Học Văn lớp 6 - lớp 12, quận Sơn Trà

Học Văn lớp 6 - lớp 12, quận Sơn Trà

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Học Văn lớp 6 - lớp 12, quận Sơn Trà, Education, Da Nang.

Giáo viên trường THPT Phan Châu Trinh, chuyên luyện thi tuyển sinh lên lớp 10 và thi vào Đại học, môn Ngữ Văn
Cơ sở 1: 28 Tôn Quang Phiệt, Sơn Trà
Cơ sở 2: 113 Hàm Nghi, Hải Châu
- Tận tâm, trách nhiệm, vững vàng -
Liên hệ: 0905 886 806

28/05/2024

Để bài làm được sâu sắc và sáng tạo thì việc viết phần liên hệ, mở rộng là một yếu tố không thể thiếu. Liên hệ, mở rộng tức là những nội dung nằm bên ngoài vấn đề nghị luận được người viết mở rộng đưa vào bài viết một cách logic, sáng tạo, có tư duy và lập luận tốt. Nếu làm sâu sắc phần này thì có thể giúp bạn ẵm trọn điểm sáng tạo.
🔹️🔹️🔹️

🏵“ĐỒNG CHÍ” - CHÍNH HỮU

🍃Tác giả

🌾 “Chính Hữu đã tạo cho mình một giọng thơ, một phong cách thơ riêng, chất giọng và phong cách đó không thể hoà lẫn vào bất kì một giọng thơ nào khác, kể cả những tác giả quân đội.
(Ngô Vĩnh Bình)

🌾“Cái tài và cái tình trong thơ Chính Hữu khiến những vần thơ đậm màu bộ đội và màu giai cấp vượt qua cả chiến tuyến.”
(Thùy An)

🌾 “Chính Hữu là một nhà thơ tài năng, có cảm hứng sáng tác độc đáo mà sâu sắc, chặt chẽ, cẩn thận trong từng con chữ, từng ý, từng vần. Ông sáng tác hơi ít nhưng lại tinh. Trong thơ ông có tư tưởng triết học mà không phải nhà thơ nào cũng có.”
(Nhà văn Hồ Phương)

🍃Tác phẩm

🌾 Liên hệ với cái lạnh của rừng hoang:

“Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế
Gíó qua rừng, Đèo Khế gió sang.
(Tố Hữu)

🌾Liên hệ tinh thần chiến đấu của người lính:

“Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.”
(Nguyễn Đình Thi)

🌾 Liên hệ với tình đồng chí, đồng đội:

“Ba thằng quặp chặt gió lùa vào đâu?
Nửa đêm sương gội mái đầu
Chòi cao phần phật mấy tàu lá khô.”
(Lê Kim)

🌾 Liên hệ với hoàn cảnh gặp gỡ của những người lính

“Lũ chúng tôi
Bọn người tứ xứ
Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ
Quen nhau từ buổi “một hai”
Súng bắn chưa quen
Quân sự mươi bài”
(“Nhớ” – Hồng Nguyên)

🌾 Khi phân tích câu thơ đặc biệt “Đồng chí!”, có thể liên hệ đến định nghĩa về đồng chí của chính tác giả:

“56 ngày đêm bom gầm, pháo dội
Ta mới hiểu thế nào là đồng đội
Đồng đội ta
Là hớp nước uống chung
Nắm cơm sẻ nửa
Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa
Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết”
(“Giá từng thước đất” – Chính Hữu)

🌾 Khi nói đến thái độ lên đường mạnh mẽ, dứt khoát của người lính gợi ta liên tưởng đến câu thơ:

“Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”
(“Đất nước” - Nguyễn Đình Thi)

🌾 Khi phân tích đến nỗi nhớ của người lính gợi ta liên tưởng đến những câu thơ của Hồng Nguyên:

“Ít nhiều người vợ trẻ
Mòn chân bên cối gạo canh khuya”
(“Nhớ” - Hồng Nguyên)

🌾 Nói về sự hoành hành của những trận sốt rét rừng, chúng ta có thể liên hệ:

“Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

🍁Hay:

“Khuôn mặt đã lên màu tật bệnh
Đâu còn tươi nữa những ngày hoa”
(“Lên cấm sơn” – Thôi Hữu)

🍁Hoặc:

“Nơi thuốc súng trộn vào áo trận
Cơn sốt rừng đi dọc tuổi thanh xuân”
(Nguyễn Đức Mậu)

🌾 Khi nói đến hoàn cảnh chiến đầu khó khăn, thiếu thốn, ta có thể liên hệ:

“Áo vải chân không
Đi lùng giặc đánh”
(“Nhớ” - Hồng Nguyên)

🍁Hay:

“Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”
(“Việt Bắc” - Tố Hữu)

🌾 Nói về những cái rét “chung chăn”, Thâm Tâm cũng đã từng viết trong “Chiều mưa đường số 5”:

“Ôi núi thẳm rừng sâu
Trung đội đã về đâu
Biết chăng chiều mưa mau
Nơi đây chăn giá ngắt
Tấm mối tình Việt Bắc…”

“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo”
(“Lên Tây Bắc” - Tố Hữu)
--------------

🏵 “BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH” - PHẠM TIẾN DUẬT

🍃Tác giả

🌾 “Thơ ông mang hơi thở của cả một thời đại nhưng bằng một khí phách ngang tàng, chất bụi bặm và kiêu bạc của người lính thời chống Mỹ. Thơ ông có sức mạnh của cả một binh đoàn trùng trùng ra trận.”
(Nguyễn Văn Thọ)

🌾 “Sáng tác của Phạm Tiến Duật là “Một góc bảo tàng tươi sống về Trường Sơn thời chống Mỹ.”
(Đỗ Trung Lai)

🌾 “Tôi gắn bó máu thịt với Trường Sơn và có thể nói Trường Sơn đã đẻ ra nhà thơ Phạm Tiến Duật. Trước đây, bây giờ và sau này nếu tôi viết được chút gì neo lại trong lòng bạn đọc chính là nhờ những năm tháng ở Trường Sơn.”
(Phạm Tiến Duật)

🍃Tác phẩm

🌾 “Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Anh với tôi đôi người xa lạ
Từ phương trời chẳng hẹn quen nhau.”
(Chính Hữu)

🌾 “Đoàn giải phóng quân một lần ra đi
Nào có sá chi đâu ngày trở về
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi
Ra đi ra đi thà chết chớ lùi.”
(Phan Huỳnh Điểu)

🌾 “Khi lên xe ta chưa quen nhau
Lúc xuống xe ta đã thành bè bạn.”
(Phạm Tiến Duật)

🌾 “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai.”
(Tố Hữu)

🌾Khi phân tích tinh thần lạc quan, tâm hồn trẻ trung của những người lính, chúng ta có thể liên hệ đến câu thơ:

“Cuộc đời vẫn đẹp sao
Tình yêu vẫn đẹp sao
Dù đạn bom man rợ thét gào
Dù thân thể thiên nhiên mang đầy thương tích.”
(“Cuộc đời vẫn đẹp sao” - Phan Huỳnh Điểu)

🌾 Khi phân tích hình ảnh “Bụi phun tóc trắng như người già”, chúng ta có thể liên hệ đến Những cơn cũng từng đi vào những vần thơ đậm chất hiện thực của nhà thơ Nguyễn Đình Thi:

“Đội quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa”
(“Lá đỏ”)

🍁Hay:

“Ai qua đèo Trường Sơn
Không nếm mùi cát bụi
Cứ mỗi chiếc xe qua
Bụi tung lên từng khối
Mù mịt một góc trời”
("Bụi Trường Sơn" - Lê Đức Thọ)

🌾Phân tích hình ảnh “Võng mắc chông chênh đường xe chạy”, gợi ta liên tưởng đến câu thơ:

“Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Đường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây.”
(“Trường Sơn đông, Trường Sơn tây”)

🌾Khi nói đến tình đồng chí, đồng đội của những người lính lái xe không kính, ta có thể liên hệ đến câu thơ của Phạm Tiến Duật:

“Khi lên xe ta chưa quen nhau
Lúc xuống xe ta đã thành bè bạn”
(“Chúng ta đi đường dài”)

🌾Phân tích hình ảnh bếp Hoàng Cầm, ta liên hệ đến:

“Ơi, miền Nam ơi những đêm chẳng đuốc đèn,
Lửa trong tim rừng rực sáng trên đường,
Đôi quang gánh nặng tình yêu đất nước,
Hơi bếp Hoàng Cầm ta sưởi ấm khắp nơi nơi.”

🌾Nói đến ý chí chiến đấu quyết tâm, dũng cảm của người lính, chúng ta có thể liên hệ đến câu thơ:

“Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp,
Rắn như thép, vững như đồng.
Đội ngũ ta trùng trùng điệp điệp
Cao như núi, dài như sông
Chí ta lớn như biển Đông trước mặt!”
(“Ta đi tới” - Tố Hữu)

🌾Nói đến sự khốc liệt của chiến tranh và tinh thần lạc quan của người lính, ta có thể liên hệ:

“Đường trơn dốc dựng mưa tuôn
Kìa ai vác pháo ngược đường lên cao
Vẫn cười vẫn nói lao xao
Như đàn chim chích bay vào vườn hoa”
(Giang Nam)
-----------------------

🏵 “ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ” - HUY CẬN

🍃Tác giả

🌾 “Huy Cận có năng lực cảm nhận cuộc sống thật đặc biệt, có thể nghe được từ những biểu hiện tinh vi của tạo vật đến những biến đổi lớn lao trong vũ trụ vô cùng vô tận. Đây là nhà thơ có “cái nghiêng tai kì diệu”.
(Xuân Diệu)

🌾 “Bài thơ của tôi là một cuộc chạy đua giữa con người và thiên nhiên, và con người đã chiến thắng. Tôi coi đây là khúc tráng ca, ca ngợi con người lao động với tinh thần làm chủ, với niềm vui.”
(Huy Cận)

🌾 “Con người sống trong xã hội và sống trong vũ trụ… là thành viên của vũ trụ. Đó là hai cực của cuộc sống, hai cực của tư tưởng, hai cực của nhà thơ”.
(Huy Cận)

🌾 “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”. - Hoài Thanh

🌾Xuân Diệu có nhận xét: “Chàng than nỗi tháng ngày vùn vụt, bảo rằng hoa xuân không đậu, đời thoảng mùi ôi, trong khi mình chưa sống hết tuổi xuân, đang độ trẻ măng của đời người! Cái tiếc sớm, cái thương người ấy chẳng qua là sự trá hình của lòng ham đời, là cái tật dĩ nhiên của kẻ yêu sự sống.”

🌾 “Huy Cận đã đi lượm nhặt những chút buồn rơi rớt để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não. Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường, thi nhân lại có thể đúc kết thành bao nhiêu châu ngọc. Ai có ngờ những bước chân đã tan trên đường kia còn lại ghi trong văn thơ những dấu tích hẳn không bao giờ tan được.” (Hoài Thanh – Hoài Chân trong “Thi nhân Việt Nam”, 1942 )

🍃Tác phẩm

🌾 “Đoàn thuyền đánh cá” là một trong những bài thơ thể hiện sự chuyển mình mạnh mẽ trong phong cách thơ của Huy Cận. Trước cảm hứng của cuộc sống mới, nhà thơ đã không thể nào giữ yên lặng mà phải đặt bút. Có thể nói đây là một trong những sáng tác hay nhất của ông.” – Thảo Nguyên

🌾 “Đoàn thuyền đánh cá – Khúc tráng ca về người lao động”.

🌾Đoàn thuyền người dân chài lên đường trong cảnh bình minh đẹp nhất:

“Khi trời trong, gió nhẹ sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.”
(Tế Hanh)

🌾Vẻ đẹp khỏe khoắn của những con thuyền khi ra khơi:

“Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió..”
(Tế Hanh)

🌾Sự trù phú, giàu đẹp của đất nước:

“Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm ngát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa.”
---------------------

🏵 “ÁNH TRĂNG” - NGUYỄN DUY

🍃Tác giả

🌾 “Nguyễn Duy muốn đứng giữa hôm nay và nhìn lại hôm qua từ tâm trạng riêng, tiếng thơ anh như một lời cảnh tỉnh, lời nhắc nhở (…). Không chỉ qua thể thơ, giọng điệu mà chất dân gian của thơ Nguyễn Duy ngấm trong cả cách cảm, lối nghĩ, trong quá trình “dàn dựng” hình tượng thơ. Tất cả cái đó vừa rất dân tộc, rất truyền thống lại khá hiện đại, khá mới.”
(Lê Quang Hưng)

🍃Tác phẩm

🌾Liên hệ với sự thay đổi hoàn cảnh sống tác động đến suy nghĩ của con người:

“Mình về thành thị xa xôi
Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng
Phố đông còn nhớ bản làng
Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng.”
(Tố Hữu)

🌾Liên hệ với sự lãng quên quá khứ của người lính sau thời bình:

“Khéo trách người sao quá vội vàng
Bỏ lại bao kỉ niệm quá khứ
Khéo trách người sao quá phũ phàng
Lãng quên những yêu thương tình tự.”

🌾Liên hệ tình cảm của người lính với vầng trăng:

“Nằm ngửa nhớ trăng
Nằm nghiêng nhớ bến
Nao nao ngồi dậy nhớ lưng đèo”
(“Nhớ” – Phạm Tiến Duật)

🌾Nói đến mối quan hệ của con người với vầng trăng trong tuổi thơ, ta nhớ đến Trần Đăng Khoa:

“Ông trăng tròn sáng tỏ
soi rõ sân nhà em
trăng khuya sáng hơn đèn
ôi, ông trăng sáng tỏ
soi rõ sân nhà em"
(“Trăng sáng sân nhà em” – Trần Đăng Khoa)

🌾Khi phân tích câu thơ “ngửa mặt lên nhìn mặt” để nói về sự đối lập giữa con người với vầng trăng, ta có thể liên hệ đến câu thơ:

“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”
(“Vọng nguyệt” – Hồ Chí Minh)

🌾Khi phân tích sự thay đổi của hoàn cảnh sống, ta có thể liên hệ đến:

“Mình về thành thị xa xôi
Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng?
Phố đông, còn nhớ bản làng
Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?”
(“Việt Bắc” – Tố Hữu)

🌾Chúng ta có thể liên hệ đến vấn đề ăn năn, hối lỗi của con người trong truyện ngắn “Bức tranh” – Nguyễn Minh Châu. Truyện ngắn đã thể hiện cách nhìn nhận về con người: Trong mỗi chúng ta bao giờ cũng có mặt tốt, mặt xấu, ranh giới giữa chúng là rất mong manh, nếu chúng ta không chịu đấu tranh với chính mình, không giật mình nhìn lại chính mình để hoàn thiện bản thân thì dễ dàng sẽ trở thành người xấu
------------------------

🏵 “BẾP LỬA” - BẰNG VIỆT

🍃Tác giả

🌾 “Ở Bằng Việt, cái sôi nổi, rạo rực của tuổi trẻ vừa như được nén lại, đồng thời lại được nêu lên bởi suy nghĩ… Một tâm hồn nhiều suy nghĩ, rung động tinh tế, một chủ nghĩa trữ tình xao động, bồi hồi, khi đậm đà, duyên dáng, khi âm vang, sâu thẳm.”
(Lê Đình Kỵ)

🌾 “Chất thơ hào hoa mà đằm thắm, tinh tế mà hồn nhiên, hào sảng mà trẻ trung, tươi mới mà gợi cảm, ấm áp và trí tuệ” chính là nguồn nhiệt năng tỏa sáng từ “Bếp lửa” đến với những trang thơ ngày nay của Bằng Việt.”
(Trần Quang Qúy)

🍃Tác phẩm

🌾Liên hệ với kỉ niệm tuổi thơ bên bà:

“Tiếng gà trưa
Mang bao nhiêu hạnh phúc
Đêm cháu về nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng.”
(Xuân Quỳnh)

🌾Liên hệ với tình yêu quê hương đất nước:

“Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người..”
(Nguyễn Trung Quân)
----------------------

🏵 “CON CÒ” - CHẾ LAN VIÊN

🍃Tác giả

🌾 “Nói chung thơ Chế Lan Viên trên 50 năm luôn luôn là một giọng thơ gây nhiều sự chú ý của dư luận. Có thể nói: Chế Lan Viên là một nhà thơ không yên ổn, anh không yên ổn trong trăn trở sáng tác của mình và cũng mang đến sự không yên ổn trong tình hình thơ của chúng ta.”
(Tế Hanh)

🌾 “Chế Lan Viên là nhà thơ luôn có sự tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Ông luôn biết kế thừa, phát huy những tinh hoa của nền văn chương và nhân loại để mang lại cho tác phẩm của mình một vẻ đẹp riêng. Ông có sự nhận thức sâu sắc về chức năng của văn chương và sứ mệnh thiêng liêng của người nghệ sĩ đối với cuộc sống”.

🍃Tác phẩm

🌾Vai trò của lời ru và tình mẹ đối với cuộc đời con:

Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ, mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng.”
(Nguyễn Duy)

🌾Con cò có sức sống bất diệt; lời ru sẽ sống mãi với con người, sống mãi với dân tộc Việt nam:

“Nghìn năm trên dải đất này
Cũ sao được cánh cò bay la đà
Cũ sao được sắc mây xa
Cũ sao được khúc dân ca quê mình!”
(Nguyễn Duy)
-----------------------

🏵“SANG THU” - HỮU THỈNH

🍃Tác giả

🌾 “Thơ Hữu Thỉnh nghiêng về những suy tư và dày đặc những câu hỏi. Đó là lí do khiến thơ Hữu Thỉnh mang cái nhìn chiêm nghiệm về cuộc đời. Mặt khác, đã từng trải qua cuộc chiến tranh gian khổ, ác liệt nên thơ Hữu Thỉnh là sự thăng hoa của kinh nghiệm sống, là sự ngân vọng của những kỉ niệm sâu sắc về một thời bom đạn.”
(Hà Thị Anh)

🍃Tác phẩm

🌾 Liên hệ với sự giao mùa:

“Thế là thu đã chớm sang
Trên cành lá biếc trổ vàng bâng khuâng.”
(Sao Mai)

🌾Liên hệ với đặc trưng của mùa thu:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gío thổi mùa thu hương cốm mới.”
(Nguyễn Đình Thi)

🌾Những tín hiệu sang thu trong thơ

Nguyễn Du từng viết trong “Truyện Kiều”:
“Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”

🍁Hay:

“Lá vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ
Phảng phất bên song bóng nhạn thưa”

🌾Bức họa mùa thu trong thơ mới của Bích Khuê:

“Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông”

🌾Khi phân tích hình ảnh gió se, chúng ta có thể liên hệ đến hình ảnh gió se từng xuất hiện trong thơ Nguyễn Khuyến:

“Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”

🌾Làn gió ấy từng khiến Xuân Diệu mấy lần rung động:

“Đã nghe rét mướt luồn trong gió”
“Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy sương mỏng manh”

🌾Liên hệ với sắc thu, sự biến chuyển của thiên nhiên đất trời:

“nắng thu đang trải đầy
đã trăng non múi bưởi
bên cầu con nghé đợi
cả chiều thu sang sông”
(“Chiều sông Thương” – Hữu Thỉnh)

🌾Khi phân tích hình ảnh “Chim bắt đầu vội vã”, chúng ta có thể liên hệ đến hình ảnh cánh chim được miêu tả trong “Tràng giang” của Huy Cận:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”

🌾Khi phân tích hình ảnh đám mây, chúng ta có thể liên hệ đến hình ảnh đám mây trong thơ của Lê Thu An:

“Mây trời một dải trắng pha
Vắt ngang sườn núi chiều thu ngập ngừng”
-----------------------

🏵 “VIẾNG LĂNG BÁC” - VIỄN PHƯƠNG

🍃Tác giả

🌾 “Viễn Phương là một con người rất đa mang, rất nặng lòng với quá khứ, với cách mạng, quá khứ đấu tranh của dân tộc lẫn vào sâu sắc với thơ anh, với hồn anh, với đời anh.”
(Trần Thanh Đạm)

🌾 “Thơ Viễn Phương nền nã, thì thầm, man mác, bâng khuâng, day dứt, không gút mắt, cầu kỳ, kênh kiệu, khoa ngôn. Hình ảnh nào trong đời sống anh cũng tìm thấy chất thơ.”
(Mai Văn Tạo)

🍃Tác phẩm

🌾Niềm tiếc thương vô hạn của dân tộc với vị cha già kính yêu:

“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa.”
(Tố Hữu)

🌾Liên hệ với hình ảnh hàng tre xanh bên lăng Bác:

“Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm.
Thương nhau tre chẳng ở riêng
Lũy thành từ đó mà nên hỡi người.”
(Nguyễn Duy)

🌾Khi phân tích cách xưng hô thân thiết “con - Bác” gợi sự gắn bó như người một nhà, có thể liên hệ đến vần thơ:

“Người là Cha, là Bác, là Anh
Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”
(“Sáng tháng Năm” - Tố Hữu)

🌾Khi phân tích câu thơ “Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam”, chúng ta có thể liên tưởng đến vần thơ của Nguyễn Duy trong bài thơ “Tre Việt Nam”:

“Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên lũy nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu”

🌾Hay trong “Cây tre Việt Nam” - Thép Mới:

“Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!”

🌾Nói về sự gắn bó của Bác với vầng trăng trong câu thơ: “Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền”, ta có thể mở rộng đến hình ảnh trăng trong thơ Bác.

🍁Trăng đã từng đến với Bác giữa chốn ngục tù:

“Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

🍁Trăng đến với Bác giữa cảnh khuya nơi núi rừng Việt Bắc:

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”

🍁Trăng cùng Bác bàn việc quân:

“Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”

🌾Khi phân tích hình ảnh ẩn dụ “trời xanh” trong câu thơ: “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi”, ta có thể liên hệ đến câu thơ:

“Bác ngồi đó, lớn mênh mông
Trời xanh biển rộng ruộng đồng nước non…”
(“Sáng tháng Năm” - Tố Hữu)

🌾Nỗi đau mất Bác trong câu thơ ‘Mà sao nghe nhói ở trong tim” làm ta liên tưởng đến vần thơ:

“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa”
(“Bác ơi” - Tố Hữu)
-----------------

🏵 “MÙA XUÂN NHO NHỎ” - THANH HẢI

🍃Tác giả

🌾 “Thanh Hải chưa phải là một nhà thơ lớn. Nhưng một khi tiếng nói của cách mạng vút lên được thành thơ thì dẫu chưa phải một nhà thơ lớn vẫn rất quý.”
(Hoàng Trung Thông)

🌾 “Nhà thơ Thanh Hải đã gửi lại cho đời “Một mùa xuân nho nhỏ”, “một nốt trầm xao xuyến”, nhưng đó là mùa xuân còn mãi như ngọn lửa nhỏ sẽ mãi nhen lên, đó là một nốt trầm cứ vang ngân không dứt.”
(Lê Khánh Mai)

🍃Tác phẩm

🌾Liên hệ với hình ảnh thiên nhiên đất trời lúc vào thu:

“Mặt trời lên càng tỏ
Bông lúa chín thêm vàng
Sương treo trên đầu cỏ
Sương lại càng long lanh
Bay vút tận trời xanh
Chiền chiện cao tiếng hót.”
(Trần Hữu Thung)

🌾Liên hệ với tinh thần tự nguyện, dâng hiến vì quê hương:

“Nửa mái đầu chớm bạc
Còn gì cho quê hương
Thân xin làm chiếc lá
Thân xin làm hạt sương.”
(Viễn Phương)

🌾Liên hệ hình ảnh bức tranh thiên nhiên mùa xuân:

“Mùa xuân là cả một mùa xanh
Giời ở trên cao, lá ở cành
Lúa ở đồng tôi và lúa ở
Đồng nàng và lúa ở đồng anh”
(“Mùa xuân chín” – Nguyễn Bính)

🌾Khi phân tích hình ảnh bông hoa tím biếc, chúng ta có thể liên hệ đến thi phẩm “Trở về quê nội” của Lê Anh Xuân:

“Con sông nhỏ tuổi thơ ta tắm
Vẫn con đây nước chẳng đôi dòng
Hoa lục bình tím cả bờ sông”

🌾Liên hệ với tiếng chim chiền chiện:

“Con chim chiền chiện
Bay vút, vút cao
Lòng đầy yêu mến
Khúc hát ngọt ngào”
(“Con chim chiền chiện” – Huy Cận)

🌾Liên hệ quan niệm sống đẹp của tác giả Thanh Hải với nhân vật vô danh trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long hay trong lời của bài hát “Tự nguyện” của Trương Quốc Khánh:

“Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng
Nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương
Nếu là mây tôi sẽ là một vầng mây ấm
Là người tôi sẽ chết cho quê hương”

🌾Trong thơ Tố Hữu, ta cũng dễ dàng thấy được quan niệm sống đẹp đẽ này:

“Nếu là con chim, chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không có trả
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”

🌾Liên hệ khát vọng cống hiến thầm lặng của tác giả:

“Từ dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”
(“Dáng đứng Việt Nam” – Lê Anh Xuân)

🌾Liên hệ hình ảnh: “Đất nước như vì sao/ Cứ đi lên phía trước”:

“Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”
(“Đất nước” – Nguyễn Đình Thi)
--------------

🏵 “NÓI VỚI CON” - Y PHƯƠNG

🍃Tác giả

🌾 “Thơ Y Phương như một bức tranh thổ cẩm đan dệt nhiều màu sắc khác nhau, phong phú và đa dạng nhưng trong đó có một màu sắc chủ đạo, âm điệu chính là bản sắc dân tộc rất đậm nét và độc đáo. Nét độc đáo nằm ở cả nội dung và hình thức. Với Y Phương, thơ của dân tộc Tày nói riêng và thơ Việt Nam nói chung có thêm một giọng điệu mới, một phong cách mới.”

🍃Tác phẩm

🌾Bản sắc quê hương đậm đà trong thơ Y Phương:

“Nàng về giã gạo Cao Bằng/ Để anh gánh nước Cao Bằng về ngâm/Nước Cao Bằng ngâm thì trắng gạo.”
(Dân ca)

🌾Liên hệ với câu thơ “Con đường cho những tấm lòng”:

“Gập ghềnh xuống biển lên non/ Con đường tình nghĩa ai còn nhớ chăng?”
(Ca dao)

🌾Những câu thơ viết về tình cảm gia đình, tình phụ tử:

“Dòng nước mắt một đời không luống cạn
Giọt mồ hôi năm tháng chẳng hề vơi
Đó tình cha muôn thuở vốn không lời
Trong lặng lẽ, âm thầm như chiếc lá”

🍁Hay:

"Muốn cho trẻ hiểu biết
Thế là bố sinh ra
Bố bảo cho biết ngoan
Bố dạy cho biết nghĩ"
(“Chuyện cổ tích về loài người” - Xuân Quỳnh)

🍁Hay:

Bình an, hạnh phúc có nào xa
Cũng bởi tình thương tỏa khắp nhà
(“Gia Đình” - Nguyễn Xuân Viện)

🌾Đối với những câu thơ này, các bạn có thể áp dụng linh hoạt ở phần mở bài hoặc phần chuyển đoạn,...

🌾Khi phân tích bốn câu thơ đầu, chúng ta có thể liên hệ đến lời tâm sự của Bill Cosby: “Những người làm cha, làm mẹ không quan tâm tới công lý, cái họ muốn là sự yên bình và hạnh phúc cho con cái của mình”

🌾Khi phân tích câu thơ “Đan lờ cài nan hoa”, ta có thể liên hệ đến tứ thơ của Tố Hữu trong bài “Việt Bắc”:

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

🌾Nếu như người cha trong bài thơ của Y Phương luôn mong mỏi người con mang theo hành trình tốt đẹp của cội nguồn quê hương, cùng những đức tính mà hoàn cảnh đã hun đúc và khắc tạc nên những con người miền núi anh dũng, thì đến bài thơ “Những cánh buồm” của Hoàng Trung Thông, hình ảnh “người cha dắt con đi dưới ánh mai hồng” đã thể hiện niềm tin mãnh liệt ở người cha vào người con trong tương lai. Có cha dìu dắt và chở che, ắt hẳn con sẽ vững bước mà trưởng thành.

26/05/2024

Thi thử tuyển sinh vào 10
Tăng tốc 💕

21/07/2022

Cần tìm thêm đồng đội cho các nhóm lớp sẽ khai giảng vào đầu tháng 8:
🍀Văn lớp 8 và lớp 9 : học tại đường Phạm Huy Thông, Sơn Trà
🍀Văn lớp 10: học gần trường Phan Châu Trinh, Hải Châu
HS liên hệ để xếp lịch học.
ĐT/Zalo: 0905 886 806
Trân trọng !

Photos from Học Văn lớp 6 - lớp 12, quận Sơn Trà's post 11/06/2022

Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ Văn ở các tỉnh thành trên cả nước 🍀

Photos from Học Văn lớp 6 - lớp 12, quận Sơn Trà's post 05/05/2022

Kì thi cuối kì vừa qua hầu như bạn nào cũng vượt điểm so với giữa kì hết. Đa số đạt mục tiêu mà cô yêu cầu. Cô vui lắm nè 🥰
Cùng chinh phục cuộc thi tuyển sinh đang rất gần kề nhe mấy đứa 😘

21/09/2021

Một cái lịch nhỏ xinh để HS nhớ vào học đúng giờ 🌿🌼

Photos from Học Văn lớp 6 - lớp 12, quận Sơn Trà's post 01/09/2021

Học văn 9 hiệu quả bằng inphografic🌿
Nguồn: ST

28/08/2021

NHỮNG NHẬN ĐỊNH LÍ LUẬN VĂN HỌC HAY DÙNG LÀM MỞ BÀI.
-----------
1. “ Nhạc là cỗ xe chở hồn thi phẩm”
2. “Đối với tôi văn chương không phải là cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên ; trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối, tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn”. (Thạch Lam)
3. “Một nhà nghệ sĩ chân chính phải là nhà nhân đạo trong cốt tủy”. (Sê khốp)
4.“Nhà văn phải là người thư kí trung thành của thời đại”. (Banlzac)
5. “Văn học, đó là tư tưởng đi tìm cái đẹp trong ánh sáng”. (CharlesDuBos)
6.“Nhà văn phải biết khơi lên ở con người niềm trắc ẩn, ý thức phản kháng cái ác; cái khát vọng khôi phục và bảo vệ những cái tốt đẹp”. (Ai ma tôp)
7.“Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lý.” (M.Gorki)
8.“Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than. (Nam Cao)
9.“Văn chương có loại đáng thờ và loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương, loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người .(Nguyễn Văn Siêu)
10.“Thơ ca làm cho tất cả những gì tốt đẹp nhất trên đời trở thành bất tử.” (Shelly)
11. “Niềm vui của nhà thơ chân chính là niềm vui của người mở đường vào cái đẹp, của người biết đi tới tương lai.” (Pautôpxki)
12.“Nhà thơ, ngay cả các nhà thơ vĩ đại nhất cũng phải đồng thời là những nhà tư tưởng.” (Biêlinxki)
13. “Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp.” (Sóng Hồng)
14.“Thơ sinh ra từ tình yêu và lòng căm thù, từ nụ cười trong sáng hay những giọt nước mắt cay đắng.” (Raxun Gamzatôp)
15.“Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm”. (Voltaire)
16.“Thơ là viên kim cương lấp lánh dưới ánh mặt trời.” (Sóng Hồng)
17. “Thơ ca là niềm vui cao cả nhất mà loài người đã tạo ra cho mình”. (C.Mac)
18.“Thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”. (Biêlinxki)
19.“Thơ là cái nhụy của cuộc sống, nên nhà thơ phải đi hút cho được cái nhụy ấy và phấn đấu làm sao cho cuộc đời của mình cũng có nhụy”. (Phạm Văn Đồng)
20. “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và khám phá về nội dung”. (Lêonit Lêonop)
21. “Văn học làm cho con người thêm phong phú, tạo khả năng cho con người lớn lên, hiểu được con người nhiều hơn.” (M.L.Kalinine)
22. “Thơ chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy.” (Tố Hữu)
23. “Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu. Tình yêu con người, ước mơ cháy bỏng vì một xã hội công bằng, bình đẳng bái ái luôn luôn thôi thúc các nhà văn sống và viết, vắt cạn kiệt những dòng suy nghĩ, hiến dâng bầu máu nóng của mình cho nhân loại.” (Leptonxtoi)
24.“Thiên chức của nhà văn cũng như những chức vụ cao quý khác là phải nâng đỡ những cái tốt để trong đời có nhiều công bằng, thương yêu hơn.” (Thạch Lam)
25.”Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn.” (Nam Cao)
26.”Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bât lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện.” (Nam Cao)
28.“Thi sĩ là một con chim sơn ca ngồi trong bóng tối hát lên những tiếng êm dịu để làm vui cho sự cô độc của chính mình.” (B. Shelly)
29. “Giống như ngọn lửa thần bốc lên từ trong cành khô, tài năng bắt nguồn từ những tình cảm mạnh mẽ nhất của con người.” (Raxun Gazatôp)
30.“Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do chính cuộc sống viết ra.” (Andecxen)
31. “Vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết vàng mà đời rơi vãi. Hãy nhặt lấy chữ của đời mà góp nên trang.” (Chế Lan Viên)
32. “Hãy đập vào tim anh – Thiên tài là nơi đó.” (A.De Muytxe)
33.“Từ bao giờ cho đến bây giờ, từ Homero đến kinh thi, đến ca dao Việt Nam thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó đã ra đời giữa những vui buồn của loài người cho đến ngày tận thế.” (Hoài Thanh)
34. “Thơ là thơ, đồng thời là hoạ, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng.” (Sóng Hồng)
35. “Thi sĩ không phải là Người, nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ…” (Chế Lan Viên)
----------

28/08/2021

[Văn 11]
CHUYÊN ĐỀ: NHÓM TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ THƠ MỚI 1930 - 1945.
----------
I. Đôi nét về tổ chức, chủ trương và hoạt động của TLVĐ
1. Tổ chức của TLVĐ
- TLVĐ là một tổ chức văn chương hiện đại được thành lập một cách tự nguyện từ sáng kiến của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tập hợp một số văn nghệ sĩ bao gồm : Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ, Xuân Diệu, Tú Mỡ.
- Các nhà văn là thành viên của TLVĐ là đại diện cho một tầng lớp mới xuất hiện trong xã hội Việt Nam : những người trung lưu hành nghề tự do trong môi trường đô thị hiện đại, những văn nghệ sĩ, trí thức tự do. Họ mang một số đặc điểm chung
+ Về nguồn gốc học vấn và văn hóa : thuộc thế hệ được tiếp thu một cách đầy đủ văn hóa và học vấn phương Tây thông qua nhà trường Pháp Việt nhưng những mối dây liên hệ với văn hóa truyền thống (đặc biệt thông qua văn hóa gia đình) vẫn chưa bị cắt đứt. Đây là cơ sở để họ tiến hành một bước tổng hợp những giá trị văn hóa Đông Tây, truyền thống và hiện đại.
+ Thấm nhuần chủ nghĩa cá nhân hiện đại, mang một số yếu tố tích cực : tinh thần tự lập, tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, hướng về tầng lớp bình dân, chán ghét danh lợi và đời sống trưởng giả
2. Chủ trương của TLVĐ về văn học nghệ thuật :
- Về văn loại : chú trọng sáng tác hơn dịch thuật, đặc biệt là các sáng tác văn nghệ (tiểu thuyết, thơ). Tên TLVĐ thể hiện quyết tâm “đoạn tuyệt” với văn học dịch và những tác phẩm phóng tác từ văn học nước ngoài của giai đoạn trước.
- Về nội dung : 1. Chủ trương dùng văn chương chống lại Khổng giáo, chống luân lý truyền thống đẳng cấp tôn ti. 2. Hướng về đời sống của người bình dân, đại chúng hóa văn chương. 3. Lấy chủ nghĩa cá nhân làm nòng cốt tư tưởng cho sáng tác văn chương, dùng văn chương bảo vệ tự do cá nhân. 4. Dùng văn chương hướng thanh niên đến tinh thần lạc quan, chống lại không khí bi thảm của văn chương trong những giai đoạn trước (điển hình là tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách). 5. Diễn tả những vẻ đẹp của đất nước, “những vẻ đẹp thuần túy An Nam” để chống lại khuynh hướng cóp nhặt, lai căng từ văn học nước ngoài. “Ca tụng những nết hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả.”
- Về hình thức : chủ trương một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít dùng chữ nho, có tính cách An Nam.
3. Chủ trương về xã hội :
- Đả phá Nho giáo và luân lý truyền thống, những hủ tục của dân quê sau lũy tre làng, đả phá tinh thần bi lụy.
- Chuyển sang những mục tiêu chính trị : phê phán vua quan phong kiến, tẩy chay chế độ phong kiến bù nhìn, tố cáo bất công xã hội, đòi tự do dân chủ
- Hình thành đạo đức của con người mới (Mười điều tâm niệm – Hoàng Đạo) : theo mới, tin tưởng ở sự tiến bộ, sống có lý tưởng hành động, có tinh thần xã hội, chống thói vị kỷ, rèn luyện tinh thần và thể chất, óc tổ chức, khinh bỉ danh lợi, xây dựng sự nghiệp tương lai.
4. Cơ quan ngôn luận của TLVĐ :
- Báo Phong hóa (1932-1936) báo tin tức, châm biếm; Báo Ngày nay : từ 1936 về trước thuộc loại báo thời sự tin tức, đăng nhiều phóng sự điều tra, từ 1936 trở về sau thuộc dạng báo văn chương, cơ quan ngôn luận chính của TLVĐ.
- NXB Đời nay

5. Hoạt động của TLVĐ
- Sáng tác văn học, hoạt động báo chí, xuất bản
- Trao giải thưởng văn chương : Năm 1937 trao cho Vi Huyền Đắc (vở kịch Kim tiền) và Nguyên Hồng (tiểu thuyết Bỉ vỏ), năm 1938 trao cho Nguyễn Bính và năm 1940 trao cho Anh Thơ, Tế Hanh.
- Hoạt động xã hội, tổ chức Hội ánh sáng tập hợp nhiều trí thức, văn nghệ sĩ đương thời tham gia cbải cách đời sống cho người nghèo.
II. Các giai đoạn sáng tác của TLVĐ :
- Thời kỳ thứ nhất (1932-1934) : tiểu thuyết mang màu sắc lãng mạn về đề tài tình yêu như Hồn bướm mơ tiên (Khái Hưng - 1933), Gánh hàng hoa (Minh – Liên – Văn - Nhất Linh - Khái Hưng - 1934); Tiểu thuyết tâm lý và tiểu thuyết luận đề về xung đột phong tục, đạo đức trong đại gia đình phong kiến, đề cao quyền tự do và hạnh phúc cá nhân : Nửa chừng xuân (Mai – Lộc - Khái Hưng - 1933), Đoạn tuyệt (Nhất Linh - 1934), Đời mưa gió (Tuyết – Chương - Nhất Linh – Khái Hưng – 1935)
- Thời kỳ thứ hai (1935-1939) : Tiểu thuyết phong tục và tiểu thuyết tâm lý, luận đề phê phán lễ giáo và đại gia đình phong kiến : Lạnh lùng (Nhung – Nghĩa - Nhất Linh - 1936), Thoát ly (Khái Hưng - 1937), Thừa tự (Khái Hưng - 1938); Một số tác phẩm đi sâu vào đời sống của những tầng lớp bình dân : Gió đầu mùa (Thạch Lam - 1937), Con trâu (Trần Tiêu - 1939); Các tiểu thuyết luận đề thể hiện khát vọng cải tạo hiện thực và những băn khoăn về giá trị sống của tầng lớp trí thức tiểu tư sản : Những ngày vui (Nhất Linh - 1936), Con đường sáng (Hoàng Đạo 1938-1939), Gia đình (Khái Hưng - 1936); Những tiểu thuyết với hình ảnh người chinh phu ở vị trí nhân vật trung tâm thể hiện khát vọng “lên đường”, “hành động” của một thế hệ thanh niên : Thế rồi một buổi chiều (Nhất Linh - 1936), Tiêu Sơn tráng sĩ (Khái Hưng - 1935), Đôi bạn (Nhất Linh - 1938).
- Thời kỳ thứ ba (cuối 1939 đến 1942): Đây là giai đoạn chín muồi với những tìm tòi nghệ thuật xuất sắc của TLVĐ thể hiện những bế tắc và cuộc đấu tranh nội tâm tìm lẽ sống của tầng lớp thanh niên, trí thức trước cách mạng : Bướm trắng (Nhất Linh - 1939), Thanh Đức (Khái Hưng - 1943), Đẹp (Khái Hưng - 1939), Sợi tóc (Nhất Linh – 1940)
III. Tự lực văn đoàn trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc
1. TLVĐ đánh dấu bước trưởng thành của văn học hiện đại Việt Nam , là sự hoàn tất trong bước chuyển từ mô hình văn học truyền thống sang mô hình văn học hiện đại
- Tình hình văn học trước TLVĐ
+ Trước TLVĐ đã có một số tổ chức văn học, văn hóa tập hợp quanh những tờ báo (Đông Dương tạp chí, Nam phong tạp chí, Phụ nữ tân văn...) nhưng có thể nói, chưa một nhóm nào đủ tư cách đại diện cho sức sống của văn học hiện đại như TLVĐ : tổ chức ổn định, tiêu chí rõ ràng, sức sống và ảnh hưởng xã hội mạnh mẽ, cách hình dung về xã hội và văn học hiện đại và tiến bộ.
+ Những tổ chức văn học trước TLVĐ đặt vấn đề xây dựng nền quốc văn nhưng chưa thực sự tạo nên được một khối lượng sáng tác có giá trị, đủ sức đại diện cho văn học hiện đại.
+ Trước TLVĐ, hoạt động văn học chủ yếu là dịch thuật, phỏng tác, quan trọng hơn cả, chưa hình thành được một quan niệm nghệ thuật hiện đại ổn định
- Vai trò của TLVĐ
+ Quan niệm văn học cảu TLVĐ hoàn toàn khác trước (hệ thống thể loại và phương thức định danh thể loại đến TLVĐ mới thực sự định hình, đến TLVĐ văn học mới thực sự tách khỏi học thuật, khảo cứu)
+ Một nền văn học chỉ thực sự định hình khi nó có thể chứng minh sức sống của mình bằng những sản phẩm đích thực có giá trị, chiếm lĩnh được người đọc chứ không phải chỉ dừng ở những tuyên bố lý thuyết (nghĩa là một mô hình văn học phải được hiện thực hóa). Đến TLVĐ, văn học hiện đại mới thực sự đạt đến một chuẩn mực phát triển mới cả về chất lượng và số lượng đủ sức thay thế văn học truyền thống và dịch thuật.
+ Đóng góp cụ thể của TLVĐ bao gồm : 1. Đại bộ phận thành viên của TLVĐ đều là các nhà văn xuôi, họ đã có những đóng góp lớn trong việc hiện đại hóa tự sự nghệ thuật, đưa sự phát triển của truyện ngắn và tiểu thuyết lên một tầm cao mới. 2. Một số thành viên của TLVĐ cũng là những trụ cột của phong trào Thơ mới, đồng thời, tổ chức văn học này cũng nhiệt tình ủng hộ Thơ mới. 3. TLVĐ đã có công lao trong việc phát hiện ra một số tài năng của văn học Việt Nam hiện đại : Anh Thơ, Huy Cận, Tế Hanh, Nguyễn Bính, Nguyên Hồng, Đoàn Phú Tứ.
2. Vấn đề con người cá nhân trong văn chương TLVĐ :
- Nhân vật trung tâm trong các sáng tác của TLVĐ là con người cá nhân hiện đại và trục nội dung tư tưởng chủ đạo trong sáng tác của các tác giả này là xoay quanh các vấn đề liên quan đến sự tồn tại của con người cá nhân hiện đại, thực chất là vấn đề quyền con người : khẳng định quyền được tồn tại là một cá thể độc lập, mang tính tự trị, tự quyết định số phận của mình. Vấn đề mâu thuẫn giữa con người cá nhân và đại gia đình phong kiến cần được nhìn nhận như là sự mâu thuẫn giữa một bên là những con người cá nhân đang tự khẳng định với những thiết chế xã hội quá chật hẹp và lỗi thời.
- TLVĐ đẩy sâu tiếp những khám phá về thế giới tâm lý bên trong mỗi con người : những xúc cảm không lời, mơ hồ, cái vô thức, một thế giới tâm lý, dòng tâm lý đang vận động biến chuyển.
- Văn chương TLVĐ cũng phản ánh cả những xúc cảm có tính cộng đồng của con người cá nhân : sự bất bình trước thực tại, cảm thương cuộc đời những người nghèo, những kẻ tủi nhục, mơ hồ tinh thần yêu nước, khát vọng “lên đường”, tự giải phóng, khát vọng hành động, cải tạo thế giới. Những xúc cảm này được miêu tả như là kết quả của những trải nghiệm cá nhân.
- Trong sáng tác của TLVĐ có cả những băn khoăn, bất lực của con người cá nhân trước cuộc đời của chính mình, cuộc truy tìm ý nghĩa của hạnh phúc và niềm tin của con người cá nhân (đặc biệt trong những tiểu thuyết TLVĐ giai đoạn sau)
- Tất cả những điều trên làm nên sự khác biệt giữa TLVĐ và Tố Tâm cũng như với các nhà văn theo khuynh hướng hiện thực.
3. TLVĐ bước tổng hợp những giá trị Đông Tây, truyền thống và hiện đại.
- Điều này được thể hiện trên cả hai cấp độ : hình thức nghệ thuật và nội dung tư tưởng.
- Về hình thức nghệ thuật : trong sáng tác của các nhà văn là thành viên của TLVĐ, có thể nhận thấy dấu vết ảnh hưởng của một số môtíp cốt truyện (chủ yếu là cốt truyện tâm lý của giai đoạn đầu của văn chương lãng mạn phương Tây) và kỹ thuật tự sự (chủ yếu là kỹ thuật phân tích tâm lý vi phân của Dostoievski, M. Proust...) của phương Tây nhưng đồng thời trong đó, vẫn có cả hình dáng của tự sự truyền thống (những môtíp báo mộng, những kiểu nhân vật phụ, lối tả thiên nhiên phong cảnh....) của văn học truyền thống phương Đông.
- Về nội dung : Một mặt sáng tác của TLVĐ hướng đến việc ngợi ca những giá trị văn hóa hiện đại (tự do cá nhân) nhưng một mặt, nhiều giá trị truyền thống vẫn được bảo tồn (sự đức hạnh của người phụ nữ, thái độ chán ghét danh lợi và đời sống trưởng giả...). Điều này được thể hiện đặc biệt đậm nét ở những nhà văn như Thạch Lam, Khái Hưng, những người vốn ôn hòa trong thái độ chính trị và nghệ thuật, thậm chí, có thể nói, có một vị trí khá cô lập trong TLVĐ (Thạch Lam)
4. TLVĐ là tổ chức văn học có đóng góp lớn trong việc hiện đại hóa ngôn ngữ văn học bằng tiếng Việt.
- Thành công lớn nhất của TLVĐ về phương diện ngôn ngữ nghệ thuật là đã tạo nên được một bước nhảy vọt về ngôn ngữ, đoạn tuyệt được với những ảnh hưởng của từ Hán Việt và câu văn biền ngẫu truyền thống, hình thành nên một thứ ngôn ngữ trong sáng, giàu sức biểu cảm và in đậm tính dân tộc.



Phong trào Thơ mới 1932 - 1945

I. Khái quát về lịch sử và diễn tiến của phong trào thơ mới :
1. Những tiền đề của thơ mới trong lịch sử văn học dân tộc
- Trong quá khứ, dấu hiệu của một cuộc cách mạng thơ ca đi ra ngoài khuôn khổ của thơ ca Trung đại bằng chữ Hán. Những dấu hiệu đổi mới được thể hiện trên cả hai bình diện : nội dung và hình thức.
- Về nội dung, trong suốt hành trình thơ ca Trung đại, ở những nhà thơ xuất sắc (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến...) hay những hiện tượng thơ ca khác thường (Hồ Xuân Hương) bắt đầu xuất hiện những khuynh hướng đi ra ngoài văn chương đạo lý và duy lý của Nho giáo : biểu đạt những tình cảm, tâm sự chân thật (một thứ “khát vọng được thành thật”), những nỗi đau và những khát vọng chân chính của con người (đặc biệt là khát vọng hưởng lạc, tận hưởng cuộc sống trần thế - điều đậm đặc trong văn chương về nội dung nhân đạo chủ nghĩa từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX)
- Gắn liền không thể tách rời với nội dung tâm trạng, hình thức thơ cũng đã có những vận động tương ứng : thơ thất ngôn xen lục ngôn của Nguyễn Trải, sử dụng ngôn ngữ dân tộc (thơ Nôm), những lối nói ẩn dụ, tượng trưng, đa nghĩa trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương .... và đặc biệt là sự ra đời của các thể thơ thuần túy dân tộc.
- Tuy vậy, do sự duy trì bền vững của thể chế tuyển chọn quan lại bằng thi cử và đặc biệt, do sự bảo thủ của cơ chế xã hội, văn hóa, do sự thống trị dai dẳng của Nho giáo và mỹ học Nho giáo nên một cuộc cách mạng trong thi ca chưa thực sự diễn ra.
2. Những dấu hiệu báo trước Thơ mới trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX
- ở những đại diện xuất sắc của Thơ cũ (Tản Đà) khi sáng tác thơ ca đã bắt đầu có những đổi mới cả về thể loại, ngôn ngữ lẫn về nội dung cảm xúc.
- Một số dịch giả bắt đầu dùng thơ tự do để dịch thơ phương Tây (Nguyễn Văn Vĩnh dịch thơ ngụ ngôn La Fontaine)
- Một số trí thức (Phạm Quỳnh, Phan Khôi) lên án thơ ca truyền thống vì quá nghiêm ngặt về niêm luật mà giết chết sự tự nhiên của cảm xúc.
3. Cuộc tranh luận Thơ mới – Thơ cũ :
- Năm 1932, ngày 10/3/1932, Phan Khôi đăng bài thơ Tình già trên Phụ nữ tân văn, bài thơ mới đầu tiên, tiên phong cho một cuộc cách mạng. Bài thơ đã gây nên một cơn bão trong dư luận .
- Tiếng nói kêu gọi đổi mới của Phan Khôi được sự hưởng ứng rất mạnh mẽ của thanh niên trí thức đương thời : 1. Phụ nữ tân văn tiếp theo Tình già còn đăng thơ mới của Nguyễn Thị Manh Manh (Nguyễn Thị Kiêm) và Hồ Văn Hảo. 2. ở ngoài Bắc, báo Phong hóa mới được lập cũng hưởng ứng Thơ mới bằng cách công kích các đại diện của Thơ cũ mà điển hình là Tản Đà. Số Tết năm 1933, Phong hóa đăng một loạt sáng tác của các cây bút trẻ (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Nhất Linh, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông).3. Tiếp theo Phong hóa, nhiều báo, nhà xuất bản khắp trong Nam ngoài Bắc đều đua nhau đăng thơ mới. 4. Cùng với hoạt động sáng tác và xuất bản là các cuộc diễn thuyết của những người ủng hộ thơ mới (Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị Kiêm tranh luận với Nguyễn Văn Hanh, Vũ Đình Liên, Trương Tửu). Đáng lưu ý là hai bức thư gửi lên Khê Thượng của LTL. 5. Đến năm 1936, có thể nói thơ mới toàn thắng.
- Đối lập với những người ủng hộ Thơ mới, cũng có những tiếng nói ủng hộ Thơ cũ (Nguyễn Văn Hanh, Thái PHỉ, Huỳnh Thúc Kháng và đặc biệt là Tản Đà) tuy nhiên, điều quan trọng là chỉ trong vài năm, trong khi thơ mới kịp xuất hiện một thế hệ tác giả tài năng (Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp) thì ngay cả những đại diện xuất sắc nhất của thơ cũ (Tản Đà) cũng bị rơi vào khủng hoảng sáng tạo.
4. Đôi nét lịch sử và một số khuynh hướng sáng tạo thơ mới
- Có thể tạm chia Thơ mới thành hai thời kỳ trước và sau năm 1939. Thời kỳ thứ nhất bao gồm các tác giả tiền phong của thơ mới : Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên, Thái Can... và các tác giả xuất hiện sau năm 1935 như Xuân Diệu, Huy Cận, Thanh Tịnh, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Nguyễn Bính, Anh Thơ.... Có thể chia thời kỳ này thành hai giai đoạn 1930 – 1935 và 1936 – 1939. Thời kỳ thứ hai là giai đoạn thơ mới đi vào những tìm tòi hình thức hoặc đi sâu vào khuynh hướng triết luận, bắt đầu biểu hiện những bế tắc, thậm chí một số tác giả, tác phẩm bộc lộ khuynh hướng sa đọa. Đại diện của thời kỳ này là Vũ Hoàng Chương (Thơ say, Mây), Hàn Mặc Tử (Thượng thanh khí), Chế Lan Viên (Vàng sao), Huy Cận (Kinh cầu tự, Vũ trụ ca), nhóm Xuân Thu nhã tập, nhóm Dạ đài.
- Một trong những đặc điểm nổi bật thể hiện trong sự nghiệp sáng tác của các tác giả thuộc phong trào Thơ mới là tính không thuần nhất. Mỗi tác giả Thơ mới thường chịu nhiều nguồn ảnh hưởng khác nhau và thường có sự thay đổi trong phương pháp sáng tác. Xuân Diệu giai đoạn đầu tiên là một tác giả mang màu sắc lãng mạn chủ nghĩa khá rõ nét nhưng trong nhiều tác phẩm xuất sắc (điển hình là Nguyệt cầm) bắt đầu biểu hiện những yếu tố của chủ nghĩa tượng trưng. Một trường hợp khác, Hàn Mặc Tử, với những tập thơ đầu tiên Gái quê (1936) mang một vẻ đẹp mộc mạc, bình dân, gần gũi với thơ ca dân gian nhưng đến những tập thơ như Đau thương, Thơ điên lại mang màu sắc siêu thực (ám ảnh, mê sảng, những hình ảnh tượng trưng, kinh dị) hoặc chịu ảnh hưởng tôn giáo (Xuân như ý). Chính vì những lý do trên nên việc phân chia các khuynh hướng thơ ca trong phong trào Thơ mới là hết sức khó khăn. Có tác giả (Hoài Thanh) phân chia theo nguồn ảnh hưởng : dòng chịu ảnh hưởng Pháp (Thế Lữ, Huy Thông, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên...), dòng chịu ảnh hưởng của thơ Đường (Thái Can, Thâm Tâm, Quách Tấn...) và dòng thuần túy Việt Nam (Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương...) có tác giả phân chia theo phương thức sáng tác (lãng mạn, tượng trưng, siêu thực...)... Nhìn chung, do tính chất không thuần nhất nói trên nên việc tuyệt đối hóa bất kỳ một phương thức phân chia nào cũng đều bất cập.
- Nói như Hoài Thanh, từ 1932 đến 1942 đã có “Một thời đại trong thi ca” với một cuộc bùng nổ của những phong cách “rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên.... và thiết tha, rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu”
II. Một số đặc điểm chung của Thơ mới.
Trên bình diện khái quát, thơ mới là :
- Một cuộc cách mạng về hình thức nghệ thuật, giải phóng thơ ca khỏi những ràng buộc nghiêm ngặt đã trở thành lỗi thời của thơ ca trung đại
- Cuộc cách mạng hình thức đó có nguồn gốc từ cuộc cách mạng tư tưởng, gắn liền với quá trình giải phóng cái tôi cá nhân khỏi những ràng buộc của con người phận vị, “con người chức năng trong xã hội luân thường” (Trần Đình Hượu). Nói như Hoài Thanh, Thơ mới là sản phẩm của “khát vọng thành thật”, nó đặt cái tôi cá nhân và tính chủ quan vào trung tâm của thơ ca, nó cho phép biểu đạt mọi cung bậc của cảm xúc và suy tưởng của cá nhân.
- Thơ mới là “một bước tổng hợp mới những giá trị văn hóa Đông Tây, truyền thống và hiện đại” (Phan Cự Đệ) Bước tổng hợp đó diễn ra trên tất cả các cấp độ : ngôn ngữ, thi liệu, thể loại, tư duy sáng tạo.....
Cụ thể, cuộc cách mạng Thơ mới được biểu hiện ở một số phương diện như sau :
1. Thơ mới nhìn từ góc độ hình thức nghệ thuật.
Như đã trình bày ở trên, Thơ mới là một cuộc tổng hợp những truyền thống thơ ca phương Đông và phương Tây, truyền thống và hiện đại. Cuộc tổng hợp đó trước hết thể hiện trên bình diện hình thức nghệ thuật.
1.1. Về thể loại, dù những xung đột giữa Thơ mới và Thơ cũ trước hết diễn ra trên bình diện thể loại nhưng có thể nói Thơ mới là một bước kế thừa những thể loại đã ổn định của Thơ ca Việt Nam thời Trung đại.
- So với thơ ca truyền thống, Thơ mới nhìn chung tự do hơn, số câu trong một bài thơ thường không hạn định, chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây, một bài thơ mới thường được chia thành khổ, số lượng khổ thơ thường không giới hạn.
- Mặc dù hướng đến sự tự do hình thức nhưng thơ phá thể và thơ tự do không phải là những hình thức phổ biến của thơ mới. Thơ mới thường hướng đến sự ổn định về số âm tiết trong câu thơ, có thể từ 2 đến trên 10 âm tiết nhưng phổ biến là thơ 5, 7 và 8 chữ. Nhìn từ góc độ thể loại, Thơ mới không chống thơ Đường luật mà chỉ chống lại đối ngẫu trong thơ Đường luật. Thơ 5 và 7 chữ của Thơ mới là sự kế thừa câu thơ Đường luật, thơ song thất lục bát bị giải thể, hát nói trở thành thơ 8 chữ và thơ lục bát được duy trì, có những nhà thơ gần như chuyên sáng tác thơ lục bát (Nguyễn Bính).
- Các hình thức hiệp vần của Thơ mới khá phong phú, mang dấu vết của những lối gieo vần của thơ truyền thống : 1. lối vần chéo là lối 4 câu 2 vần ( Em ngồi trong song cửa / Anh đứng dựa tường hoa / Nhìn nhau và lệ ứa / Một ngày một cách xa ) 2. Vần liền với từng cặp đắp đổi bằng trắc thực chất là lối vần liền trong vè, nói lối, hát nói (Ve kêu ve ve / Suốt cả mùa hè / Kỳ gió bấc thổi / Nguồn cơn bối rối ? Một miếng chẳng còn / Ruồi bọ một con ; Cùng em chốc nữa / Sáng quá khách ơi / Yến tiệc trên trời / Em cô độc quá / Cùng em gối lả / Khách ngả đầu say ). 3. Lối vần ôm thường chỉ là lối vần liền Việt Nam pha với vần cách của thơ Trung Quốc ( Em không nghe mùa thu / Dưới trăng mờ thổn thức / Em không nghe rạo rực / Hình ảnh kẻ chinh phu / Trong lòng người cô phụ )
- Một nguyên tắc được ổn định trong thơ mới la luật điều hoán âm thanh của câu văn câu thơ Nôm (Nếu một câu thơ được chia thành ba hay bốn đoạn thì những chữ cuối mỗi đoạn phải có sự thay đổi bằng trắc – luật đổi thanh, theo Hoài Thanh) ( Hát một mùa hoa lá thuở măng tơ / Đốt muôn nến sánh mặt trời chói lọi / Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối / Còn hơn buồn le lói cả trăm năm )
1.2. Một hiện tượng hình thức đáng lưu ý của Thơ mới, đó là cái mà Hoài Thanh gọi là “sự xâm nhập của văn xuôi vào địa hạt của thơ”. Hiện tượng này được thể hiện trên mấy bình diện sau :
- Sự xuất hiện dày đặc của các dạng hư từ, đại từ trong câu thơ ( Li khách! Li khách ! Con đường nhỏ / Chí nhớn chưa về bàn tay không / Thì nói trở lại / Ba năm mẹ già cũng đừng trông)
- Sự xuất hiện câu thơ vắt dòng, làm thay đổi hẳn bản chất quan hệ giữa các câu thơ trong một khổ thơ (điều khác với phép đối của thơ Đường luật) (Ai đem phân chất một mùi hương/ Hay bản cầm ca ! tôi chỉ thương / Chỉ lặng chuồi theo dòng cảm xúc / Như thuyền ngư phủ lạc trong sương)
- Sự xuất hiện của những dạng câu có tính suy luận, cầu khiến, .... (Đưa người ta không đưa qua sông / Sao có tiếng sóng ở trong lòng / Bóng chiều không thắm không vàng vọt / Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong; Hỡi năm tháng vội đi làm quá khứ ! / Trở về đây ! và đem trở về đây / Rượu nơi mắt với khi nhìn ướm thử / Gấm trong lòng và khi đứng chờ ngây)
- Có thể nói đây là sự vận động của ngôn ngữ thơ trở về gần với ngôn ngữ của đời sống, là sự thể hiện của “khát vọng thành thật” diễn tả mọi cung bậc của cảm xúc, suy nghĩ diễn ra trong tâm hồn chủ thể trữ tình, đối lập lại với sự cô đọng, hàm xúc, duy lý của thơ ca cổ điển.
2. Thơ mới một phương thức cảm thụ thế giới mới :
Thơ mới biểu hiện một cuộc cách mạng của tư duy thơ : đặt cái tôi cá nhân ở trung tâm cảm thụ thế giới. Trong Thơ mới, có một sự giao hòa giữa thế giới nội cảm (cảm xúc, cảm giác, tâm trạng) của chủ thể trữ tình với thế giới ngoại cảnh, có sự nới rộng những biên độ của sự cảm thụ thế giới bằng việc kết hợp các giác quan một cách kỳ lạ. Điều này được thể hiện ở một số bình diện như sau :
- Hiện tượng nhân hóa, nội cảm hóa ngoại cảnh, làm cho ngoại cảnh nhuốm màu cảm xúc con người (Nắng chia nửa bãi, chiều rồi.../ Vườn hoang trinh nữ khép đôi lá rầu / Sợi buồn con nhện giăng mau / Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây – Ngậm ngùi, Huy Cận; Đây thôn Vỹ Dạ, Hàn Mặc Tử). Thiên nhiên trong thơ mới là một thứ thiên nhiên rạo rực những cảm giác của con người (Vườn cười bằng bướm hót bằng chim / Dưới nhánh không còn một chút đêm / Những tiếng tung hô bằng ánh sáng /ca đời hưng phục trẻ trung thêm – Lạc quan, Xuân Diệu; Gió kinh khủng vừa rên vừa hắt thở / Đem trái tim làm uất cả không gian/ Gợi bóng hình những thân thể cơ hàn/ Với môi tím cảnh nghèo vạc mặt – Tiếng gió)
- ở phía ngược lại, có hiện tượng ngoại cảnh hóa tâm hồn (Sao ở đâu mọc lên trong đáy giếng / Lạnh như hòn u tối vạn yêu ma ? / Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta? / ý của ai trào lên trong đáy óc,/ Để bay đi theo tiếng cười điệu khóc – Ta, Chế Lan Viên; Đây chùm thương nhớ, khóm yêu đương / Đây em cành thẹn lẫn cành thương- Xuân Diệu)
- Có những ẩn dụ kỳ lạ nối liền thế giới ngoại cảnh, thế giới sự vật với thế giới con người : Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ / Trong khung xám của mùa đong bằng sắt / Đôi giếng mắt chứa trời vạn hộc / Mùa xuân chín ửng trên đôi má.. – Xuân Diệu; những tập hợp từ ngữ hòa trộn các giác quan đến mức kì dị : Nhạc thơm, gió thơm, hương mến yêu, uống hồn, tháng giêng ngon như một cặp môi gần, mùi tháng đều rớm vị chia phôi...
- Đặc biệt là hiện tượng hòa trộn giác quan để cảm thụ thế giới (chịu ảnh hưởng của thơ ca tượng trưng phương Tây). Điển hình xuất sắc là Nguyệt Cầm của Xuân Diệu.
3. Thơ mới – Bản ghi chân thực hiện thực tinh thần của con người cá nhân trước cách mạng.
Trong thời điểm khởi đầu của phong trào Thơ mới, Thế Lữ viết tuyên ngôn cho một cuộc cách mạng thơ ca : Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng / Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi / Tìm cảm giác hay trong tiếng khóc câu cười, / Trong lúc gian lao trong giờ sung sướng, / Khi phấn đấu cũng như hồi mơ tưởng / Tôi yêu đời cùng với cảnh lầm than, / Cảnh thương tâm , ghê gớm hay dịu dàng. / Cảnh rực rỡ ái ân hay dữ dội – Cây đàn muôn điệu, Thế Lữ. Thơ mới là tiếng lòng của một tâm hồn rộng mở với thế giới, một tâm hồn được cởi bỏ khỏi mọi ràng buộc, chính vì vậy, từ góc độ loại hình, Thơ mới thuộc loại thơ trữ tình, thường lấy thiên nhiên và tình yêu làm đề tài phản ánh, nó đối lập với thơ ca tuyên truyền cổ động, thơ ca mang màu sắc chính luận. Chính vì vậy, yếu tố chi phối sự vận động của một văn bản thơ là mạch cảm xúc, là đời sống nội tâm của chủ thể trữ tình.
3.1. Nỗi buồn, sắc thái thẩm mỹ chủ đạo của thơ mới :
Xuất phát từ những nguyên nhân có tính lịch sử, văn hóa và xã hội (một thời đại đau khổ của dân tộc, một giai đoạn tan vỡ của các hệ giá trị, một thế hệ thanh niên đang kiếm tìm lý tưởng – bi kịch “thiếu một niềm tin đầy đủ”, nói như Hoài Thanh) mà nỗi buồn trở thành tâm trạng phổ biến bao trùm lên toàn bộ Thơ mới. Có nhiều sắc thái của nỗi buồn được biểu hiện trong Thơ mới
- Có cái buồn vô cớ, dịu nhẹ như trong thơ Xuân Diệu (Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều / Lòng không sao cả hiu hiu khẽ buồn .... – Chiều; Không gì buồn bằng những buổi chiều êm / Mà ánh sáng điều hòa cùng bóng tối.. . Anh một mình nghe tất cả buổi chiều / Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh – Tương tư chiều,)
- Có cái buồn thê thiết, ảo não, cái buồn trở thành một thứ ám ảnh, thấm đẫm trong thế giới quan, một thứ “sầu vạn kỷ” thuộc về bản chất của thân phận con người như trong thơ Huy Cận (Buồn đêm mưa, Tràng giang)
- Có cái buồn tuyệt vọng như trong thơ Hàn Mặc Tử (Máu đã khô rồi, thơ cũng khô / tình tôi chết yểu tự bao giờ / Từ nay trong gió, trong mây gió / Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ.... Ta trút linh hồn giữa lúc đây / Gió sầu vô hạn nuôi trong cây / - Còn em sao chẳng hay gì cả ? / Xin để tang em đến vạn ngày – Trút linh hồn, HMT)
- Và cũng có khi cái buồn nhuốm màu bi quan, bế tắc, rã rời suy sụp, nhuốm màu sắc sa đọa như trong thơ Vũ Hoàng Chương (Chưa cuối xứ mê ly, chưa cùng trời phóng đãng / Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men / Say đi em, say đi em / Say cho lơi lả ánh đèn, / Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt/ Rượu rượu nữa và quên, quên hết – VHC; Hay buông lại gần đây làn tóc rối / Sát gần đây, gần nữa cặp môi điên / Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói / Đưa hồn say về tận cuối trời quên – Quên; Nằm say nhựa tỏa cánh xiêu xiêu / Giường thấp nghe trời xuống tịch liêu/ Sự nghiệp nào đâu trưa nắng xế/ Hòa phai thề ước lá tàn yêu / Ngoài ba mươi tuổi duyên còn hết / Một ván cờ thua ngã bóng chiều – Ngoài ba mươi tuổi – VHC)
- Đương nhiên, trong Thơ mới cũng có những màu sắc trong sáng, êm nhẹ, những khoảng sáng vui tươi khi con người cá nhân tìm về với thực tại, với thế giới con người, với tuổi trẻ, với quê hương đất nước (Thơ duyên, Xuân Diệu; Thơ của Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Quê hương của Tế Hanh)
3.2. Gắn liền với nỗi buồn là cảm quan về sự cô độc, sự lạc loài, sự bé nhỏ và cả cảm giác bất bằng lòng, thậm chí đến mức đối lập gay gắt giữa con người với thế giới hiện tại
- Cảm giác bao trùm Thơ mới là một sự bất bình sâu xa với thực tại. Có một sắc thái bi quan ám ảnh cái nhìn về thế giới của nhiều tác giả Thơ mới. Hiện thực hiện lên trong mắt họ là tầm thường, giả dối, là đau khổ (Trời hỡi trời, hôm nay ta chán hết/ Những sắc màu hình ảnh của trần gian – Chế Lan Viên; Quanh quẩn mãi với vài ba dáng điệu / Tới hay lui cũng chừng ấy mặt người –Huy Cận; Ghét những cảnh không đời nào thay đổi / Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối / Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng – Thế Lữ)
- Chính vì vậy, cảm giác cô đơn trở thành một cảm giác ám ảnh trong Thơ mới. Đó là cảm giác cô đơn, nhỏ nhoi của con người, tâm hồn lạc loài đơn chiếc (Buồn đêm mưa, Tràng giang – Huy Cận), cô đơn trong cả những giây phút yêu đương (Trăng sáng trăng xa trăng rộng quá / Hai người sao chẳng bớt cô đơn), cô đơn thăm thẳm từ tâm hồn lẫn thể xác bệnh tật như trong thơ Hàn Mặc Tử (Họ đã xa rồi không níu lại / Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa / Người đi một nửa hòn tôi mất / Một nửa hồn tôi hóa giại khờ / Tôi vẫn còn đây hay ở đâu / Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu ? / Sao bông phượng nở trong màu huyết / Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu – Những giọt lệ; Ai đi lẳng lặng trên làn nước / Với lại ai ngồi khít cạnh tôi / Mà sao ngậm kín thơ đầy miệng / Không nói không rằng nín cả hơi / Chao ôi ! ghê quá trong tư tưởng / Một vũng cô liêu cũ vạn đời – cô liêu) và chính từ cảm giác cô đơn đó nên môtíp về những cuộc chia tay, tiễn biệt trở thành một môtíp phổ biến của Thơ mới (Những bóng người trên sân ga – Nguyễn Bính; Vu vơ - Tế Hanh)
3.3. Có thể nói Thơ mới đã biểu lộ một tình thế đối lập giữa tâm hồn con người cá nhân và thế giới hiện tại và chính từ sự đối lập ấy nên hình thành trong thơ mới một thứ khát vọng : khát vọng giải thoát (Những sợi tơ lòng – Chế Lan Viên) và khuynh hướng thoát ly thực tại.
- Có nhiều ngả đường thoát ly khỏi thế giới thực tại : tìm về thế giới quá khứ, những giấc “mơ xưa” (Thế giới Chàm trong thơ Chế Lan Viên, những giấc “mơ xưa” trong thơ Thế Lữ, Xuân Diệu....), có cuộc trở về với thiên nhiên đất nước, những sinh hoạt phong tục êm đềm của cộng đồng (Thơ Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Tế Hanh), có sự tiếc nuối những giá trị đã qua (Ông đồ – Vũ Đình Liên, Nhớ rừng – Thế Lữ, Con voi già - Huy Thông...) và có cả những ngả đường tìm đến với tôn giáo (Hàn Mặc Tử) hoặc, tiêu cực hơn cả, tìm đến với truỵ lạc và lãng quên (Vũ Hoàng Chương)
3.4. Và không thể phủ nhận trong Thơ mới có một tình yêu thiết tha đối với cuộc sống, một khát vọng thay đổi. Tình cảm đó được biểu hiện dưới hai hình thức
- Nỗi khát khao đam mê tận hưởng tình yêu và hạnh phúc hiện tại (Vội vàng, Giục giã - Xuân Diệu)
- Hình ảnh người khách chinh phu, khát vọng lên đường (Đi, đi ...đi mãi nơi vô định / Tìm cái phi thường, cái ước mơ - Hàn Mặc Tử; Tống biệt hành – Thâm Tâm)
(Sưu tầm)

Want your school to be the top-listed School/college in Da Nang?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Website

Address

Da Nang