Viện Công Nghệ Thông Tin Và Tự Động Hóa

Viện Công Nghệ Thông Tin Và Tự Động Hóa

Viện Công Nghệ Thông Tin và Tự Động Hóa (IIAT) được thành lập vào ngày 11 tháng 10 năm 2012 theo quyết định số 285/ĐK-KHCN của Sở KHCN.

[05/12/16]   Chương trình đào tạo Tin học B Quốc Gia
Microsoft Access ( 60 tiết)
Kỹ năng cơ bản nhất cho việc quản lý dữ liệu trên máy tính. Với kỹ năng này các học viên sẽ được rèn luyện các thao tác ban đầu để hình thành nên cơ sở dữ liệu trên máy tính. Làm quen và sử dụng thông thạo công cụ Access tạo cơ sở dữ liệu, nhập liệu, truy vấn, tạo các hình thức nhập liệu và các báo cáo từ đơn giản đến phức tạp. Tạo các macro các hàm được cung cấp sẵn để điều khiển cơ sở dữ liệu. Ngoài ra học viên được giới thiệu về ngôn ngữ SQL, ngôn ngữ nền tảng của truy vấn dữ liệu. SQL cho phép tạo ra các truy vấn phức tạp mà công cụ Query không thể làm được. SQL là ngôn ngữ nền tảng cho việc tiếp xúc với các cơ sở dữ liệu lớn và phức tạp về sau.
1. Cơ sở dữ liệu và môi trường Access.
Các khái niệm cơ bản về cơ sở dữ liệu.
Thao tác tạo mới, soạn thảo, lưu trữ, mở lại một tập tin Access.
Hệ thống menu, toolbar.
Cửa sổ cơ sở dữ liệu.
2. Tạo bảng và nhập dữ liệu.
Tạo bảng và cài đặt thuộc tính cho bảng, trường dữ liệu.
Tạo khoá cho bảng.
Tạo liên kết dữ liệu.
Nhập dữ liệu.
3. Truy vấn dữ liệu.
Tạo truy vấn dữ liệu đơn giản.
Tạo truy vấn thống kê.
Tạo truy vấn chéo, truy vấn hành động.
4. Tạo From.
Tạo form bằng Wizard.
Chỉnh sửa Form: thêm, sửa, xoá trường dữ liệu vào form.
Sắp đặt vị trí các điều khiển trên form.
5. Tạo Report.
Tạo report bằng Wizard.
Chỉnh sửa Report: thêm, sửa, xoá trường dữ liệu vào report.
Sắp đặt vị trí các điều khiển trên report.
In ấn báo cáo
6. Tạo form bằng Design View.
Tạo form bằng Design View.
Tạo sub form và liên kết với main form.
Sử dụng các điều khiển: label, textbox, combo box, check box, option group, option button, button.
Định dạng và cài đặt các điều khiển.
7. Tạo report bằng Design View.
Tạo report bằng Design View.
Phân group và điều chỉnh sắp xếp.
Định dạng và cài đặt các điều khiển.
3. Tạo và sử dụng Macro.
Tạo và sử dụng các macro để mở bảng, query, form và report.
Tạo các macro nhóm và các macro điều kiện
Tạo menu.
4. Giải một số đề thi mẫu
Cuối khóa, học viên dự thi chứng chỉ B tin học.

Lịch khai giảng tin học B tháng 05.

[04/20/16]   Hiện nay, các nhà tuyển dụng ngày càng đòi hỏi yêu cầu cao về kỹ năng tin học văn phòng và tin học quản lý. Do đó việc thành thạo kỹ năng sử dụng thành thạo tin học văn phòng sẽ giúp bạn có được lợi thế lớn khi ứng tuyển xin việc tại các công ty lớn.
Khi mà yêu cầu của nhà tuyển dung ngày cảng trở nên coi trọng và khắt khe hơn với các kỹ năng quan trọng về: Word, Execl, Powerpoint và Access,… thì đòi hỏi bắt buộc mỗi cá nhâ phải tự hoàn thiện các kỹ năng này cho bản thân.
Chính vì vậy bạn nên chuẩn bị cho mình một hành trang kiến thức cơ bản về tin học, chịu khó tìm tòi học hỏi để có thể tự tin bước ra ngoài xin việc.
Một số bạn có thể tự tìm tòi để học hỏi và sử dụng các ứng dụng về tin học văn phòng để phục vụ trong việc học tập, tuy nhiên để đáp ứng và ứng dụng được thành thạo tin học ngoài thực tế cần phải được rèn luyện một cách bài bản.
Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết đó, Trung tâm Ngoại ngữ tin học Đại học GTVT.TP HCM giới thiệu tới các bạn lớp tin học văn phòng các cấp độ Tin học A và Tin học B. Cam kết giúp các bạn theo học xử lý linh hoạt và thành thạo các công cụ trong trình soạn thảo, các thao tác trong World, Excel, Power point, Access.

GS Ngô Bảo Châu: 'Đại học Việt Nam làm ngược với thế giới'
"Việc xây dựng đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại các trường đại học ở Việt Nam đang làm ngược quy trình với thế giới ở tất cả các bước", Giáo sư Ngô Bảo Châu phân tích.
Đó là phát biểu của GS Ngô Bảo Châu khi khai mạc Hội thảo về “Cải cách giáo dục đại học" diễn ra tại Trung tâm Hoa Kỳ (TP HCM) ngày 31/7, do nhóm đối thoại giáo dục phối hợp với Lãnh sự quán Hoa Kỳ tổ chức.
GS Ngô Bảo Châu: "Việt Nam đang đi ngược với thế giới". Ảnh: Nguyễn Loan
Theo GS Ngô Bảo Châu, việc tạo nguồn nhân lực ở các đại học Việt Nam là bồi dưỡng sinh viên giỏi và đưa các em quay lại trường làm giảng viên. Trong khi đại học phương Tây hạn chế tối đa các ứng viên địa phương này.
“Đó là tư duy cũ kỹ, sai lầm vì việc tạo nguồn như vậy mang tính chủ quan, ưu tiên người mình đào tạo, không chủ động đi tìm nguồn khác, dẫn đến thiếu tính cạnh tranh. Một nhà khoa học trẻ ở Việt Nam hầu như không có lựa chọn khác ngoài tiếp tục làm ở nơi ông thầy hướng dẫn. Như vậy anh ta đánh mất đi cơ hội phát triển, sự độc lập khoa học với người thầy hầu như không có”, ông Châu nêu quan điểm.
Ngoài ra, GS Ngô Bảo Châu cho rằng, quy trình tuyển chọn cán bộ giảng dạy ở đại học Việt Nam mang nặng tính hành chính, theo quy trình tuyển chọn công chức, viên chức nhà nước mà không có tính đặc thù của môi trường hàn lâm. Trong khi đại học phương Tây, tiêu chí hàng đầu là khả năng nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó, việc bổ nhiệm giáo sư ở nước ta phụ thuộc vào một cơ quan cấp nhà nước.
“Gần đây, Hội đồng chức danh chỉ công nhận chức danh giáo sư, còn việc bổ nhiệm do các trường thực hiện. Tuy nhiên, tôi nghĩ nó còn phức tạp, các trường vẫn không thực sự được bổ nhiệm giáo sư. Không bổ nhiệm được một 'ông tướng' thì không thể tự chủ khoa học được”, GS Ngô Bảo Châu nói.

Còn về chế độ thu nhập, theo ông Châu, đây là vấn đề phức tạp, cá nhân ông không tìm ra lời giải đáp thấu đáo. “Lương giảng viên về mặt định lượng rất thấp đã đành, về cơ chế cũng rất cứng nhắc đưa đến sự phức tạp, thiếu minh bạch. Các giảng viên phải được hưởng chế độ đãi ngộ của tầng lớp trung lưu. Trong khi mức lương cố định hiện nay không phản ánh được điều đó”, GS Ngô Bảo Châu nói và đề xuất lấy thu nhập cán bộ khoa học giảng dạy làm tiêu chí để đánh giá, xếp hạng các trường đại học.
Cuối cùng, GS Ngô Bảo Châu nói về việc sử dụng nhân lực cao cấp. Ông dẫn chứng một GS nước ngoài nổi tiếng tự nguyện qua Việt Nam làm việc nhưng không được bất kì ưu đãi nào. Trong khi, các đại học Trung Quốc có một nguồn kinh phí lớn để khuyến khích, mời các giáo sư nước ngoài đầu ngành nghỉ hưu qua làm việc trong 3 hoặc 6 tháng.
Các đại biểu trao đổi bên lề cuộc hội thảo. Ảnh: Phan Linh
Hội thảo cũng dành nhiều thời gian để trao đổi về vấn đề quản trị và tự chủ trong các trường ĐH ở Việt Nam. Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Bùi Văn Ga cho rằng, Luật Giáo dục đại học đã giao cho các trường quyền tự chủ rất cao nhưng lãnh đạo các trường còn dè dặt trong việc thực hiện quyền tự chủ, chưa thoát được tư duy bao cấp.

Đồng ý với ý kiến này, song Bộ trưởng Khoa học và công nghệ Nguyễn Quân cho rằng, ngoài tư duy bao cấp còn do yếu tố cản trở từ cơ chế. Theo đó các trường luôn thuộc Bộ chủ quản, kinh phí cấp qua Bộ chủ quản thì không bao giờ tự chủ được. Không có tự chủ tài chính thì mọi tự chủ khác chỉ là hình thức.
“Ở một đất nước mà tôi hoặc anh Phạm Vũ Luận (Bộ trưởng Bộ Giáo dục) không ký được lương cho anh Ngô Bảo Châu là điều rất kì lạ. Lẽ ra lương của anh Châu phải do anh quyết định vì anh ấy là một Viện trưởng nghiên cứu cao cấp về Toán…”, ông Quân đưa ví dụ. Sau khi quay ra hỏi hệ số lương của GS Ngô Bảo Châu, ông Quân nói: “Lương hệ số 10 bằng lương bộ trưởng, nhưng các thầy ở đây bảo hệ số 10 sao đủ sống. Lương của một giáo sư mà các cơ sở và đến cả cấp bộ cũng không quyết định được thì nói gì đến cơ chế tự chủ”.
Ông Quân cũng cho biết, Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 và Nghị định của Chính phủ đã yêu cầu Bộ Nội vụ giao biên chế nghiên cứu viên cho các đại học (hiện các đại học chỉ có biên chế giảng dạy).
“Chúng tôi đề xuất nhưng Bộ Nội vụ trả lời rất lạnh lùng rằng là chỉ giao biên chế theo đúng luật công chức và viên chức, không giao biên chế nghiên cứu từ năm 2003. Nhưng Luật Khoa học và công nghệ ra đời sau phải có hiệu lực hơn những luật ra đời trước. Bộ Nội vụ không giao biên chế nghiên cứu, làm sao Bộ Tài chính có căn cứ để cấp kinh phí cho các nhà nghiên cứu ở các trường đại học”, ông Quân băn khoăn.
Theo người đứng đầu ngành Khoa học, làm được cơ chế tự chủ cho đại học là một con đường chông gai và gian nan. Một mình Bộ Giáo dục không làm được mà đây là trách nhiệm của nhiều bộ và nếu không có hệ thống luật pháp đầy đủ, thông thoáng thì không làm được.
Các đề xuất của GS Ngô Bảo Châu về xây dựng đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu khoa học:
Quyết định của Hội đồng tuyển dụng cần được hiệu trưởng phê duyệt trên cơ sở báo cáo của Hội đồng khoa học và thư giới thiệu đến từ bên ngoài. Quyết định tuyển dụng và lý lịch khoa học của những người được tuyển phải được công bố công khai.
Lấy việc bổ nhiệm giáo sư làm trọng tâm cho việc thực hiện tự chủ khoa học của các trường đại học. Nhận thức rộng rãi giáo sư là một vị trí công tác chủ chốt, chứ không phải là một phẩm tước danh dự.
Nới lỏng hệ thống thu nhập: bên cạnh thu nhập thông thường theo thang lương công chức, cán bộ khoa học giảng dạy có thể được hưởng thu nhập đặc biệt với nguồn từ trong và ngoài ngân sách, do các trường đại học chủ động quyết định.
Trong kế hoạch đầu tư xây dựng trường, bên cạnh đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cần chuẩn bị kinh phí để đầu tư xây dựng đội ngũ nghiên cứu và giảng dạy.
Thiết lập cơ chế và chính sách để “tận dụng nhân lực thời vụ cao cấp”. Lấy thành tích xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ nghiên cứu giảng dạy để đánh giá năng lực lãnh đạo trường đại học. Lấy thu nhập cán bộ khoa học giảng dạy làm một tiêu chí để đánh giá, xếp hạng các trường đại học

[07/25/14]   Có lẽ chúng ta đều biết rằng kiến thức phổ thông chỉ dùng để nâng cao tính tư duy và làm nền tảng để ta có thể tiếp thu tốt chương trình đại học (ĐH). Vậy mà xã hội (XH) hiện nay hình như lại quá chú trọng vào phần này mà sao lãng phần quan trọng hơn?

Ngay từ khi rời lớp mẫu giáo nhiều em học sinh bị buộc phải đi học thêm. Rồi thì tình trạng chạy trường chạy lớp và nói chung càng lên cao mật độ học thêm càng dày đặc.

Mục đính chính của các em học sinh phổ thông là được học ĐH và học tiếp lên cao, nhưng đến khi vào được ĐH rồi thì XH và bản thân nhiều em hình như lại bỏ rơi cấp học này. Mặc dù rõ ràng đây mới là cấp học chính, là cái cần câu cơm, học để có kiến thức nghề. Sau này kiếm tiền cả đời chủ yếu nhờ vào cấp học này đây.

Tôi là giảng viên cũng có đã nhiều năm kinh nghiệm nên tôi biết những em học giỏi hồi cấp 3 chưa chắc vào ĐH đã học giỏi. Thậm chí có những em thủ khoa đầu vào, nhưng khi vào ĐH lại nợ môn liên tiếp. Phải chăng chúng ta đã có “con mắt lệch lạc” về vấn đề học tập của giới trẻ?

Đấy các bạn xem, phải luyện thi toát mồ hôi trẻ mới vào được lớp 1. Phụ huynh nhiều khi phải chạy chọt ngược xuôi thì con mới học được cấp 2, cấp 3. Nói chung học sinh phải ôn luyện liên tục 12 năm để rồi vào ĐH, nhưng ra trường nhiều khi lại… thất nghiệp (!?)

Trường học ở các cấp 1, 2, 3 gần như lúc nào cũng quá tải. Còn không ít trường cao đẳng, ĐH hiện nay phải mời gọi mà vẫn không có mấy học sinh theo học. Vậy liệu bộ GD&ĐT đã chọn được hướng đi đúng đắn chưa?

Lật lại vấn đề, tại sao khi học phổ thông đa số học sinh luôn nỗ lực để đạt được ước mơ là đỗ ĐH, thế mà vào được ĐH rồi thì nhiều em lại bỏ bê học hành?

Theo tôi, vấn đề là ở chỗ các em đã ước mơ chưa đúng. Các em cần ước mơ dài hơn 1 chút chứ đừng dừng lại ở việc đỗ ĐH, khi đạt được ước mơ rồi thì các em đâu còn động lực để phấn đấu nữa?

Muốn vào ĐH thì khó, chứ ra thì cũng không khó lắm. Vậy là sinh ra tâm lý chủ quan, tâm lý ảo tưởng rằng mình đã đỗ thủ khoa thì mình sẽ học tốt ở ĐH. Lại có cả tâm lý rằng mình có tấm bằng ĐH thì mình phải làm… sếp, ra trường lương cao rồi giàu có, sẽ có thể phụng dưỡng cha mẹ...

Việt Nam có cả trăm trường ĐH cũng có nghĩa là có cả trăm thủ khoa, có cả những thủ khoa chỉ đỗ với hơn 20 điểm, thậm chí còn thấp hơn. Vậy có nên viết quá nhiều về các em không? Tôi nghĩ điều đó chưa chắc đã tốt cho các em đâu.

Bản thân tôi đã từng dạy qua khá nhiều thủ khoa, nhưng tôi chưa bao giờ phân biệt em ấy là thủ khoa hay không là thủ khoa. Và khi vào trường ĐH rồi thì mong các em cũng đừng “ngủ quên” trên chiến thắng.

Tóm lại, đạt thủ khoa ĐH cũng chỉ là một đích đến ngắn hạn mà thôi. Cái chúng ta cần là cái đích cuối cùng kìa.

Chúc các thủ khoa học tốt trong ĐH và ra trường phát triển được sự nghiệp. Đừng để việc đỗ thủ khoa ĐH là cái đích đến cuối cùng nhé !!!

Mai Văn Chiến

Toán lớp 3........

[07/16/14]   Tính hết ngày 15.7, Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM đã chấm xong khoảng trên 40% bài thi môn toán. Tiến sĩ Nguyễn Văn Thư, Hiệu trưởng nhà trường, cho biết trường mới chỉ có hai bài thi môn toán đạt điểm 9, chưa có điểm 10. Trong số này, có khoảng 40% bài thi đạt từ điểm 5 trở lên. Số bài thi có phổ điểm nhiều nhất từ 5 - 6 điểm, điểm 7 và 8 chỉ thưa thớt. Dù vậy, theo tiến sĩ Thư nhìn chung điểm thi năm nay lạc quan hơn so với năm 2013.

[07/16/14]   Xu hướng giáo dục đại học: Những biến đổi lớn
Với 2 tỉ người dùng Internet hiện nay, mỗi ngày có 250 tỉ email được gửi đi, mỗi tháng có 100 tỉ tìm kiếm thực hiện trên Google search. Trong hai năm qua, chúng ta tạo ra một khối lượng dữ liệu bằng toàn bộ lịch sử loài người trước đây đã tạo ra, và khối lượng này tăng gấp đôi mỗi chu kỳ 18 tháng.
Mạng xã hội và Internet đã xóa tan mọi biên giới, phá vỡ khái niệm về học tập và làm việc. Mua hàng, kết bạn, làm việc, tìm thông tin, gắn kết với xã hội, liên lạc với toàn thế giới, lấy chứng chỉ... tất cả chỉ cần qua một màn hình.
Trong cơn lốc ấy, bản đồ GDĐH cũng đang thay đổi cực nhanh. Hệ thống GDĐH các nước trong tương lai sẽ phát triển như thế nào?
Hậu đại chúng hóa
Trong thập kỷ qua, chúng ta đã nghe nói nhiều về đại chúng hóa GDĐH, chấm dứt thời GDĐH là đặc quyền của một tầng lớp tinh hoa.
Trong vòng 20 năm qua, GDĐH đã mở rộng ở một quy mô chưa từng có tiền lệ: Trung Quốc hiện có 29 triệu sinh viên ĐH và là hệ thống lớn nhất thế giới hiện nay, trong khi năm 1998 chỉ có 6 triệu sinh viên, tỉ lệ dân số vào ĐH trong độ tuổi tăng gần bốn lần, từ 7%-25% trong vòng 15 năm, ở một số thành phố lớn tỉ lệ này là trên 80%.
Ấn Độ có 11 triệu sinh viên, lớn thứ ba trên thế giới. Ở Việt Nam, mức tăng cũng không kém ấn tượng: từ 893.754 sinh viên (năm 1999) tăng đến 2.177.299 (năm 2013), tức 2,43 lần trong vòng 14 năm. Tỉ lệ vào ĐH trong độ tuổi hiện rất cao ở một số nước: Hàn Quốc đạt đến gần 100%.
Trên phạm vi toàn cầu, nếu năm 1960 tổng số sinh viên tất cả các nước là 13 triệu thì năm 1995 là 82 triệu, năm 2011 là 200 triệu (Philip G. Altbach, 2012).
Động lực thúc đẩy đại chúng hóa GDĐH là sự phát triển của kinh tế tri thức toàn cầu hóa. Chính phủ các nước và từng cá nhân đều ý thức rõ tri thức tạo ra của cải, tạo ra tăng trưởng kinh tế và làm thay đổi thang bậc xã hội.
Nhưng rất nhanh, ta đang bước vào thời kỳ hậu đại chúng hóa GDĐH. Sở dĩ như vậy là vì đại chúng hóa GDĐH kéo theo nguồn lực công dành cho GDĐH suy giảm trên toàn thế giới, hậu quả là tư nhân hóa và khu vực GDĐH vì lợi nhuận ngày càng tăng trưởng, hầu hết hệ thống GDĐH các nước, nhất là các nước đang phát triển có mức tăng trưởng quá nóng, đều phải tái cấu trúc.
Các bảng xếp hạng ĐH toàn cầu phản ánh nhu cầu cạnh tranh trên bản đồ tri thức, mà thực chất là bản đồ địa chính trị, đã thúc đẩy các nước có ý thức xây dựng một hệ thống phân tầng, trong đó chỉ một số ít trường được đầu tư mạnh để trở thành những trường ĐH nghiên cứu theo mô hình tinh hoa.
Xếp hạng đã tạo ra một nỗi ám ảnh cho chính phủ các nước và lãnh đạo các trường trong hai thập kỷ qua, chi phối lịch trình chính sách và cách sử dụng nguồn lực của chính phủ các nước cũng như định hình cách xử sự của giới quản lý, giới giảng viên các trường.
Mãi cho đến gần đây, người ta mới bắt đầu nhận ra xếp hạng là một trò chơi chỉ thích hợp cho một số rất ít trường ĐH, không nên để nó trở thành một động lực làm lệch hướng sứ mạng thật sự của các trường, khiến họ chạy theo những thước đo về sự ưu tú thay vì theo đuổi sự ưu tú thật sự.
Đầu tư công cho GDĐH ở các nước phát triển đang giảm. Sự tham gia của khu vực tư nhân vào GDĐH ngày càng nổi bật, nhất là ở châu Á, cho thấy tỉ lệ trường tư và sinh viên trong các trường tư trên tổng số sinh viên và tổng số trường.
Ví dụ, 78% sinh viên ở Hàn Quốc đang học ở trường ĐH tư và tỉ lệ trường ĐH tư ở nước này là 87%, con số tương tự ở Nhật là 77% và 86%, Philippines là 81% và 75%, Indonesia là 96% và 71%, Việt Nam là 14% và 19%. Ngay ở các trường công lập, sự tham gia của nguồn lực tư nhân cũng ngày càng lớn, dưới hình thức hiến tặng, hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ sáng nghiệp...
Người ta phải tự hỏi nếu một trường công vận hành với 10% ngân sách do chính phủ cấp thì liệu có còn là trường công? (John Aubrey, 2014). Hoặc đang có những trường được vận hành bằng 100% kinh phí nhà nước nhưng do tư nhân điều hành hoàn toàn (charter school ở Hoa Kỳ).
Sự tham gia ngày càng nhiều của khu vực tư và sự phát triển của giáo dục xuyên biên giới, việc các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đào tạo bước vào thị trường GDĐH... đang đặt ra những tranh cãi gay gắt.
Liệu các trường có thể được xem là, hay được đối xử như một doanh nghiệp kinh doanh tri thức giống như những doanh nghiệp khác? Liệu có giới hạn nào mà việc kinh doanh giáo dục phải tuân thủ? Mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp có được chấp nhận đối với trường ĐH, và nếu không thì vì sao?
Sự thay đổi của trường ĐH thời hậu đại chúng hóa
Trường ÐH theo mô hình tinh hoa Thời kỳ đại chúng hóa GDÐH Hậu đại chúng hóa GDÐH
Nhân vật chính Giáo sư Các nhà quản lý nhà trường và quản lý hệ thống GDÐH Sinh viên
Ðịnh hướng giá trị Sự ưu tú Ðảm bảo chất lượng Sự hài lòng của sinh viên
Từ khóa Tự do học thuật Quản lý Trải nghiệm ÐH
Vai trò của giới hàn lâm Nghiên cứu > giảng dạy > quản lý Nghiên cứu = giảng dạy = quản lý Nghiên cứu < giảng dạy = quản lý
• Sản xuất tri thức mới thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học
• Khoa học cơ bản được xem trọng hơn khoa học ứng dụng
• Gắn kết giảng dạy và nghiên cứu
• Khoa học ứng dụng được xem trọng hơn khoa học cơ bản • Từ chỗ giảng dạy tới chỗ tạo ra môi trường học tập và trải nghiệm cho sinh viên
• Nghiên cứu phát triển được xem trọng hơn cả nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu cơ bản
Nguồn: J.C. Shin, Te Scholarship of Teaching, Research, and Service, pp.75-83, The Future of the Post-Massified University at the Crossroads, Knowledge Series in Higher Education vol. 1, 2014, Springer.
Từ truyền đạt tri thức trở thành môi trường trải nghiệm
Với Internet và Google, nhà trường không còn là nơi chủ yếu cung cấp kiến thức cho sinh viên như nó từng là trong bao nhiêu thế kỷ qua nữa. Laptop, iPhone, iPad, giáo dục trực tuyến mở đại trà chứa đựng những thông tin và kiến thức nhiều hơn bất kỳ ông thầy nào trong bất cứ lĩnh vực chuyên ngành nào. Sinh viên không cần đến trường để tích lũy kiến thức và hiểu biết trong các lĩnh vực chuyên ngành.
Nếu nhà trường không thay đổi, tức vẫn giữ lối học thầy giảng - trò chép và đánh giá kết quả bằng cách kiểm tra những kiến thức người học có thể nhớ được, quả thật nó không còn lý do để tồn tại vì bất cứ ai, với một máy tính nối mạng, đều có thể có được những kiến thức đó mà không cần đến nhà trường và không cần đến thầy giáo.
Nhà trường hiện đại đang trở thành một môi trường trải nghiệm nhằm mang lại cho sinh viên những phẩm chất và kỹ năng đáp ứng được đòi hỏi của thời đại hậu công nghiệp hóa.
Nếu thời đại công nghiệp tiêu biểu bằng sự phân công lao động, nhiệm vụ giao cho từng cá nhân, các bổn phận được chuyên môn hóa cao độ, bổ nhiệm dựa trên uy tín và tổ chức cấu trúc mang tính thứ bậc thì thời kỳ hậu công nghiệp đặc trưng bằng những giải pháp tổng thể, bằng cách làm việc nhóm, bằng những tri thức chuyên môn phối hợp giữa các lĩnh vực khác nhau, bằng sự tương tác chủ yếu giữa người với người, bổ nhiệm dựa trên năng lực, hiệu quả, triển vọng và tổ chức mang tính chất linh hoạt.
Kiến thức, nhất là kiến thức lý thuyết, chỉ chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ năng lực mà người lao động tri thức cần có. Ngoài kiến thức là năng lực tư duy phê phán, khả năng lập luận và sử dụng ngôn ngữ nói và viết, kỹ năng đánh giá và nhận xét tinh tế, sử dụng thành thạo những công cụ nghe nhìn, có ý thức công dân, sự am hiểu những nền văn hóa khác và thái độ khoan dung đối với sự khác biệt, có khả năng làm việc nhóm, biết cách giao tiếp, thương lượng và xử lý mâu thuẫn.
Những năng lực này chỉ có thể có được thông qua trải nghiệm. Vì vậy, một nhiệm vụ trọng yếu của trường ĐH ngày nay là tổ chức những hoạt động nhằm tạo ra một bối cảnh, một khuôn khổ có thể gắn kết sinh viên vào những tình huống giúp họ trải nghiệm để trưởng thành về tâm lý, trí tuệ và kỹ năng. Những hoạt động đó có thể là các dự án phục vụ cộng đồng, giao lưu với sinh viên quốc tế hoặc sinh viên trường khác hay khoa khác, các cuộc thi hùng biện...
Nếu nhà trường thành công trong việc mang lại những trải nghiệm có giá trị này cho sinh viên, họ sẽ làm sinh viên của họ khác hẳn những người không được đến trường, biến nhà trường từ chỗ sinh viên buộc lòng phải đến và phải hoàn thành một số việc để lấy được tấm bằng trở thành chỗ tràn đầy hứng thú và trải nghiệm đặc biệt. Những sinh viên ấy sẽ mang các trải nghiệm này vào đời, sẽ làm thay đổi bộ mặt nơi họ làm việc, qua đó nhà trường tạo ra tác động thay đổi xã hội.
Một điểm cần lưu ý khác, trọng tâm của nhà trường hiện đại đã chuyển từ chỗ truyền đạt tri thức sang huấn luyện kỹ năng và xây dựng năng lực trong thập kỷ qua, nay tiếp tục chuyển thành gắn kết với cộng đồng (địa phương và toàn cầu). Thế giới ngày nay nếu có thể được miêu tả vắn tắt trong hai từ thì đó là từ tương liên (interconnected) và tương thuộc (interdependent).
Hơn bao giờ hết, thành công của mỗi cá nhân và sự phát triển lành mạnh của xã hội phụ thuộc sâu sắc vào năng lực gắn kết với cộng đồng và hiểu rõ mối quan hệ tương liên và tương thuộc giữa các cá nhân, các tổ chức và các quốc gia. Vì vậy, những biến đổi trong khoa học công nghệ dẫn đến những biến đổi trong cách con người tương tác với nhau và do đó quan niệm về trường ĐH, lý do cho sự tồn tại của nhà trường và cách thức mà nhà trường tồn tại cũng phải thay đổi để đáp ứng với thực tại ấy.
Hẳn nhiên từ bỏ ý nghĩ nhà trường phải “nhào nặn” sinh viên trở thành một sản phẩm với những yêu cầu đã định, phải kiểm soát tư tưởng và hành động của họ để họ không có những hành vi nguy hiểm chắc chắn là điều không dễ dàng. Tuy nhiên, công nghệ hiện đại đã làm ý định nhào nặn và kiểm soát ấy trở thành bất khả, vì vậy cách khôn ngoan nhất đối với nhà trường là xây dựng những chiến lược đáp ứng với bối cảnh ấy.
Một số trường ĐH hàng đầu như Harvard đang khuyến khích sinh viên có một học kỳ cách quãng trong bốn năm học, một học kỳ mà họ có thể làm bất cứ điều gì, chỉ trừ việc đến giảng đường và ngồi trong thư viện. Khi ý tưởng này được trình bày ở một trường ĐH hàng đầu Trung Quốc đã có người lập tức bày tỏ băn khoăn: “Nghe hay đấy! Nhưng chúng tôi phải yêu cầu họ nộp đề xuất rồi sau đó phải viết báo cáo, nếu không thì ai biết họ sẽ làm gì với một học kỳ rong chơi như thế?”.
Có thể nói người phát biểu đã không nắm được ý nghĩa của sáng kiến này - vốn nhắm tới việc tạo ra không gian để sinh viên trưởng thành theo cách thích hợp với từng người. Như một mầm cây bỏ vào trong hộp, nó chỉ có thể lớn lên trong khuôn khổ cái hộp ấy. Điều nhà trường hiện đại cần làm không phải là tạo ra cái hộp ấy, mà là cho hạt mầm một khoảng không đủ rộng và tưới bón để nó nảy nở hết mức có thể.

(PHẠM THỊ LY)

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Address


Đường D3
Ho Chi Minh City
08
Other Education in Ho Chi Minh City (show all)
ArchiLib ArchiLib
Ho Chi Minh City, 700000

Thư viện kiến trúc

Đồ chơi công nghệ thông minh Đồ chơi công nghệ thông minh
Ho Chi Minh City, 0909276302

Chuyên mua bán thiết bị, cung cấp các giải pháp về an ninh. Camera wifi, chống trộm độc lập...

Mỹ phẩm Úc,Nga,Pháp Mỹ phẩm Úc,Nga,Pháp
700 Quoc Lo 13,Thu Duc
Ho Chi Minh City, 84

The Asian Contest of Architectural Rookie's Award, Vietnam The Asian Contest of Architectural Rookie's Award, Vietnam
196 Pasteur, Phường 6, Quận 3
Ho Chi Minh City

Cuộc thi Tài Năng Trẻ sinh viên Kiến Trúc Buổi tuyển chọn sinh viên Việt Nam 2015 Đại Học Kiến Trúc Tp.Hồ Chí Minh

Certified Hospitality Educator Certified Hospitality Educator
9A – 9B Thi Sach Street, Ben Nghe Ward, District 1
Ho Chi Minh City

C.TY Văn Hóa Nhật Linh C.TY Văn Hóa Nhật Linh
300/23/2 Nguyễn Văn Linh, F. Bình Thuận, Quân 7
Ho Chi Minh City

Đồng hành cùng những giá trị văn hóa - nghệ thuật. Hãy lên đường! http//www.vanhoanhatlinh.com

ARFQuant Consulting ARFQuant Consulting
68 Nguyễn Huệ, P.Bến Nghé
Ho Chi Minh City, 0007

ARFQuant (Actuarial science- Risk management – Finance - Quantitative) là công ty tư vấn được thành lập từ sự hợp tác của các chuyên gia đến từ châu Âu

Khóa Học Lập Dự Toán Công Trình Xây Dựng Tại TPHCM Khóa Học Lập Dự Toán Công Trình Xây Dựng Tại TPHCM
Phòng D3 Tầng 3 Tòa Nhà Hà Đô, 18 Phan
Ho Chi Minh City, 700000

- Khóa học bóc tách khối lượng trên bản vẽ xây dựng và Lập dự toán dự thầu công trình - Học thực hành 100% trên bản vẽ thực tế - Cam kết học là làm được

Quỹ Học Bổng Du Học Ellacy Quỹ Học Bổng Du Học Ellacy
Trung Tâm Phát Triển GD & ĐT, Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo 3 Công Trường Quốc Tế, Phường 6, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh City

EGE là tổ chức giáo dục có trụ sở tại Mỹ, văn phòng tại Việt Nam & các quốc gia khác, với mục tiêu đem các chương trình giáo dục và học bổng hấp dẫn cho học sinh

Mua bán oto cũ tphcm-01283499814 Mua bán oto cũ tphcm-01283499814
Go Vap
Ho Chi Minh City, 84

Mua bán oto cũ tphcm-01283499814 Mua bán oto cũ tphcm-01283499814 Mua bán oto cũ tphcm-01283499814 Mua bán oto cũ tphcm-01283499814 Mua bán oto cũ tphcm

Trường Dạy Nghề Phục Vụ Bàn Việt Úc Trường Dạy Nghề Phục Vụ Bàn Việt Úc
402 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, Quận 3,
Ho Chi Minh City, 700000

Phục vụ bàn - Trường dạy phục vụ bàn VAAC là đơn vị dẫn đầu đào tạo chuyên ngành nghiệp vụ nhà hàng khách sạn.

Tin tức Tuy Hòa - Phú Yên Tin tức Tuy Hòa - Phú Yên
71 Nguyễn Văn Qúa, Phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, Thành Phố Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh City, 620000

GIA SƯ TRÍ TUỆ VIỆT Khơi Nguồn Tài Năng Việt