứ chẳng đòi hỏi những cử chỉ lớn lao.

PHẦN B. NGHỊ LUẬN – LÍ LUẬN VĂN HỌC

6. Sức mạnh biểu trưng của hình tượng nghệ thuật
Mở bài: Trong bức tranh Peace của Louis Gallait, một cành hoa trắng nở rộ trong tay cô gái trẻ và một chú dê con nằm yên dưới chân ba mẹ con là những chi tiết tưởng như rất nhỏ. Nhưng chính những hình ảnh giản dị ấy lại gánh trên mình toàn bộ ý niệm về hòa bình mà họa sĩ muốn truyền tải, thay cho những biểu tượng quy ước như cành ô liu hay các vị thần. Từ đó, có thể đặt ra một vấn đề của lí luận văn học rằng hình tượng nghệ thuật mang sức mạnh biểu trưng vượt xa hình hài cụ thể của nó.
Kết bài: Tóm lại, cành hoa hay chú dê con trong tranh vượt lên trên vai trò những vật thể được vẽ ra, trở thành nơi gửi gắm một ý niệm trừu tượng: sự sống, sự sinh sôi, sự an lành. Đó là cách nghệ thuật vận hành: chọn một hình ảnh cụ thể, gần gũi để nói về những điều lớn lao mà ngôn ngữ trực tiếp khó diễn đạt hết. Người sáng tạo giỏi là người biết chọn đúng chi tiết để chi tiết ấy tự cất lên tiếng nói của mình.

7. Chức năng thẩm mỹ của nghệ thuật
Mở bài: Bức tranh Peace của Louis Gallait ghi lại một khoảnh khắc đời thường là người mẹ cho con bú, cô chị đứng bên, chú dê con nằm nghỉ, thay vì dựng lên một khung cảnh tráng lệ hay một biến cố kịch tính. Vậy mà bố cục ấm áp, ánh sáng dịu và cách sắp đặt nhân vật khiến người xem cảm nhận được một vẻ đẹp lặng lẽ mà bền vững. Điều này gợi mở một vấn đề lí luận chức năng thẩm mỹ của nghệ thuật có thể đến từ khả năng phát hiện vẻ đẹp trong những điều bình dị của đời sống, bên cạnh những đề tài lớn lao.
Kết bài: Tóm lại, giá trị thẩm mỹ của một tác phẩm được đo bằng khả năng khiến người xem rung động trước những gì vốn quen thuộc, hơn là bằng quy mô của đề tài. Gallait đã biến một cảnh sinh hoạt gia đình bình thường thành một bức tranh về hòa bình đầy sức gợi. Đó cũng là bài học cho người sáng tạo: cái đẹp có thể được phát hiện ngay trong đời sống hằng ngày, miễn là người nghệ sĩ đủ tinh tế để nhận ra.

8. Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức nghệ thuật
Mở bài: Trong bức tranh Peace (1872), Louis Gallait chọn một đề tài ấm áp là cảnh mẹ con quây quần giữa đồng quê, đồng thời thể hiện đề tài ấy bằng gam màu ấm, ánh sáng dịu tập trung vào các nhân vật, và một bố cục khép kín, quây tụ. Nội dung về sự bình yên được nâng đỡ trọn vẹn bởi chính cách bức tranh được dựng nên, khi màu sắc, ánh sáng, đường nét đều cùng hướng về một cảm xúc duy nhất. Từ đó, có thể đặt ra một vấn đề của lí luận văn học: giá trị của một tác phẩm nằm ở sự thống nhất giữa nội dung được biểu đạt và hình thức nghệ thuật thể hiện nội dung ấy.
Kết bài: Tóm lại, sự yên ả trong Peace có được sức chạm đến người xem là nhờ một cách thể hiện tương xứng với ý tưởng về hòa bình mà nó mang. Chính bố cục, ánh sáng và màu sắc đã trở thành ngôn ngữ riêng giúp ý niệm trừu tượng hóa thành thứ có thể cảm nhận bằng mắt. Điều này cho thấy trong bất kỳ loại hình nghệ thuật nào, nội dung và hình thức luôn song hành, và hình thức chính là con đường để nội dung đi vào cảm xúc người tiếp nhận. Một tác phẩm lớn, vì vậy, luôn là sự hòa hợp trọn vẹn giữa điều muốn nói và cách nói ra điều đó.

9. Vai trò của chi tiết nghệ thuật
Mở bài: Trong bức tranh Peace, cử chỉ nhỏ của đứa bé đang bú mẹ, ánh mắt của cô chị hướng về cành hoa, tư thế nằm thư thái của chú dê con, mỗi chi tiết đều góp phần tạo nên không khí chung của tác phẩm. Mỗi chi tiết trong tranh đều mang một chủ đích riêng của người vẽ. Điều này đặt ra một vấn đề lí luận đáng quan tâm về vai trò của chi tiết nghệ thuật trong việc xây dựng và truyền tải cảm xúc của toàn bộ tác phẩm.
Kết bài: Tóm lại, một tác phẩm nghệ thuật thành công thường được dựng nên từ những chi tiết đều có lý do tồn tại. Mỗi hình ảnh nhỏ trong Peace, từ cành hoa đến chú dê con, đều được tính toán để cùng hướng về một cảm xúc chung là sự bình yên, ấm áp. Điều đó cho thấy sức nặng của một tác phẩm nằm ở sự chăm chút cho từng chi tiết nhỏ, bên cạnh tầm vóc của đề tài, bởi chính những chi tiết ấy mới là nơi cảm xúc thật sự được neo giữ.

10. Nghệ thuật hướng con người đến cái đẹp và sự sống
Mở bài: Nhìn vào bức tranh Peace, ta thấy rằng giữa vô vàn cách để thể hiện ý niệm về hòa bình, Louis Gallait chọn vẽ một cảnh rất đời thường: mẹ cho con bú, chị chăm em, chú dê con nằm yên bên cạnh. Bức tranh vắng bóng mọi biểu ngữ hay thông điệp trực tiếp, vậy mà vẫn khiến người xem cảm nhận rõ giá trị của sự sống được nuôi dưỡng trong bình yên. Từ lựa chọn ấy, người đọc liên tưởng đến vấn đề cốt lõi của lí luận văn học: thiên chức của nghệ thuật là hướng con người đến cái đẹp và trân trọng sự sống.
Kết bài: Như vậy, nghệ thuật vừa phản ánh hiện thực vừa có khả năng định hướng cảm xúc và nhận thức của con người về cuộc sống. Bức tranh của Gallait, bằng một khung cảnh giản dị, đã khơi dậy trong người xem tình yêu đối với sự sống bình yên và ý thức gìn giữ nó. Đó cũng chính là giá trị bền vững nhất của nghệ thuật: lặng lẽ nuôi dưỡng trong con người khả năng cảm nhận và trân trọng cái đẹp của đời sống, thay vì áp đặt bài học.

----------------------------------
📚 VĂN CHƯƠNG MẠN ĐÀM: Hệ sinh thái học tập và ôn thi Ngữ văn
📌 LINK THAM GIA CÁC GROUP HỌC TẬP & ĐĂNG KÝ TÀI LIỆU Ở PHẦN BÌNH LUẬN
1️⃣ Nhóm học tập miễn phí – Văn Chương Mạn Đàm | Người trong cuộc
2️⃣ Nhóm học tập Membership 03 – 50K/tháng
3️⃣ Đăng ký mua các gói tài liệu

📖 LINK ĐỌC THỬ TÀI LIỆU
🔹 Tài liệu ôn thi HSG
🔹 Tài liệu ôn thi vào 10 & TN THPT

🌐 Website: vanchuongmandam.com
▶️ YouTube: Văn Chương Mạn Đàm - Radio

Address

Đường Hà Hoàng/Thạch Trung
Ha Tinh

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Văn Chương Mạn Đàm posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share