11/06/2026
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2026
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Môn thi: NGỮ VĂN
(Đề thi có 02 trang)
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
(1) Năm 1440, tại một xưởng cơ khí nhỏ nằm lọt thỏm giữa thành phố Mainz nước Đức, Johannes Gutenberg phát minh ra máy in. [...]
(2) Trước năm 1440, tri thức là một dạng tài sản bị giam cầm. Nó nằm im lìm trong các thư viện, tu viện hay sau những cánh cổng sắt của các lâu đài, được lưu giữ trên những cuốn sách chép tay bằng da cừu mà giá trị của mỗi cuốn có thể đổi ngang một trang trại trù phú. Sự khan hiếm đó không phải là ngẫu nhiên, nó là một trật tự được thiết lập. Khi việc sao chép một văn bản đòi hỏi hàng nghìn giờ lao động thủ công của các tu sĩ, tri thức mặc nhiên trở thành đặc quyền của tầng lớp tinh hoa. Dân chúng không có quyền tiếp cận văn bản gốc, và do đó, họ không có quyền nghi ngờ.
(3) Phát minh của Gutenberg phá vỡ sự độc quyền đó bằng một khái niệm mang tính cách mạng: sự nhân bản công nghiệp của tri thức.
(4) Lần đầu tiên trong lịch sử, tư tưởng của một con người có thể tách rời khỏi thể xác họ và nhân ra hàng ngàn bản sao với chi phí thấp. Sách bắt đầu tràn xuống đường phố. Những ý tưởng, cả vĩ đại lẫn nguy hiểm, bắt đầu thấm thấu vào đại chúng. William Shakespeare được hậu thế tôn vinh là đại văn hào không chỉ bởi tài năng của ông, mà còn bởi ông sống đúng vào điểm rơi của công nghệ in ấn. Nếu không có những bản in First Folio được xuất bản năm 1623, những vở kịch kinh điển như Macbeth hay Hamlet có lẽ đã tan biến vào hư không ngay sau khi tấm màn nhung của nhà hát Globe khép lại.
(5) Sức mạnh của máy in không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn văn hóa, nó trở thành thước đo cho vận mệnh các quốc gia. Một sự phân hóa rõ rệt bắt đầu xuất hiện trên bản đồ thế giới. Những quốc gia phương Tây như Anh, Hà Lan hay Đức, nơi chấp nhận các phiên bản cải tiến sau này của máy in Gutenberg và để chúng vận hành hết công suất; đã chứng kiến sự bùng nổ chưa từng có về dân trí và khoa học. Tri thức không còn bị độc quyền, nó trở thành nhiên liệu cho Phục Hưng và Cách mạng Công nghiệp, giúp con người phát minh ra động cơ hơi nước và điện.
(6) Ngược lại, ở phía bên kia Địa Trung Hải, các Sultan của Đế quốc Ottoman hùng mạnh đã đưa ra một quyết định định mệnh khi cấm in ấn bằng tiếng Ả Rập và Thổ Nhĩ Kỳ trong suốt gần 300 năm, vì lo sợ sự lan truyền của những tư tưởng “lệch lạc”. Hậu quả là trong khi châu Âu đang tranh luận sôi nổi về vật lý và thiên văn học trên những trang báo in, thì một đế chế từng là trung tâm văn minh của thế giới lại dần chìm vào sự trì trệ và lạc hậu. Sự thiếu vắng hạ tầng nhân bản tri thức khiến tỷ lệ biết chữ tại đây dậm chân tại chỗ ở mức dưới 5% trong suốt nhiều thế kỷ. Họ bỏ lỡ hoàn toàn chuyến tàu của Cách mạng Khoa học và kỷ nguyên Khai sáng, đơn giản vì các ý tưởng đột phá không có cơ hội được sao chép, lan truyền để tạo ra sự cộng hưởng trí tuệ.
(Trích CODE VÀ CÁT – Những quyền lực công nghệ xoay chuyển thế giới, Phan Tuấn, NXB Thế giới, 2026, tr.8–10)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Theo văn bản, trước năm 1440, tri thức được lưu giữ ở đâu?
Câu 2. Chỉ ra câu văn chứa đựng bằng chứng về vai trò của máy in đối với tác phẩm của William Shakespeare trong đoạn (4).
Câu 3. Anh/Chị hiểu như thế nào về nghĩa của cụm từ tài sản bị giam cầm (đoạn 2) và từ nhiên liệu (đoạn 5) được tác giả sử dụng khi nói về tri thức trước và sau năm 1440?
Câu 4. Nhận xét về mối liên hệ giữa luận đề và các luận điểm trong văn bản.
Câu 5. Trong bối cảnh cần có những đột phá về khoa học công nghệ hiện nay, từ góc nhìn của người trẻ, theo anh/chị, cần sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) như thế nào để tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Nước Mĩ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới.
Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?
Câu 2 (4,0 điểm)
Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:
NHỮNG CHIẾC LÁ
Nguyễn Đình Thi
Chiều lạnh cóng, vườn cây vắng tanh, gió thổi bay lao xao,
những chiếc lá rụng trên mặt cỏ
Những chiếc lá nâu, đen, rách quăn queo
Đâu những ngày xuân, chúng ta xòe biếc đón về ríu rít những đàn chim.
Những buổi trưa hè, chúng ta um tùm che mát cho người đi đường mồ hôi nhễ nhại.
Những chiều thu nhẹ trong, chúng ta thắp vàng trên đầu bao đôi người yêu.
Đến hôm nay, gió bấc đã rứt chúng ta, ném xuống đất bụi.
Chiều lạnh cóng, những chiếc lá rụng bay lao xao trong vườn cây.
Ai bé nhỏ vừa đi tới.
Giữa gió buốt, chú bé lụi hụi xuýt xoa,
loạt xoạt, loạt xoạt, chiếc chổi tre quét trên mặt cỏ.
Sắp tối rồi. Chú bé ôm từng ôm lá nén vào chiếc bao tải dần căng phồng.
Đi đâu, chú bé vác bao tải to,
trên con đường đầu ô bụi bặm.
đợi mẹ đi làm về.
Đây rồi, dưới mái bếp tranh,
chú bé ngồi vốc từng nắm lá khô nhóm lửa, đặt nồi cơm,
Khói hắc hắc thơm thơm bay lên.
À, à, vậy chứ, vậy chứ, – những chiếc lá reo phù phù, nhảy nhót.
(Thơ Nguyễn Đình Thi, NXB Kim Đồng, 2025, tr.87–88)
ĐÁP ÁN GỢI Ý-
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1 (0,5 điểm). Theo văn bản, trước năm 1440, tri thức được lưu giữ ở đâu?
- Theo văn bản, trước năm 1440, tri thức được lưu giữ trong các thư viện, tu viện hay sau những cánh cổng sắt của các lâu đài.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra câu văn chứa đựng bằng chứng về vai trò của máy in đối với tác phẩm của William Shakespeare trong đoạn (4).
- Câu văn chứa bằng chứng đó là: “Nếu không có những bản in First Folio được xuất bản năm 1623, những vở kịch kinh điển như Macbeth hay Hamlet có lẽ đã tan biến vào hư không ngay sau khi tấm màn nhung của nhà hát Globe khép lại.”
Câu 3 (1,0 điểm). Anh/Chị hiểu như thế nào về nghĩa của cụm từ tài sản bị giam cầm (đoạn 2) và từ nhiên liệu (đoạn 5) được tác giả sử dụng khi nói về tri thức trước và sau năm 1440?
- Tài sản bị giam cầm” là cách nói ẩn dụ chỉ tri thức tuy vô cùng quý giá nhưng bị giới hạn trong phạm vi nhỏ hẹp, bị lưu giữ trong các thư viện, tu viện, lâu đài và trở thành đặc quyền của tầng lớp tinh hoa. Đại bộ phận dân chúng không có điều kiện tiếp cận và thụ hưởng nguồn tri thức ấy.
- “Nhiên liệu” là cách nói ẩn dụ chỉ vai trò của tri thức như nguồn động lực, nguồn năng lượng mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội, khoa học và văn minh nhân loại.
- Sự thay đổi ấy cho thấy tri thức đã chuyển từ trạng thái bị độc quyền, hạn chế lan tỏa sang trạng thái được phổ biến rộng rãi, trở thành sức mạnh tạo nên những bước tiến lớn của lịch sử.
Câu 4 (1,0 điểm). Nhận xét về mối liên hệ giữa luận đề và các luận điểm trong văn bản.
Luận đề của văn bản: Sức mạnh và vai trò quyết định của công nghệ nhân bản tri thức (cụ thể là máy in Gutenberg) đối với sự phát triển văn minh, khoa học và vận mệnh của các quốc gia.
Các luận điểm trong văn bản:
* Luận điểm 1: Tri thức trước khi có máy in bị độc quyền và giam cầm.
* Luận điểm 2: Phát minh máy in phá vỡ thế độc quyền, đưa tri thức đến với đại chúng và góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa.
* Luận điểm 3: Máy in tạo ra sự bùng nổ dân trí, trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của các quốc gia phương Tây.
* Luận điểm 4: Sự cấm đoán in ấn dẫn đến sự trì trệ và tụt hậu của Đế quốc Ottoman.
=> Luận đề và các luận điểm có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất. Các luận điểm được triển khai theo trình tự logic, kết hợp giữa sự đối chiếu trước – sau và đối lập giữa những quốc gia biết tận dụng công nghệ với những quốc gia hạn chế sự lan truyền tri thức. Nhờ đó, luận đề được làm sáng tỏ toàn diện và tăng sức thuyết phục.
Câu 5 (1,0 điểm). Trong bối cảnh cần có những đột phá về khoa học công nghệ hiện nay, từ góc nhìn của người trẻ, theo anh/chị, cần sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) như thế nào để tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ?
- Từ góc nhìn của người trẻ, để AI không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn là chất xúc tác tạo nên “sự cộng hưởng trí tuệ”, chúng ta cần:
+ Chuyển từ tư duy “ủy thác” sang tư duy “cộng tác”: Không dùng AI để làm thay hay tư duy thay, mà sử dụng AI để hệ thống hóa dữ liệu, gợi mở ý tưởng mới và phản biện các lập luận của bản thân.
+ Tận dụng AI để phá bỏ rào cản thông tin: Sử dụng AI trong dịch thuật, tóm tắt và phân tích các nguồn tư liệu, nghiên cứu khoa học nhằm tiếp cận nhanh hơn với tri thức nhân loại.
+ Chia sẻ và kết nối cộng đồng: Sử dụng AI để kết nối những người có chung đam mê nghiên cứu, học tập và sáng tạo, từ đó tạo ra môi trường trao đổi và phát triển các ý tưởng đột phá.
+ Chủ động kiểm chứng thông tin và giữ vai trò chủ thể sáng tạo: Không phụ thuộc hoàn toàn vào AI mà cần đánh giá, chọn lọc và phát triển các ý tưởng bằng tư duy độc lập của con người.
Câu 1 (2,0 điểm) - Đoạn văn nghị luận 200 chữ
Chủ đề: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?
1. Mở đoạn
- Dẫn dắt trực tiếp từ gợi dẫn: Sự xuất hiện của các nhà sáng tạo công nghệ như Steve Jobs, Mark Zuckerberg hay Elon Musk đã góp phần thay đổi diện mạo thế giới và trở thành niềm tự hào của nước Mỹ.
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đối với người trẻ Việt Nam, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để chúng ta có thể kiến tạo và nuôi dưỡng những “Steve Jobs Việt Nam” trong kỷ nguyên số.
1. Thân đoạn
- Giải thích khái niệm “Steve Jobs Việt Nam”:
Không chỉ là một cá nhân cụ thể mà là biểu tượng cho những người Việt có tư duy đổi mới sáng tạo, có khả năng tạo ra những sản phẩm, công nghệ mang giá trị lớn cho đất nước và thế giới.
- Đề xuất giải pháp:
+ Thay đổi triết lí giáo dục: Chuyển từ giáo dục thiên về ghi nhớ sang giáo dục phát triển tư duy phản biện, khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề và khuyến khích sự khác biệt.
+ Về phía cộng đồng, quốc gia: Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp thực chất; có sự đồng hành của Nhà nước và các doanh nghiệp trong việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học, hỗ trợ đổi mới sáng tạo và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
+ Về xã hội: Xây dựng văn hóa chấp nhận thất bại, xem thất bại là cơ hội học hỏi và trưởng thành thay vì là lý do để phán xét hay từ bỏ.
+ Về phía bản thân người trẻ: Cần nuôi dưỡng khát vọng lớn, tinh thần bền bỉ, chủ động học tập và làm chủ các công nghệ cốt lõi như AI, dữ liệu lớn, tự động hóa,… để tạo ra giá trị mới cho xã hội.
=> Bài học nhận thức và hành động: Bản thân mỗi người trẻ cần không ngừng tự học, dám bước ra khỏi vùng an toàn và nuôi dưỡng khát vọng cống hiến cho đất nước.
3.Kết đoạn
- Khẳng định lại vấn đề: Những “Steve Jobs Việt Nam” không xuất hiện từ nỗ lực của một cá nhân đơn lẻ mà là kết quả của một môi trường nuôi dưỡng sáng tạo lành mạnh.
- Thông điệp: Khi giáo dục đổi mới, cơ hội được trao và người trẻ dám dấn thân, Việt Nam hoàn toàn có thể xuất hiện những tài năng công nghệ mang tầm vóc toàn cầu.
Câu 2: Nghị luận văn học (4,0 điểm)
Chủ đề: Phân tích bài thơ “Những chiếc lá” của Nguyễn Đình Thi.
A. MỞ BÀI
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Đình Thi: Một nghệ sĩ đa tài (viết văn, làm thơ, soạn nhạc, viết kịch) với phong cách thơ giàu chất suy tư, triết lý, ngôn từ cô đọng và luôn hướng tới những giá trị nhân văn sâu sắc.
- Giới thiệu tác phẩm “Những chiếc lá”: Bài thơ được in trong tuyển tập thơ Nguyễn Đình Thi do NXB Kim Đồng xuất bản. Tác phẩm mượn hình tượng thiên nhiên quen thuộc là những chiếc lá để gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc về ý nghĩa của sự sống và sự cống hiến.
- Định hướng nội dung nghị luận: Bài thơ là hành trình hóa thân và dâng hiến không ngừng của những chiếc lá từ lúc tươi xanh đến khi trở thành ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời, qua đó bộc lộ cái nhìn nhân văn và lạc quan của nhà thơ.
B. THÂN BÀI
1. Khái quát chung về tác phẩm
- “Những chiếc lá” không đơn thuần là bài thơ miêu tả thiên nhiên mà còn là một bài thơ giàu ý nghĩa triết lí. Nhan đề hướng người đọc tới hình tượng chiếc lá - một sự vật nhỏ bé, quen thuộc nhưng chứa đựng cả một vòng đời đầy ý nghĩa.
- Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, giúp tác giả tự do triển khai mạch cảm xúc và suy tưởng. Mạch vận động của bài thơ đi từ hiện thực tàn úa của những chiếc lá mùa đông, ngược về những mùa dâng hiến đẹp nhất trong quá khứ, rồi hướng tới sự hồi sinh trong ngọn lửa và mái ấm gia đình. Bao trùm tác phẩm là cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp của sự dâng hiến thầm lặng cùng niềm tin vào giá trị bền vững của cuộc sống.
2. Phân tích chi tiết
2.1. Hiện thực tàn úa và ký ức về những mùa dâng hiến đẹp đẽ
- Khổ 1: Không gian mùa đông khắc nghiệt và sự tàn tạ của những chiếc lá
+ Ngữ liệu: “Chiều lạnh cóng, vườn cây vắng tanh… lá nâu, đen, rách quăn queo”.
+ Chiều lạnh cóng”, “vườn cây vắng tanh” cùng âm thanh “lao xao” gợi nên không gian cô quạnh, lạnh lẽo.
+ Hình ảnh những chiếc lá “nâu”, “đen”, “rách quăn queo” khắc họa sự tàn úa, kiệt quệ sau một vòng đời dài dâng hiến. Đó cũng là quy luật tự nhiên không thể tránh khỏi của mọi sự sống.
- Khổ 2: Những mùa dâng hiến đẹp đẽ trong quá khứ
+ Từ ngữ : Đâu những ngày xuân… thắp vàng trên đầu bao đôi người yêu.”
+ Điệp ngữ “chúng ta” được lặp lại nhiều lần như một lời tự hào về hành trình sống có ích của những chiếc lá.
+ Hành trình dâng hiến qua những mùa đẹp nhất của đời lá:
Mùa xuân: “xòe biếc đón về ríu rít những đàn chim” mang đến sức sống và niềm vui cho thiên nhiên.
Mùa hè: “um tùm che mát cho người đi đường mồ hôi nhễ nhại” đem đến bóng mát và sự sẻ chia với con người.
Mùa thu: “thắp vàng trên đầu bao đôi người yêu” góp phần làm đẹp cho cuộc sống và nuôi dưỡng cảm xúc con người.
=> Trong suốt vòng đời của mình, những chiếc lá luôn sống vì người khác, luôn hiện diện bằng những đóng góp âm thầm nhưng ý nghĩa.
2.2. Sự va đập của quy luật nghiệt ngã và sự xuất hiện của tình người
- Khổ 3: Sự khắc nghiệt của thời gian và tạo hóa
- Từ ngữ : Đến hôm nay, gió bấc đã rứt chúng ta, ném xuống đất bụi.”
- Các động từ mạnh “rứt”, “ném” diễn tả sự khắc nghiệt của thời gian và quy luật tự nhiên. Những chiếc lá bị tách khỏi cành, tưởng như đã kết thúc hành trình tồn tại của mình.
- Khổ 4: Sự xuất hiện của chú bé - điểm sáng nhân văn của bài thơ
+ Chú bé nhỏ vừa đi tới… chiếc bao tải dần căng phồng.”
+ Giữa cái lạnh giá của mùa đông, hình ảnh chú bé với những động tác “lụi hụi”, “xuýt xoa”, tiếng chổi “loạt xoạt” mang đến hơi ấm của sự sống và lao động. Chi tiết “đợi mẹ đi làm về” gợi lên hoàn cảnh bình dị, có phần khó khăn nhưng đầy tình thương của một gia đình lao động.
+ Hành động gom lá của chú bé không chỉ giúp những chiếc lá có thêm một giá trị mới mà còn thể hiện sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên trong cuộc sống thường ngày.
2.3. Sự hóa thân kỳ diệu - bản trường ca của sự dâng hiến
- Khổ cuối: Đây rồi, dưới mái bếp tranh… những chiếc lá reo phù phù, nhảy nhót.”
- Không gian từ khu vườn “lạnh cóng” chuyển sang mái bếp tranh ấm áp, tạo nên sự vận động từ lạnh sang ấm, từ tàn lụi đến hồi sinh.
- Những chiếc lá khô không mất đi mà hóa thân thành ngọn lửa, thành làn khói bếp “hắc hắc thơm thơm”, góp phần nấu chín nồi cơm và sưởi ấm mái nhà.
- Biện pháp nhân hóa qua các từ ngữ “À, à, vậy chứ, vậy chứ”, “reo”, “nhảy nhót” diễn tả niềm vui sướng của những chiếc lá khi tiếp tục được sống có ích.
- Dù không còn hiện hữu trên cành cây, chúng vẫn tiếp tục cống hiến cho cuộc đời bằng một hình thức khác.
3. Đánh giá về nội dung và nghệ thuật
3.1. Đặc sắc nghệ thuật:
- Thể thơ tự do linh hoạt, phù hợp với dòng cảm xúc và suy tưởng của tác giả.
- Nghệ thuật nhân hóa đặc sắc giúp hình tượng chiếc lá mang tâm hồn và suy nghĩ của con người.
- Ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi; hệ thống hình ảnh đối lập giữa lạnh – ấm, tàn úa – hồi sinh góp phần làm nổi bật tư tưởng tác phẩm.
3.2. Giá trị tư tưởng:
- Qua hình tượng chiếc lá, Nguyễn Đình Thi gửi gắm một triết lí nhân sinh sâu sắc: giá trị của sự sống không nằm ở thời gian tồn tại mà nằm ở khả năng đem lại ý nghĩa cho cuộc đời.
- Từ khi còn xanh tươi đến lúc trở thành lá khô, những chiếc lá chưa bao giờ ngừng cống hiến. Ngay cả khi rời cành, chúng vẫn tiếp tục hóa thân để góp phần sưởi ấm cuộc sống con người.
- Bài thơ thể hiện niềm tin lạc quan vào ý nghĩa của sự dâng hiến và khẳng định rằng những giá trị tốt đẹp sẽ luôn được tiếp nối dưới nhiều hình thức khác nhau.
C. KẾT BÀI
* Khẳng định giá trị tác phẩm: “Những chiếc lá” là một bài thơ giàu ý nghĩa nhân văn và triết lí của Nguyễn Đình Thi.
* Khái quát thông điệp cốt lõi: Bài thơ khẳng định rằng giá trị của một đời sống không nằm ở thời gian tồn tại mà ở những gì ta cống hiến cho cuộc đời. Sự dâng hiến chân chính sẽ không mất đi mà luôn tiếp tục được lan tỏa dưới những hình thức mới.
* Liên hệ bản thân: Tác phẩm khơi dậy trong thế hệ trẻ hôm nay ý thức sống trách nhiệm, biết sẻ chia và cống hiến để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
P/s: Bản quyền thuộc về page Văn chương mạn đàm. Nếu bạn copy, hãy ghi nguồn nhé!!!