Diệu Giác

Diệu Giác

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Diệu Giác, Educational consultant, .

05/04/2022

Ăn Ngũ Vị Tân (Hành, Tỏi, Kiệu, Nén, Hung Cừ) Chiêu Cảm Loài Ngạ Quỷ - cố HT. Thích Trí Tịnh

Tôi năm nay đã 95 tuổi, ngày giờ đã đến lúc phải mãn. Tôi cũng cố gắng lắm, kỳ thật những người bạn đồng tu cùng thời với tôi đều đã theo Phật từ lâu. Tôi còn ở trên đời để gặp mặt tất cả các huynh đệ là điều hy hữu lắm. Tôi tuổi đã cao, sức khỏe cũng yếu không thể nói nhiều nên chỉ nói những điều cốt yếu để nhắc nhở tất cả các huynh đệ.
Trong việc tu hành, Quả Vị cao của các bậc Thánh chính yếu là nương nơi Lý Tánh (Tánh Không). Nhưng chúng ta đều là người sơ cơ, trong Sáu Nẻo Luân Hồi dù rằng may mắn được thân người nhưng vẫn còn lẩn quẩn trong vòng sanh tử, nói thẳng đều là phàm phu tục tử. Cho nên mình phải biết căn cơ và vị trí của mình trong hiện tại để bước đi cho vững chắc. Vì sao như vậy? Vì ngày, tháng, năm, tuổi không chờ đợi. Trong Kinh nói, những cõi nước khác thọ mạng người dân tính bằng số kiếp, tính theo thời gian ở cõi này không biết bao nhiêu triệu năm. Còn thọ mạng của loài người ở cõi này chỉ mấy mươi năm, rất ngắn ngủi. Một ngày ở cõi Trời Tứ Thiên Vương bằng 50 năm ở cõi người, còn ở cõi Trời Đao Lợi thì một ngày bằng trăm năm ở cõi người. Thế nên đời sống con người ngắn ngủi không bền lâu. Chỉ vì chúng ta là phàm phu mê tối được một ngày thì cho là dài lâu, được một tháng hay một năm lại lầm tưởng là lâu hơn. Kỳ thật, thời gian qua rất mau do đó mình phải tranh thủ thời gian ngắn ngủi này đừng để lãng phí.

…Tôi nói chân thành với các huynh đệ rằng, sự tướng không thể bỏ được. Lấy sự tướng của việc tụng kinh, niệm Phật để chống lại sự tướng của ba độc tham, sân, si, phiền não, già, bệnh, chết. Ngày tháng không thể bỏ qua, nó thúc đẩy mình tiến đến chỗ chết mà thôi. Như tôi năm nay 95 tuổi, qua sang năm là 96 tuổi, không thể trở lại 94 tuổi được. Thân này, mầm bệnh tật bao vây từ trong đến ngoài, nó luôn chờ dịp để sanh khởi lên. Còn trước mặt là tấm bảng già yếu, bệnh tật, chết chóc, chui đầu vào đó mà thôi. Ai cũng phải đến chỗ đó hết, chỉ sớm hay muộn. Thân này là như vậy, kết cuộc của thân là như vậy. Mọi người phải nhận hiểu rõ ràng, chớ nên mê lầm. Tôi cũng có 3 điều để dìu dắt mọi người, xuất gia cũng như tại gia. Vì người tin được thì sẽ thực hành theo:

1. Ăn chay. Phải thiết thực. Vì mỗi ngày ăn thịt chúng sanh thì điều ác nào chẳng dám làm, việc thiện nào có thể sanh khởi được? Bởi vì loài vật bị giết bị nấu bị nướng thì con người mới có thịt ăn. Vả lại, đạo Phật lấy Từ Bi làm chánh, nhưng ăn thịt chúng sanh thì đâu còn Từ Bi nữa. Ăn chay có những lợi ích gì:

• Không vướng mắc vào nhân quả của nghiệp giết hại. Nghiệp sát sanh ở thế gian rất nặng, vì chúng sanh bị bắt giết thì chúng ta mới có thịt ăn.

• Ăn chay vì tình thương không nỡ ăn thịt loài vật. Tình thương phát sanh thì mong muốn mọi loài đều được an vui, do đó làm các việc lành. Như thế, tâm từ đã sanh ra. Ví như mình thương người em, người cháu thì đâu muốn nó khổ, đã không muốn nó khổ thì không làm những việc bất thiện. Do vậy, tâm bi cũng sanh khởi mà làm các việc lành.

Tâm từ bi có được, cội gốc do ăn chay mà thành. Thuở nhỏ, những người bạn trong xóm sắm giàn thun để bắn chim, tôi cũng làm theo. Bạn bè sắm cần câu để câu cá, tôi cũng sắm cần câu đi câu theo. Từ lúc biết ăn chay, tôi thấy con gà, con chim, các con vật khác thì thương nó lắm. Nếu người ăn thịt thì tình thương không thể phát sanh. Ví như, chúng ta có con em, mỗi ngày mình ăn thịt nó mà cho rằng thương nó thì không được.

Tình thương phát sanh ảnh hưởng nơi “Từ” thì làm lành, nơi “Bi” thì không làm ác. Điều thiện lành thì tăng thêm, việc xấu ác ắt giảm dần và dứt sạch. Như vậy, chúng ta ăn chay tự nhiên làm được hai việc mà đức Phật từng dạy: “ Từ bỏ các việc ác, Luôn làm các việc lành”. Do đó, tâm từ bi là cội gốc để đi lên con đường Hiền Thánh.
2. Trong kinh Lăng Nghiêm, đoạn đức Phật nói ba món tiệm thứ. Trước tiên, không được ăn ngũ tân (hành, hẹ, tỏi, nén, hung cừ). Vì tính chất của ngũ tân làm tăng tham dục và sân hận, ảnh hưởng của nó là quyến rũ Ngạ quỷ, chư thiên cùng thiện thần đều tránh xa. Nó hay trợ giúp phát sanh nghiệp phiền não.

Cách đây ít hôm, có người xưng là Quỷ vương nói : “ Tôi lên đây để đấu với Hòa thượng, nếu Hòa thượng thua thì tất cả binh tướng của tôi sẽ chiếm chỗ này”.
Sáng hôm đó, tôi đang ngồi uống thuốc Tam tài thấy có một người đàn ông và một người đàn bà. Người đàn ông thì đứng chắp tay, còn người đàn bà thì uốn mình như con rắn (có thể thuộc loài Ma hầu la già) rồi quỳ xuống lạy, lạy xong rồi đi xuống. Tâm tôi cũng không để ý chỉ nhìn thấy vậy thôi. Sau đó, tôi nghe mấy thầy nói, họ lên chánh điện ngồi niệm Phật một ngày một đêm. Các thầy kể lại đã hỏi họ rằng: “Sao không thấy đấu với Hòa thượng mà quỳ lạy rồi đi xuống?”. Người kia nói: “Tôi nhìn thấy Hòa thượng sợ quá nên quỳ xuống lạy chứ không dám làm gì hết”. Các thầy hỏi, lúc đó sư ông có bắt ấn hay niệm chú gì không? Thật ra, tâm tôi không để ý tới.

Tôi nói việc này để các huynh đệ biết, mình sống ở đây các loài Ngạ quỷ hạng cao đầy dẫy. Cho nên Phật nói, nếu ăn ngũ tân sẽ ảnh hưởng đến các loài đó. Bây giờ, nhiều chùa ngập tràn mùi vị ngũ tân. Cho đến các chùa xung quanh, tỏi, hành (ba rô) treo đầy trong nhà bếp. Các huynh đệ muốn giữ điều này cũng khó lắm, vì mỗi ngày phải đi đám, người ta nấu thức ăn bỏ hành bỏ tỏi, nếu không dùng thì nhịn đói. Do vậy, tôi không đi dự các đám cúng. Từ trước đến giờ, tôi chưa bao giờ dùng năm thứ rau cay này. Có khi xuống chùa Huệ Nghiêm (Bình Chánh), tôi phải dặn không được bỏ ngũ tân vào thức ăn. Lúc đến các chùa, dùng cơm chay mà có mùi vị này thì tôi chỉ ăn chút cơm và bánh ngọt rồi về.

3. Từ trên nền tảng đó tu hành chánh niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Niệm Phật là trì niệm danh hiệu Nam Mô A Mi Đà Phật. Niệm Pháp là tụng Kinh. Niệm Tăng là niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, Bồ Tát Địa Tạng…Trong đó lấy niệm Phật làm chánh, mỗi ngày đều thực hành như thế thì chánh niệm dần dần tăng lên, thiện căn cũng từ đó thêm lớn, công đức và phước đức cũng từ đó tăng trưởng.

Trong sinh hoạt hàng ngày, có những điều giúp mình tăng phước và giảm phước mà chúng ta không để tâm lưu ý. Trong Mười đại nguyện vương của Bồ Tát Phổ Hiền, điều nguyện thứ năm là “ tùy hỷ công đức” dễ thực hành lắm, lấy công đức của người làm công đức của mình. Đây là pháp tu thong thả nhẹ nhàng. Đối với các việc lành của người, chúng ta không vui mừng lại còn ngăn cản chê trách thì tổn phước. Còn tùy hỷ (vui mừng theo) thì phước đức tăng thêm. Chẳng hạn, có người xây một ngôi nhà lớn, khách bước vào khen ngợi khang trang mát mẻ thì người chủ liền vui. Một người khác lại cho rằng, nhà rộng quá dọn dẹp mệt thêm. Người chủ nghe được cũng hơi buồn. Như lúc xây chánh điện chùa Vạn Đức, có người khen ngợi cây Bồ đề cao đẹp quá. Nhưng có người lại nói nhìn lên cây Bồ đề quá cao thật mỏi cổ. Chỉ một việc nhỏ này, một bên tăng phước, một bên tổn phước. Các huynh đệ lưu ý để ứng dụng trong đời sống thường ngày, những điều tăng phước thì nên làm. Những điều tổn phước thì nên tránh. Mỗi ngày tích lũy một ít thì phước đức từ ít thành nhiều, từ nhỏ thành lớn.

Ngày tháng qua mau, các huynh đệ lấy ăn chay làm nền tảng, luôn lấy việc niệm Phật tụng kinh làm công đức xuất thế. Từ những điểm này gắng sức giữ gìn, rồi tu thêm các việc lành khác. Mong các huynh đệ ai nấy đều nhất tâm tinh tấn, vững bền ở trong giáo pháp của Phật. Phải khắc ghi hai chữ: “Vững bền” này.

Ngày Khánh Tuế 17/7 Tân Mão (2011)
HT. Thích Trí Tịnh khai thị tu hành
Tỳ Kheo Thích Pháp Đăng kính ghi

07/03/2022

Cũng giống như con người và tất cả các loài động vật khác, bò là những cá thể riêng biệt, có khả năng cảm nhận mọi loại cảm xúc và biết đau đớn.

Nỗi đau của bò nuôi lấy thịt bắt đầu khi bò mới chỉ là bê con. Ở những khu chăn nuôi nhà máy, bò bị đắt dấu thứ tự bằng sắt nung, khiến bò chịu đau đớn tột cùng. Công nhân cắt tinh hoàn của bê đực, cắt hoặc đốt bỏ sừng mà không có thuộc giảm đau. Khi khoảng 1 đến 2 tuổi, bò bị chuyển đến các chuồng nuôi lớn và phải sống trong không gian ngột ngạt, dơ dáy cùng hàng ngàn cá thể khác, và chỉ chờ đến ngày bị giết thịt.

Bò cái nuôi lấy sữa bị hãm hiếp ngay sau sinh nhật đầu tiên. Để sản xuất thật nhiều sữa, bò cái sẽ bị ép có thai liên tục. Công nhân thường người đưa cánh tay của mình vào sâu trong trực tràng của bò cái để định vị tử cung, sau đưa dụng cụ chứa tinh trùng bò đực vào âm đạo. Bò bị khống chế và không có khả năng tự vệ để bảo vệ chính mình.

Bê con vừa mới sinh ra đã bị tách khỏi mẹ, điều này gây đau khổ cho cả bò mẹ lẫn bê con. Bê đực con sẽ bị nuôi để lấy thịt bê, hoặc bị giết ngay khi mới sinh, và sữa dành cho bê con sẽ bị hút lấy và chế biến để con người tiêu thụ. Và khi bò mẹ đã bị hút hết sữa, cô lại bị ép có thai, và tiếp tục chứng kiến con mình bị cướp đi.

Bò là sinh vật sống có cảm xúc giống như chúng ta. Điều đơn giản nhất ta có thể làm để giúp đỡ bò là ngừng sử dụng các sản phẩm từ sữa động vật, và chuyển dần sang ăn thuần chay.

25/02/2022

🙏 Tâm bồ đề của Tịnh Độ môn, chính là tâm nguyện vãng sanh, chúng ta hiện nay không làm được gì cả; nhưng chỉ cần đến cõi Tịnh Độ thì sẽ thành Phật, có thể thành Phật, có thể độ chúng sanh, đây chính là tâm bồ đề, đây gọi là tâm bồ đề tha lực; nhờ vào Phật lực, chúng ta có thể phát khởi, còn nương vào bản thân thì không thể phát khởi được.
Pháp Sư Tịnh Tông
Nam-mô A-di-đà Phật.

09/02/2022

LỢI ÍCH NGHE KINH!

Chỉ làm tốt một sự việc, là giới thiệu Phật Pháp Đại Thừa, Thế giới Cực Lạc cho đại chúng, đây là việc rất tốt! Làm cho mọi người hiểu rõ Phật Pháp, hiểu biết về Phật Pháp, lý giải được Phật Pháp, y giáo tu hành.

Chúng ta trong đời này sẽ không sống uổng phí. Nhiều người được lợi ích như vậy, bản thân còn có thể không sanh Tịnh Độ sao? Không có lý gì lại như vậy! Bản thân chắc chắn được vãng sanh, không có chút nghi hoặc nào. Đây là công đức nghe tên, vi diệu khó nghĩ bàn.

Như Tôn Thắng Đà Là Ni Kinh, trong kinh có mấy câu nói: “Chư phi điểu súc sanh, hàm linh chi loại, văn thử đà la ni, nhất kinh ư nhĩ, tận thử nhất thân, cánh bất phục thọ.” Đây là lợi ích của kinh giáo Đại Thừa đối với cõi súc sanh. Quí vị xem phi điểu, súc sanh, ngày nay chúng ta nói động vật, Phật Pháp nói trong lục đạo có súc sanh đạo, chúng có linh tánh, không khác gì con người. Cũng là con người sau khi chết rồi, thác sanh đến cõi này, thọ thân súc sanh.

“Văn thử đà la ni”, đây là Đà La Ni Kinh, đà la ni là tiếng Ấn độ, dịch thành tiếng Trung gọi là tổng trì. Tổng tất cả pháp, trì tất cả nghĩa. Súc sanh nghe đến kinh văn này, chúng hiểu được. “Một khi qua tai, hết thân này rồi, không thọ thân này nữa”, chúng liền có thể xa lìa được cõi súc sanh, có thể xa lìa thân súc sanh, đi đến nơi nào? Đến cõi người. Hàng thiện căn sâu dày, trong đời quá khứ có tu hành, chúng đến cõi trời, không còn bị đọa lạc trong ba đường ác. Đây là lợi ích của súc sanh nghe kinh.

Dưới đây trong Niết Bàn Kinh có câu nói, còn sâu sắc hơn ý nghĩa này. Chúng ta xem tiếp. “Đại niết bàn này cũng lại như vậy”. Đây là Đại Niết Bàn Kinh, “nếu có chúng sanh” chúng sanh này phạm vi rất lớn. Không chỉ là cõi súc sanh, cõi ngạ quỷ, cõi địa ngục cho đến cỏ cây hoa lá sơn hà đại địa, tất cả chúng linh đều nghe được hết. Tụng kinh họ nghe được rồi, chúng ta không thể không tụng đọc một cách cung kính, không thể khinh mạn. Tất cả pháp đều là từ trong cung kính mà cầu ra được. Chúng ta tụng kinh là bố thí cho tất cả chúng sanh phải cung kính thì họ mới được lợi ích, giảng kinh cũng lại như vậy.

Cổ đức còn đem kinh điển khắc lên chuông khánh, khắc lên trên đó, đặc biệt là chuông lớn. Có lúc đem một bộ Kinh Hoa Nghiêm, toàn bộ kinh văn khắc lên đại hồng chung, đại hồng chung vừa gióng một tiếng tất cả chúng sanh đều nghe được hết, con người không có khả năng này, quỷ thần có năng lực này. Chúng ta từ đây thấy được Cổ nhân đối với việc hoằng dương truyền bá Phật Pháp, đối với pháp giới chúng sanh, đối với sơn hà đại địa. Cho nên sơn hà đại địa ít thiên tai, nó có nguyên nhân.

Hiện tại khoa học phát triển rồi, có ti vi, có mạng internet, những công cụ truyền bá này, so với ngày xưa tiến bộ hơn rất nhiều. Chúng ta nên đem những kinh luận này, không ngừng phát trên mạng internet, phát lên sóng trên truyền hình, pháp giới hư không tất cả chúng sanh đều tiếp nhận được. Sự ảnh hưởng này không chỉ là sơn hà đại địa, mà ảnh hưởng đến pháp giới hư không giới. Không trung, ngạn ngữ xưa có câu: “Ngẩng đầu ba thước có thần minh”, những Thần minh này ở trong không trung, trong những sóng điện từ này có chánh pháp, có bát nhã, có Niết bàn, tất cả họ đều được lợi ích. Chúng ta có thể ở đây tận tâm, tận một phần tâm, tận một phần sức, đều là vô lượng vô biên công đức chân thật.

Quí vị xem trong Kinh Niết Bàn nói: nếu có chúng sanh, nghe kinh qua tai, bảy kiếp sau này, không đoạ đường ác.

MAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!

Trích đoạn: Tịnh Độ Đại Kinh, giải diễn nghĩa.
Tập 226
Chủ giảng: Hòa Thượng Tịnh Không

https://ph.tinhtong.vn/

23/01/2022

MUỐN HẾT KHỔ HÃY MAU NIỆM PHẬT!

Chỉ cần trong tâm bạn có Phật, mọi thứ đều sẽ biến thành tốt , trong một ngôi nhà nhỏ niệm Phật, niệm đến ngôi nhà trở nên hương quang trang nghiêm, thành ngôi nhà tốt nhất, lúc làm việc nhà vừa làm vừa niệm làm việc nhà cũng là việc rất vui vẻ.

Do đó chỉ cần nhất tâm niệm Phật, không nghĩ ngợi những chuyện khác sẽ thoát ly được các khổ nhỏ của đời người, chẳng những thế, ngay đến cái đại khổ cả sanh tử vẫn có thể thoát ly. Đến lúc lâm chung A DI ĐÀ PHẬT đón bạn về thế giới Cực Lạc tốt biết bao! Cho nên phải buông xả để nhất tâm niệm Phật, không cần đợi sau khi vãng sanh, ngay bây giờ thường được hưởng niềm vui an lạc.

Thời Dân Quốc tại Chiết Giang có một phụ nữ lớn tuổi, gia cảnh nghèo khổ, con trai lại bất hiếu, có một hôm bà bị con trai chửi mắng, bà rất đau lòng, xong bà đi tìm vị thầy xuất gia để than thở.

Thầy nói:
– Bà biết thân mình mang nỗi khổ, vì sao không bán nó đi?

Bà hỏi:
– Làm cách nào để bán?

Thầy nói:
– Bà chuyên niệm A DI ĐÀ PHẬT cầu sanh Tây Phương, lâm chung Phật đến đón bà về Tây Phương, sẽ đoạn dứt mọi thứ khổ, chỉ hưởng niềm an vui, như vậy là đem cái khổ bán đi rồi.

Bà nói:
– Hai mẹ con chúng con ở chung một căn nhà, trong đó vừa có giường lại thờ ông Táo, dưới giường là chuồng heo bê bối như vậy làm sao mà niệm Phật được.

Thầy nói:
– Đều không sao cả, bà chỉ lo niệm thường xuyên không gián đoạn, lúc rỗi rảnh thì vào chùa lạy Phật.

Bà lão sau khi về nhà y giáo phụng hành, một lòng cầu thoát khổ niệm Phật không hề gián đoạn.

Ba năm trôi qua trước vài tháng lâm chung, bà nói với con trai là:
– Tháng mấy, ngày mấy mẹ đi Tây Phương con đừng ra ngoài, ở nhà lo hậu sự cho mẹ xem như tận hiếu của người làm con.

Con trai của bà không hề tin chuyện này, qua một thời gian bà nhắc lại một lần nữa, con trai bà vẫn không tin.

Đến trước vài ngày lâm chung con bà bỗng dưng ngửi được mùi thơm kỳ lạ, đi tìm khắp nơi cũng không biết từ đâu bay tới. Lúc đó mới tin lời của mẹ là thật, vào đúng ngày đó con bà ở nhà trông chừng, chỉ thấy mẹ tắm rửa thay quần áo ngồi đoan trang niệm Phật rồi vãng sanh.

Như bà lão này gia đình nghèo khổ con lại bất hiếu, theo thường lệ, tuổi già mà gặp hoàn cảnh như thế thật là đau khổ vô cùng. Thế nhưng bà biết mình khổ, một lòng muốn thoát khổ nên hết lòng nương tựa A DI ĐÀ PHẬT, kết quả được giải tỏa hết mọi thứ đau khổ.

Trích “Nhật Mộ Đồ Viễn”
Pháp Sư Thích Tự Liễu.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!

https://ph.tinhtong.vn/

Photos from Diệu Giác's post 21/01/2022

Nếu mọi người muốn biết về nhân quả, hãy đọc kinh Địa tạng, đều là lời Đức Phật nói ...

17/01/2022

Hỏi: Tại sao đạo Phật lại đề xướng ăn chay?

Ðáp: Người ăn chay thì dục niệm nhẹ. Kẻ ăn mặn thì dục niệm nặng nề. Có tôn giáo cho rằng động vật được sanh ra là để cho loài người ăn, cho nên ăn mặn là một việc hợp lý trời đất. Song le, Phật Giáo đề xướng tinh thần "mọi vật đều cùng một thể, đó gọi là Ðại Bi," và xem mọi loài chúng sanh đều có Phật-tánh, đều sẽ thành Phật; cho nên chủ trương giới sát, phóng sanh.

ĂN THỊT TỨC LÀ ĂN NGƯỜI
(Vạn Phật Thành ngày 30 tháng 5 năm 1982)

"Thiên bách niên lai oản lý canh,
Oán thâm tự hải hận nan bình.
Dục tri thế thượng đao binh kiếp,
Thả thính đồ môn dạ bán thanh!

Dịch là:
"Ngàn năm oán hận ngập bát canh,
Oán sâu như biển hận khó tan.
Muốn biết vì sao có chiến tranh,
Hãy nghe lò thịt, lúc nửa đêm!"

Từ xưa đến nay có rất nhiều người hy sinh thân mạng kẻ khác để lợi ích cho chính mình, cam tâm giết hại kẻ khác để bồi dưỡng cho bản thân mình. Thế nên miếng thịt ở trong tô canh chứa chất lòng oán hận thâm sâu như biển cả. Ðời này qua đời khác sát hại lẫn nhau, ăn thịt lẫn nhau. Tất cả chúng sinh đều ham sống, sợ chết, song con người vẫn dùng thủ đoạn áp bức để tàn sát những kẻ yếu kém hơn mình.

Trong tâm thức của những con thú trước khi chết đã kết tinh lòng oán hận rất lớn, chúng chỉ muốn tìm cách báo thù, không có cách gì để thoa dịu ý tưởng cừu hận này được. Các bạn muốn biết trên thế giới, nguồn gốc của chiến tranh từ đâu ra? Thí dụ như chiến tranh Việt Nam hay là hiện tại chiến tranh giữa Á Căn Ðình và Anh Quốc? Ðều là do nghiệp sát quá nặng, quá sâu, cho nên mới dùng phi cơ, đại pháo, thiết hạm, thủy lôi để hủy diệt nhau!

Nếu ban đêm mình lắng nghe nơi nhà người đồ tể tiếng kêu la rên xiết của con heo, con bò hay con dê xin cứu mạng, thì mình sẽ biết được nguyên nhân của chiến tranh ở đâu mà ra. Có bài thơ rằng:
"Nhục" tự lý biên lưỡng cá nhân,
Lý biên trác trước ngoại biên nhân.
Chúng sanh hoàn thực chúng sanh nhục,
Tử tế tư lượng nhân thực nhân!"

Dịch là:
"Trong chữ "nhục"gồm có hai người,
Người ở trong dòm người ở ngoài,
Chúng sanh lại ăn thịt chúng sanh,

Suy nghĩ kỹ là người ăn người."
Tiếng Trung Hoa, chữ "nhục" 肉, nghiã là thịt, gồm có chữ "khẩu" 口 tức là cái miệng mở ra, và hai chữ "nhân" 人tức là hai người: ở bên trong có một người và ở bên ngoài có một người. Người ở bên ngoài chờ người bên trong.

Người ở ngoài muốn đi vô nhưng không vô được, người ở trong muốn chui ra ngoài nhưng ra không nổi là vì người bên ngoài đứng cản, không cho anh ta chạy thoát. Nên chữ "nhục" này chính là một kẻ ăn thịt và một kẻ bị ăn thịt. Kẻ ăn thịt thì ở bên ngoài, và là một con người. Kẻ bị ăn thịt thì ở bên trong và cũng là một con người, nhưng y đã biến thành súc sinh, lại còn bị chận không cho chạy ra, chạy lên cũng không được, chạy xuống cũng không xong, như là bị vây khốn, không chạy thoát được. Tuy là miệng mở khá rộng nhưng vì người bên ngoài đã chận, nên kẻ bên trong không thể chạy khỏi vòng vây.

Vòng vây này có thể là chuồng dê, chuồng heo, hay là chuồng bò, chuồng trâu. Người bị ăn thịt thì ở trong chuồng mà người ăn thịt thì ở bên ngoài chận không cho ra. Vì sao mà chận không cho anh ta ra? Là bởi vì muốn ăn thịt anh ta! Người bị ăn thịt và người ăn thịt có một mối quan hệ: đó chính là sự oán hận không thể nào hòa giải được!

Con người là chúng sinh, miếng thịt mình ăn cũng là chúng sinh. Hễ là động vật, là dê, là trâu, là gà, là ngựa, là chó, là heo v.v... đều là một loại chúng sinh cả. Nếu có kẻ nói rằng những thứ động vật này do trời sinh ra để người ăn, như vậy thì người sinh ra để ai ăn? Bởi vậy trời sinh động vật không nhất định là để cho người ăn, bất quá bởi vì con người ỷ mình trí óc cao minh nên mới ăn thịt động vật. Do đó, sự quan hệ ăn thịt này, nếu nghĩ cho kỹ thì chính là người ăn thịt người! Nếu nói rằng người ăn thịt người, thì thử hỏi xem kẻ bị ăn thịt, (tức là bây giờ đã biến thành dê, thành heo, thành ngựa v.v...) đối với mình có quan hệ như thế nào?

Trong Kinh Lăng Nghiêm có nói rằng: "Con dê trở lại biến làm người." Con dê mà có thể biến làm người thì tất cả động vật khác cũng có thể biến làm người, cũng như là mình cải đầu hoán diện, thay đổi bộ mặt thôi, mà mình không biết loài thú vật đó là ai. Các vị có biết chăng những thứ động vật dê, trâu, heo, gà,... đó không chừng đều là bà con quyến thuộc, là họ hàng thân thích của mình? Mối quan hệ đó, nói xa xôi như vậy, chớ nói gần hơn, thì chúng nó biết đâu chính là cha mẹ mình kiếp trước, hoặc là cha mẹ mình kiếp này, hay là cha mẹ không biết bao nhiêu kiếp về trước! Nghĩ như vậy, thì nếu ăn thịt cha mẹ, thì thật là bất hiếu. Cho nên nghĩ kỹ thì mới biết rằng ăn thịt động vật chính là người ăn thịt người vậy!

Người mà ăn thịt heo thì con heo có thể sẽ biến thành người. Khi heo thành người, nó lại ăn thịt heo do người kia biến thành. Nhân duyên cứ luân chuyển mãi, hỗ tương ăn thịt lẫn nhau: mình ăn nó, nó ăn mình. Do đó cừu hận càng ngày càng sâu; cừu hận càng sâu thì càng muốn ăn thịt; tánh thích ăn đồ ngon là do oan nghiệp dẫn dắt, làm mình cảm thấy hợp lý khi giết sinh mạng của kẻ khác để bổ trợ cho sinh mạng của chính mình!

Nếu các vị không tin thì tôi kể cho nghe một chuyện có thật như vầy:

Vào thời vua Lương Võ Ðế thì Phật Giáo hết sức hưng thạnh. Lúc bấy giờ có một vị tên là Chí Công, là một người đã giác ngộ rồi (Minh Nhãn Thiện Tri Thức). Ngài có thể biết được tiền nhân hậu quả mọi sự. Thời bấy giờ Phật Giáo đi tới chỗ các Thầy chỉ đi tụng niệm cho người đời. Gia đình nào có chuyện vui chuyện buồn gì cũng mời các Thầy tới tụng kinh kiết tường, tụng chú kiết tường. Có lần, một nhà giàu nọ làm đám cưới cho con gái nên mới mời ngài Chí Công tới để tụng kinh cầu phước. Bởi vì Phật Pháp không ra ngoài pháp thế gian, nên Tổ Sư cũng tùy thuận theo phong tục của người đời mà đáp ứng. Vừa đặt chân tới nhà, Ngài liếc nhìn và nói rằng: "Cổ quái! Cổ quái! Cháu lấy bà ngoại, Con gái ăn thịt mẹ, Con trai đập da bố, Heo, dê ngồi nơi ghế, Họ hàng nấu trong nồi, Chúng sanh lại tưng bừng, Ta thấy thật là khổ!

Ngài Chí Công nói: "Thật là 'cổ quái'!" Chuyện gì mà cổ quái? Ðó là cháu lấy bà ngoại của mình! Bởi vì khi đứa cháu vừa mới sinh thì bà ngoại nó bịnh. Lúc gần chết bà cầm tay thằng cháu này, nói rằng bà sợ không có ai lo lắng cho thằng nhỏ, tương lai ai là người giúp nó để thành gia lập nghiệp? Do vậy, lúc bà ngoại thở hơi cuối cùng thì tay vẫn nắm thằng cháu, quyến luyến không đành.

Bà ngoại xuống âm phủ gặp vua Diêm La, mới khóc lóc cầu xin: "Diêm La Vương ơi! Xin Ngài ban cho tôi một việc: Ở thế gian tôi có một đứa cháu nhỏ dại không ai săn sóc, xin Ngài cho tôi về lo cho nó được không? Vua Diêm La từ bi vô cùng, mới đáp lời thỉnh cầu, nói rằng: "Ðược, tốt lắm! Bà về lại trần gian săn sóc thằng nhỏ đi. Bà là bà ngoại của nó, bây giờ bà trở về làm vợ của nó, được chăng?"

Bà đó không thể làm chủ được nghiệp báo của mình cho nên đầu thai lên dương thế làm con gái. Ðứa con gái này lớn lên rồi lấy thằng cháu đó. Thật là cải đầu hoán diện, đổi mặt đổi mày mà thôi, như thử mặc bộ y phục mới không ai nhận biết được cả. Chỉ có Ngài Chí Công biết được chuyện đó, nên nói: "Cổ quái! Cổ quái! Cháu lấy bà ngoại."

Ngài Chí Công lại thấy đứa con gái nhỏ đang ăn miếng thịt heo nên nói rằng: "Con gái ăn thịt mẹ." Là vì mẹ đứa con gái này vốn làm đủ thứ ác nghiệp nặng nề nên chết rồi thì hóa kiếp làm heo; nay bị đồ tể giết, bị nấu làm món ăn ngon và bây giờ đứa con gái này ăn thịt mẹ của mình.

Khi Ngài thấy ở nơi sau vườn có đứa con trai đang cao hứng đập cái trống bằng da lừa, Ngài mới nói rằng: "Con trai đập da bố." Nghĩa là bố của thằng nhỏ này vì tạo nghiệp báo cho nên mới đầu thai làm con lừa, chết rồi bị người ta lột da làm trống; bây giờ đứa nhỏ này chẳng biết cha nó là miếng da làm thành trống, nên chỉ biết vui mừng thì đánh trống mà thôi.

Ngài Chí Công lại đi xuống nơi dãy ghế ngồi, nhìn qua thì thấy những kẻ ngồi đó toàn là trâu, bò, dê,... hồi xưa bị người ta ăn thịt, bây giờ biến thành người, làm bà con thân thuộc với nhau. Những loại thịt ở trong nồi đều là những bà con quyến thuộc của họ, nên ngài Chí Công nói rằng: "Quý vị tới đây tiệc tùng hết sức vui vẻ, hân hoan để chúc mừng ông chủ nhà làm đám cưới cho con. Sự thật, ta thấy thật là khổ! Người nào cũng ở trong luân hồi hỗ tương vay trả quả báo, tàn sát lẫn nhau, ăn thịt lẫn nhau; đó là nỗi khổ khó nói cho hết được."

Sau khi ngài Chí Công nói xong, có rất nhiều người hiểu, rồi phát tâm ăn chay, niệm Phật, tu hành.

Từ xưa đến nay nếu các vị không ăn thịt kẻ khác thì kẻ khác cũng không ăn thịt các vị. Có người nói: "Thầy nói thế nào đi nữa tôi cũng không tin." Nếu các vị không tin thì tôi cũng không có cách gì khác, cứ thí nghiệm thử xem sao!

Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng khai thị!.

https://ph.tinhtong.vn/

15/01/2022

TẠI SAO LẠI CÓ HIỆN TƯỢNG THƯỜNG MƠ THẤY ÁC MỘNG, GIẤC NGỦ CŨNG CHẲNG ỔN ĐỊNH, KHI TỈNH DẬY LUÔN CẢM THẤY MỆT MỎI NHƯ CHƯA BAO GIỜ ĐƯỢC NGỦ VẬY?

Nói đến cảnh mộng thì phàm là người phàm thì chắc chắn sẽ có nằm mộng, nếu như ta chịu lưu ý một tí thì sẽ có thể khảo nghiệm công phu tu tập của chính mình qua từng cảnh mộng. Chúng ta học Phật nhiều năm như vậy rồi công phu có tiến bộ hay không? Đại khái trước khi chưa học Phật thì thường hay nằm thấy ác mộng, cảnh giới của mộng rất là hỗn loạn, sau khi học Phật rồi thì vọng niệm ít đi, tâm dần dần thanh tịnh rồi cho nên khi nằm mộng ác mộng cũng ít đi, đây là công phu của ta đã được nâng lên một bậc. Nếu như từ mộng ít có thể đi đến chổ không còn mộng, vậy thì công phu của ta càng hướng lên trên cao mà nâng cao thêm một bậc nữa. Đến khi không còn cảnh mộng, cảnh giới này thành thật mà nói thì giống như chổ mà Phật thường hay nói:

_ " Ngủ nghỉ 4 giờ đồng hồ".

Chỉ cần 4 giờ đồng hồ thôi cũng đã đủ để tinh thần của ta hồi phục lại đủ đầy rồi.

Có rất nhiều người đến nói với tôi là họ thường hay nằm thấy ác mộng và giấc ngủ của họ cũng chẳng có ổn định, khi tỉnh dậy luôn cảm thấy rất mệt mỏi, như chưa bao giờ được ngủ qua vậy. Đây là hiện tượng như thế nào? Cái hiện tượng này tức là thân thể tuy rằng nghỉ ngơi nhưng tinh thần thì chưa từng nghĩ ngơi qua, nên khiến cho mỗi khi ta thức dậy luôn cảm thấy cơ thể thiếu kém rất mệt mỏi. Cái hiện tượng này nếu nói một cách đơn giản thì tức là ngủ không được sâu, ngủ không được ngon giấc. Do đâu không được ngon giấc? Là do mộng quá nhiều, giấc mộng này chưa đi khỏi thì giấc mộng khác đã kéo đến nằm đè lên, tinh thần của ta cứ mãi luân phiên chộn rộn ứng phó với từng giấc mộng mà chưa từng được ngơi nghỉ, do đó mà ta ngủ không ngon giấc.

Vậy phải làm sao để đem cái hiện tượng này cải thiện đi? Muốn cải thiện cái hiện tượng này chỉ có một phương pháp duy nhất đó là cần phải buông bỏ hết những lo lắng muộn phiền, những vọng tưởng phiền não lo được lo mất, những thị phi của thế gian ở trong tâm của mình. Con người chúng ta thường thường hay mắc phải một khuyết điểm vô cùng to lớn đó là cứ thích phóng đại, thích làm cho mọi nguyện phức tạp hẳn lên, sự việc vốn chỉ nhỏ như cây kim, đôi khi chẳng đáng để mà phải bận lo nhưng lại cứ để mãi ở trong lòng để rồi hết nghĩ đông rồi lại nghĩ tây, hết nghĩ được rồi lại nghĩ mất, nghĩ tới rồi lại nghĩ lui, đến cuối cùng thì biến thành một mớ hỗn độn, một mớ phiền não to tướng, hết mớ này đến mớ khác thi nhau lấp chiếm hết cả tâm trí của ta. Ban ngày là như thế, đến đêm đi vào giấc ngủ thì lại cũng tiếp tục lo nghĩ, tiếp tục buồn, vui, hờn giận, tiếp tục sợ hãi buồn phiền với những mớ hỗn độn đó, vậy thì ta làm sao có thể có được một giấc ngủ ngon được chứ?

Trong dân gian vẫn thường thường có một câu nói:

_ " Quẳng gánh lo đi mà vui sống".

Hai chữ "Quẳng gánh" ở đây tức là buông xuống. Mọi chuyện dù là xẩy đến với ta hay chẳng liên quan gì đến ta, ta hãy cứ đơn giản để nó là chính nó, đừng nên nghĩ ngợi lung tung, càng không nên để mãi ở trong lòng để rồi chính mình tự chuốc lấy những phiền não không đáng có. Cho nên, ngay bây giờ ta hãy tập cho mình thói quen nhìn mọi thứ một cách đơn giản, và dần buông xả những phiền não trong tâm mình. Chúng ta buông xả được một phần thì cái tâm của mình sẽ nhẹ nhàng, sẽ thanh tịnh được một phần, thì chúng ta sẽ ngủ ngon giấc được một phần, Khi chúng ta buông xả được hai phần thì cái tâm của mình sẽ thanh tịnh được hai phần, và dĩ nhiên là chúng ta sẽ ngủ ngon được hai phần. Cho đến khi trong tâm không còn những chộn rộn, những mớ hỗn độn nữa thì là nó đã đạt đến chổ thanh tịnh, lúc này chúng ta sẽ không còn cảnh mộng nữa, một giấc ngủ ngon, ngủ sâu là điều chúng ta dễ dàng có được mỗi đêm.

A Di Đà Phật!

_ Tài liệu tham khảo: Pháp ngữ của pháp sư Tịnh Không_

13/01/2022

NGƯỜI BÂY GIỜ KHÔNG HIỂU NHÂN QUẢ, KHÔNG XEM NHỮNG CUỐN SÁCH NÀY, CHO RẰNG CHẾT LÀ HẾT. CHẾT LÀ HẾT THÌ CÒN GÌ TỐT HƠN, CON NGƯỜI CẦN GÌ PHẢI CỰC KHỔ NHƯ THẾ? THỰC TẾ MÀ NÓI, HIỂU ĐƯỢC NHÂN QUẢ MỚI BIẾT SAU KHI CHẾT THẬT ĐÁNG SỢ, PHIỀN PHỨC KHÔNG THỂ TẢ!

Người có phước báo lớn như các bậc đế vương ngày xưa, họ có thể hưởng phước được bao nhiêu năm? Hưởng được mấy trăm năm, quý vị nói phước họ tích lũy được sâu dày biết bao, con cháu mấy mươi đời cũng hưởng không hết phước. Người bây giờ không hiểu nhân quả, không xem những cuốn sách này, cho rằng chết là hết. Chết là hết thì còn gì tốt hơn, con người cần gì phải cực khổ như thế? Thực tế mà nói, hiểu được nhân quả mới biết sau khi chết thật đáng sợ, phiền phức không thể tả! Nếu tạo nghiệp bất thiện thì đến địa ngục, đến ngạ quỷ để chịu tội, khi chịu hết tội lại sanh đến nhân gian để trả nợ. Nợ mạng trả bằng mạng, nợ tiền trả tiền, đến lúc đó quả là đáng thương. Giết người nhiều đọa vào đường nào? Biến thành gì? Biến thành con phù du trong cõi súc sanh, phù du là loại trùng nhỏ bơi lội trên mặt nước. Quý vị thấy nó bơi lội trên mặt nước, thọ mạng của nó chỉ có mấy tiếng đồng hồ. Vì nợ mạng người quá nhiều, giết quá nhiều người, khiến quý vị một ngày phải đền mạng một hai lần. Ngày nào cũng trả, phải trả hết nợ mà mình gây ra cho người khác, quý vị xem có đáng sợ chăng! Bởi vậy người hiểu được nhân quả thường luôn sợ hãi, không dám làm việc xấu. Quả báo quá đáng sợ, đặc biệt là tam đồ ác báo.

Từ đây chúng ta có thể thấy, phương pháp bí mật cứu tế hàng phàm phu, phương pháp bí mật đầu tiên chính là nhân quả. Đức Phật giảng về nhân quả vô cùng tận tường. Nhưng chúng ta tin rằng không phải cổ nhân sơ suất, vì Đạo giáo nói cũng đã đủ dùng. Phật giáo nói là đạo lớn, đạo lớn làm sao để liễu sanh tử xuất tam giới, làm Phật làm tổ. Nhân quả là thuộc về đạo nhỏ, những gì Đạo giáo nói là đủ, Phật giáo ở bên cạnh vỗ tay, hoan hỷ tán thán.

- Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa
HT. Tịnh Không, Tập 141.

https://ph.tinhtong.vn/

Want your school to be the top-listed School/college?

Website