Khóa Học Nghiệp Vụ Hướng Dẫn Viên Du Lịch

Khóa Học Nghiệp Vụ Hướng Dẫn Viên Du Lịch

ĐÀO TẠO CẤP CHỨNG CHỈ NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH

ĐÀO TẠO CẤP CHỨNG CHỈ NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH

Mission: Lớp nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch

Photos from Khóa Học Nghiệp Vụ Hướng Dẫn Viên Du Lịch's post

TỔNG QUÁT NAM CÁT TIÊN

Với hệ động thực vật đa dạng còn giữ nguyên vẹn tính tự nhiên, cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, là nơi lưu lại nhiều dấu tích cổ xưa, Nam Cát Tiên ngày càng trở thành khu du lịch sinh thái lý tưởng ở miền Đông Nam bộ.
Tạm lùi xa những bộn bề công việc, thoát khỏi những tiếng ồn ào, không khí ô nhiễm của Sài Gòn nhộn nhịp, bạn và gia đình hãy cùng nhau khám phá vẻ đẹp hoang sơ đến ngỡ ngàng, tận hưởng khí trời thoáng đãng trong tiếng chim rừng lảnh lót của Nam Cát Tiên nhé!

Vườn quốc gia Nam Cát Tiên là khu bảo tồn thiên nhiên nằm gọn trong đoạn uốn khúc của sông Đồng Nai, tọa lạc trên ranh giới của 3 tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng và cách TP.HCM 150km về phía Bắc. Khu rừng Nam Cát Tiên là phần chót và cao nhất của huyện Tân Phú (Đồng Nai), có diện tích 36.000ha, đại diện cho cả hệ thực vật và động vật Nam bộ.

Nam Cát Tiên được bao bọc bởi một nhánh của sông Đồng Nai - ranh giới tự nhiên giữa nơi đây với thế giới xung quanh - vì vậy du khách phải băng qua sông để vào được rừng. Một cảnh tượng hoang sơ cùng những cây gỗ lớn, dây leo chằng chịt bên mé sông đập vào tầm mắt du khách ngay từ phút đầu tiên. Bầu không khí trong lành, mát mẻ đến diệu kỳ, muôn loài gọi nhau ở đâu đó xa xa vọng lại… khiến du khách quên đi mệt mỏi, quên đi khói bụi, quên đi nhịp sống hối hả ồn ào nơi phố thị.

Khu rừng có cảnh thiên nhiên rất đa dạng: vừa có đồi vừa có bãi ven sông, vừa có các trảng cỏ rộng lớn bằng phẳng, lại có các dòng chảy dốc. Vào mùa mưa, các dòng suối hiền lành trở thành các dòng thác, nước đổ trắng xóa trên các triền đá lớn. Nhiều đoạn thác quanh co, lượn khúc tạo ra những bãi cát vàng rộng như các bãi tắm tự nhiên. Giữa dòng sông rộng lớn nổi lên các hòn đảo chạy dài theo con nước.

Trên đảo, cây cổ thụ mọc xen với cỏ rộng có thể làm nơi cắm trại, đốt lửa đêm lý tưởng. Ven sông, theo lộ chính về phía tay trái là toàn bộ các kiểu rừng già, hỗn giao của các loại cây quý: gõ, giáng hương, trắc, cẩm lai, gụ... Rừng bằng lăng nơi đây được coi là một trong những khu rừng bằng lăng nguyên sinh. Đầu mùa khô, rừng bằng lăng chuẩn bị thay lá, chuyển dần từ những lá xanh sắp rụng sang màu đỏ tạo nên khung cảnh tuyệt đẹp.

https://www.topdulichtrainghiem.com/2020/01/tong-quat-nam-cat-tien.html?m=1

[01/10/20]   TỔNG QUAN ĐÀ LẠT

Đà Lạt là một thành phố trực thuộc tỉnh và tỉnh lị tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Lâm Viên, ở độ cao 1500 m so với mặt nước biển và diện tích tự nhiên: 393,29 km². Thành phố Đà Lạt nằm trong cao nguyên Lang Biang, phía Bắc tỉnh Lâm Đồng, Về phía Bắc, Đà Lạt giáp với huyện Lạc Dương, về phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Đơn Dương, về phía Tây và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm Hà và Đức Trọng. Hàng trăm năm trước đây, Đà Lạt là địa bàn cư trú của người Lạch, hay toàn bộ cao nguyên Lang Biang, diện tích hơn 400 km², bao bọc bởi các đỉnh núi cao và dãy núi liên tiếp: Phía Bắc và Tây Bắc giới hạn bởi dãy Chorơmui, Yộ Đa Myut (1.816 m), Tây Bắc dựa vào chân dãy núi Chư Yang Kae (1.921 m), thuộc quần sơn Lang Biang mà đỉnh cao nhất là Chư Yang Sinh (1.408 m). Phía Đông là chân dãy núi Bi Doup (2.278 m) dốc xuống cao nguyên Dran. Phía Đông Nam chắn bởi dãy Cho Proline (1.629 m). Phía Nam và Tây Nam có dãy núi Voi (1.754 m) và Yàng Sơreng bao bọc. Do ảnh hưởng của độ cao và rừng thông bao bọc, Đà Lạt mang nhiều đặc tính của miền ôn đới. Nhiệt độ trung bình 18—21°C, nhiệt độ cao nhất chưa bao giờ quá 30°C và thấp nhất không dưới 5°C.
Ở đâu?

Đôi nét về lịch sử
Ngày 3 tháng 8 năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin thực hiện chuyến thám hiểm đầu tiên với ý định tìm đường núi từ Nha Trang vào Sài Gòn, nhưng chuyến đi này bất thành. Từ 28 tháng 3 đến 9 tháng 6 năm 1892, Yersin thực hiện một cuộc thám hiểm từ Nha Trang, băng qua vùng cao nguyên Đắk Lắk để đến Stung Treng, nằm bên bờ sông Mê Công (thuộc địa phận Campuchia).
Tháng 1 năm 1893, Yersin nhận nhiệm vụ từ toàn quyền Jean Marie Antoine de Lanessan, khảo sát một tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên sâu vào vùng người Thượng và kết thúc ở một địa điểm thuận lợi trên bờ biển Trung Kỳ. Yersin còn phải tìm hiểu về tài nguyên trong vùng: lâm sản, khoáng sản, khả năng chăn nuôi… Từ ngày 8 tháng 4 đến ngày 26 tháng 6 năm 1893, Yersin đã thực hiện ba chuyến đi quan trọng. Và 15h30 ngày 21 tháng 6, Yersin đã phát hiện ra cao nguyên Lang Biang, trong nhật ký hành trình, ông ghi vắn tắt “3h30: grand plateau dénudé mamelonné” (3h30: cao nguyên lớn trơ trụi, gò đồi nhấp nhô).

https://www.topdulichtrainghiem.com/2020/01/tong-quan-lat.html?m=1

[01/08/20]   VỀ NGUỒN GỐC NGUYÊN BẢN CỦA GẠCH VÀ NGÓI NHÀ THỜ CHÍNH TÒA ĐỨC BÀ

Nếu căn cứ vào thông tin được phổ biến rộng rãi hiện nay trong các tài liệu và thông tin truyền thông, như một điều hiển nhiên, đa số chúng ta đều tin rằng: “Mọi vật liệu từ xi măng, sắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang. Đặc biệt, mặt ngoài của công trình xây bằng loại gạch đặt làm tại Toulouse (Pháp), để trần, không tô trát, không bám bụi rêu mà đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi” (Trích wikipedia)

Xuất phát từ căn cứ này, như bài phân tích trước chúng tôi đã trình bày, nên quan điểm trùng tu ngay từ đầu của Ban Trùng tu Nhà thờ Chính tòa Đức Bà do Tòa Tổng Giám mục TP.HCM bổ nhiệm (Ban Trùng tu) là phải tìm mua được tất cả các vật tư sử dụng cho công trình từ Pháp, do chính các thương hiệu cách đây 140 năm cung cấp nhằm đảm bảo đúng nguyên bản cho công trình.
Tuy vậy, khi hạ giải lớp mái ngói để thay mới, và qua khảo sát thực tế chi tiết tại công trình, đã hé lộ những loại vật liệu khác nhau làm nghi ngờ nguồn gốc xuất xứ của các loại vật liệu từ trước đến nay như đã nêu trên. Đặc biệt là hai loại vật liệu gạch và ngói.

Đến thời điểm hiện nay, qua quá trình hạ giải, trên mái Nhà thờ Đức Bà đã phát lộ đến 24 loại ngói. Đây là điều đặc biệt thú vị và hiếm thấy ở một công trình tôn giáo đã tồn tại 140 năm. Trước đó vào tháng 7/2015, qua công tác khảo sát kiểm định chọn mẫu ngẫu nhiên do một vị giáo sư tiến sĩ rất có uy tín chủ trì thực hiện, cũng đã phát hiện ít nhất 6 loại ngói, và đã có một kiến nghị rất có lương tâm và cẩn trọng của người làm công tác chuyên môn: “Việc xác định loại ngói nào nguyên trạng cần được thực hiện bởi chuyên gia trùng tu”.

Căn cứ vào 24 loại ngói được phát lộ trên mái Nhà thờ Đức Bà, nhóm nghiên cứu xin được tạm thời phân loại các ngói cổ vật theo nguồn gốc xuất xứ như sau:

1. Ngói nội, là các loại ngói có xuất xứ tại Việt Nam hoặc do thương nhân nước ngoài sản xuất tại Việt Nam, bao gồm:

- Ngói Wang-Tai, gồm 2 loại lớn và nhỏ, đều được khắc nổi dòng chữ nhận diện “Wang-Tai Saigon”.

- Ngói Đông Dương: gồm các loại ngói Marseillaise Acier, ngói Marseillaise Tuileries de l’Indo-chine, ngói Tuileries de l’Indo-chine, ngói Dap Cau (Tonkin), ngói Typhon Phuhuu-Cantho.

- Ngói Nam kỳ: gồm các loại ngói STH Franco-Sino Annamite Saigon, ngói S-A Tuiles de Trian, ngói Tuile de Bien Hoa (ký hiệu con voi).

2. Ngói ngoại, là các loại ngói có xuất xứ từ Pháp (nên thường gọi là ngói Tây), bao gồm:

- Ngói Guichard Carvin CIE (Marseille ST Andre, có ký hiệu con Ong lớn).

- Ngói Guichard Carvin & CIE (Marseille ST Andre France, có ký hiệu con Ong nhỏ).

- Ngói Arnaud Etienne CIE (Marseille ST Henry, có ký hiệu dấu thập Malta).

- Ngói Pierre Saconman - ST Henry Marseille, có ký hiệu ngôi sao năm cánh.

- Ngói Tuileries Romain Boyer, có ký hiệu con Thiên nga.

3. Ngói chưa rõ nguồn gốc, do không ghi nhãn mác, hay bất cứ dấu vết nhận nào, bao gồm:

- Ngói có khắc dòng chữ “S.B.T.T”.

- Ngói không tên, gần giống với ngói Marseillaise Acier, gồm 3 loại lớn - vừa và nhỏ.

- Ngói vảy cá, gồm 2 loại bo tròn cạnh và vuông cạnh.

- Ngói âm dương, gồm 2 loại sóng âm và sóng dương.

Để có cơ sở truy tìm nguồn gốc xuất xứ chính xác loại ngói nào đã được sử dụng đầu tiên tại công trình, có lẽ phải cần đến chuyên môn nghiệp vụ của các nhà khảo cổ. Trong phạm vi bài viết này, nhóm nghiên cứu chỉ nêu các căn cứ hiển nhiên về mặt chuyên môn, lịch sử để đóng góp thêm ý kiến làm sáng tỏ vấn đề trên.

Thứ nhất, về niên đại các loại ngói, trong số khoảng 24 loại ngói trên, chỉ có 02 loại ngói có cùng niên đại với thời điểm xây dựng Nhà thờ, đó là ngói Wang-Tai và ngói Marseille (gọi chung cho các loại ngói Tây), còn cái loại ngói khác xuất hiện trên thị trường sau khi Nhà Thờ đã được khánh thành.

Ngói Wang-Tai do thương gia người Việt gốc Hoa tên Zhang A Lin (Trương Bá Lâm) sản xuất trong khoảng những năm 1860 - 1900 tại các xưởng gạch nằm dọc kênh Bến Nghé - Lò Gốm. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp, sản phẩm gạch của ông giành huy chương bạc trong cuộc triển lãm công nghiệp và nông nghiệp năm 1880. Số lượng ngói Wang-Tai trên mái Nhà thờ tại thời điểm hạ giải còn khoảng 10% tổng diện tích.

Ngói Marseille được sản xuất từ rất sớm tại lưu vực sông Séon, do nguồn đất sét phong phú tại đây. Đến năm 1848, sản lượng ngói mới bắt đầu phát triển nhờ phát hiện thêm các mỏ đất sét khổng lồ khi tuyến đường sắt Marseille-Avignon thi công. Đến năm 1869 khi có kênh đào Suez, ngói Tây bắt đầu được xuất khẩu sang Úc, New Zealand và Đông Dương, nhưng số lượng còn khá hạn chế. Tuy nhiên, phải đến năm 1901, hiệp hội ngói S.G.T.M được thành lập, tập hợp 9 nhà sản xuất lớn, ngói Tây mới bắt đầu xuất khẩu số lượng lớn ra khắp thế giới. Số lượng ngói Tây tại thời điểm hạ giải chiếm khoảng 50% diện tích mái Nhà Thờ.

Thứ hai, để có cơ sở vững chắc đi đến kết luận, nhóm nghiên cứu tiếp tục tra cứu các tài liệu liên quan đến quá trình xây dựng Nhà thờ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, trong đó có Hợp đồng giao thầu xây dựng Nhà thờ, được ký vào ngày 28/4/1877 giữa Đại diện Chính quyền Nam Kỳ và Kiến trúc sư Bourard. Tại điều khoản về các loại vật liệu, trang 5, có nội dung (tạm dịch): “Đá granit được khai thác tại mỏ đá Nui-dat… Các viên đá xây được chỉ định xây vòm cuốn, bên ngoài và bên trong công trình, sẽ đến từ Pháp, nếu nhà thầu không muốn thay thế chúng bằng đá granit và gạch xây. Các loại thép và gang, như đề cập ở trên, sẽ được nhận bởi một kỹ sư ở Pháp, và sẽ được xử lý, sơn một lớp tối thiểu trước khi chuyển đi. Các loại gạch ngói phải có chất lượng tốt nhất và tuân thủ theo hình dạng kích thước của kiến trúc sư”.

Như vậy, có thể khẳng định, ngoài các loại thép và gang đến từ Pháp, ngay từ đầu trong hợp đồng giao thầu đã quy định các loại vật liệu đá granit, gạch xây, ngói sử dụng trong công trình không phải được chở từ Pháp sang. Chỉ riêng đối với các viên đá xây vòm cuốn, nếu nhà thầu không muốn sử dụng đá granit (từ mỏ Nui-dat) và gạch xây, thì mới cho phép đến từ Pháp.

Thứ ba, trong quá trình hạ giải, xuất hiện thêm 02 chứng cứ quan trọng khác tại công trình, giúp cho giả thiết xuất xứ gạch ngói dùng cho công trình là vật liệu địa phương. Chứng thứ đầu tiên là trên hai mặt viên gạch xây tường của công trình có khắc dòng chữ nhận diện “W.T 1878” và “SAIGON”, giúp nhóm nghiên cứu khẳng định Nhà Thờ được xây bằng gạch Wang-Tai. Chứng cứ thứ hai, tại một số vị trí tường được ốp lát chìm vào mảnh ngói vỡ có dòng chữ “Wang-Tai Saigon” như một ghi dấu thú vị trong lúc hào sảng của một bàn tay thợ cách đây hơn 140 năm. Điều này giúp nhóm nghiên cứu đi đến suy nghĩ logic, nêu gạch xây là loại gạch Wang-Tai, thì tại sao ngói lợp mái Nhà Thờ không phải là Wang-Tai mà lại là ngói Marseille?

Và cuối cùng, ngói Marseille chỉ thực sự được sản xuất với quy mô lớn và xuất khẩu ra thế giới khi hiệp hội ngói S.G.T.M ra đời từ sau năm 1901.
Từ các cơ sở trên, có thể kết luận, khả năng gạch và ngói nguyên bản của Nhà thờ Chính Toà Đức Bà Sài Gòn là Wang-Tai, một loại vật liệu địa phương, không phải được đưa từ Pháp sang toàn bộ như các tài liệu bấy lâu nay vẫn nêu.
Do vậy, việc Ban Trùng Tu nhập ồ ạt từ Pháp và Đức các loại vật liệu ngói, và sau đó là 132 ngàn viên gạch để thay thế gạch tường Nhà Thờ hiện nay, với quan điểm để đảm bảo đúng nguyên trạng vật liệu ban đầu của công trình, là chưa có cơ sở vững chắc về khoa học.

Không như các loại vật tư thiết bị khác khi cho rằng cứ hễ có xuất xứ từ Châu Âu sẽ tốt hơn trong nước, gạch và ngói cũng như một số loại vật liệu xây dựng đặc thù phải đáp ứng một yêu cầu quan trọng, đó là phải phù hợp khí hậu địa phương nơi xây dựng công trình. Chính vì lý do đó, mà trong Thể lệ thi tuyển phương án thiết kế Nhà Thờ vào ngày 15/9/1875 có quy định “phải tìm các cách bảo vệ hiệu quả để Nhà Thờ Chính Tòa chống lại những sự bất tiện vốn có của khí hậu Nam Kỳ, cụ thể hơn đó chính là những cơn mưa xối xả kéo dài sáu tháng mỗi năm, một sức nóng thật khủng khiếp và sự phản chiếu của một ánh sáng quá chói lọi”. Ngoài ra điều kiện bảo hành vật tư cũng phải phù hợp với yêu cầu của nhà sản xuất, và theo catalogue của loại ngói Monier được Ban Trùng Tu nhập khẩu về sử dụng tại Nhà thờ Đức Bà, thì ngói sẽ được bảo hành 30 năm, trong điều kiện… băng tuyết.

Thêm vào đó, hiện các giấy chứng nhận xuất xứ, chứng nhận chất lượng, packing list và tài liệu kỹ thuật hướng dẫn lắp đặt đi kèm của các loại vật liệu ngói này đang được Ban Trùng Tu giữ kín, không công khai, một cách rất khó hiểu.

Theo Saveheritagevietnam

08/01/2020

TƯ LIỆU THUYẾT MINH HƯỚNG DẪN DU LỊCH: Nguồn gốc vài địa danh ở Lâm Đồng, Đà Lạt.

1. ĐÈO CHUỐI: Có hai con đường dẫn đến Đà Lạt. Nếu xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta phải qua đèo Chuối, một ngọn đèo ở huyện Đạ Huoai. Vì hai bên đèo có nhiều chuối rừng, nay vẫn còn, nên mới gọi thế.

2. ĐÈO NGOẠN MỤC: Nếu chúng ta khởi hành từ Phan Rang-Tháp Chàm, qua quốc lộ 27, ta sẽ đến Đà Lạt sau khi vượt qua 12km đường đèo. Ở chỗ giáp giới hai tỉnh Ninh Thuận và Lâm Đồng, có độ cao 980m. Đèo mang tên Ngoạn Mục. Người Pháp gọi là Belle Vue (đẹp mắt). Ngoạn Mục là từ Hán Việt, có nghĩa là “đẹp, trông thích mắt”.

3. ĐỒI CÙ: Nằm ở trung tâm thành phố, gần hồ Xuân Hương, là đồi Cù. Sở dĩ gọi là đồi Cù vì trái bóng mỗi lần đánh bay đi, nó lăn tròn như trái cù.

4. HỒ XUÂN HƯƠNG: Xuân Hương là hồ nhân tạo ở trung tâm thành phố Đà Lạt, diện tích 38ha, chu vi 5km, được xây dựng năm 1919, Pháp gọi là Grand Lac (hồ lớn), được ông Nguyễn Vỹ-Chủ tịch Hội đồng Thị chính Đà Lạt-Việt hoá thành Xuân Hương năm 1953. Xuân Hương là “mùi thơm mùa xuân”.

5. HỒ THAN THỞ: Hồ Than Thở nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 6km, diện tích 9ha, một địa điểm du lịch nổi tiếng. Sau năm 1975, được đổi thành hồ Sương Mai; đến năm 1990, phục hồi tên cũ. Than Thở là “kêu than, thổ lộ nỗi buồn rầu đau khổ của mình”, được gọi từ ngày 22-10-1956, có tên dịch từ tiếng Pháp Lac des Soupirs. Theo một số người, địa danh này bắt nguồn từ hai mối tình đau khổ của Hoàng Tùng-Mai Nương (tk 18) và Thảo-Tâm sau này.

6. HỒ ĐA NHIM: Đa Nhim là hồ nhân tạo ở thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, cách thành phố Đà Lạt 40km trên đường đi Phan Rang, diện tích độ 9,7km2, ở độ cao 1.042m. Cũng gọi hồ Đơn Dương. Sông thuộc hệ thống sông Đồng Nai, phát nguyên từ núi Hòn Giao, huyện Lạc Dương, chảy vào hồ Đơn Dương, sau đó đổ vào sông Đắk Dung (đoạn thượng nguồn sông Đồng Nai). Trên sông có hệ thống ống dẫn nước từ độ cao khoảng 1.000m đổ xuống để chạy các tuốc bin phát điện ở nhà máy điện Krông Pha thuộc huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, với công suất 160.000kw. Cũng gọi là nhà máy thuỷ điện Đa Nhim, xây dựng từ năm 1963. Đa Nhim gốc Cơ Ho, là “nước mắt”.

7. NÚI LANG BIANG: Ngọn núi cao nhất thành phố Đà Lạt là Lang Bian, gốc tiếng Lạch (Cơ Ho) Lơmbiêng hay M’Biêng, có một đỉnh cao 2.167m, và đỉnh Bi Đúp cao nhất 2.287m. Tiếng Pháp viết thành Langbian, Lang-Biang, Langbiang hay Lang Biang. Lơmbiêng là một họ của người Lạch. Vì núi nằm trong cao nguyên trung bình cao 1.300-1.600m nên tên núi đã được Hán Việt hóa thành tên cao nguyên Lâm Viên. Tên núi Lang Biang đã trở thành tên tỉnh Lâm Viên ngày 6-1-1916. Trước đó, ngày 1-11-1899, thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng. Đến ngày 22-2-1951, hợp nhất chữ đầu tên hai tỉnh cũ thành Lâm Đồng. Lâm Đồng nửa Hán Việt nửa thuần Việt.

8. HUYỆN LÂM HÀ: Còn Lâm Hà là huyện của tỉnh Lâm Đồng, diện tích 978,52km2, dân số 133.679 người (2009), gồm 2 thị trấn Đinh Văn, Nam Ban và 18 xã. Lâm Hà là do ghép chữ đầu của tỉnh Lâm Đồng và thủ đô Hà Nội, vì đây là huyện mới thành lập ngày 24-10-1987 mà nhiều cư dân đến từ thành phố Hà Nội.

9. HUYỆN LẠC DƯƠNG: Lạc Dương là huyện của tỉnh Lâm Đồng, diện tích 1.513,8km2, dân số 25.300 người (2006), gồm 7 xã. Lạc Dương còn là thị trấn của huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng. Lạc Dương vốn là tên một thành ở Trung Quốc. Ở vùng này có nhiều người thuộc bộ tộc Lạc (dân tộc Cơ Ho) sinh sống nên người ta gọi vùng này là Lạc Dờng (nhiều người Lạc). Ngữ âm hai tên gọi gần nhau nên người Việt đã mượn tên Lạc Dương quen thuộc trong truyện Tàu để phiên địa danh này.

10. THÁC DATANLA: Lâm Đồng có hàng chục thác lớn nhỏ. Đa Tân La là thác ở cách thành phố Đà Lạt 5km. Cũng viết Đatanla. Đa Tân La gốc Cơ Ho, có hai cách lý giải: 1.Đa Tơhla, nghĩa là “suối ở giữa rừng”. 2. Đa Tàm N’ha “nước dưới lá”.

11. THÁC PRENN: Prenn là thác ở trên một nhánh sông Đa Nhim, thuộc huyện Đức Trọng, cao 13m, cách Đà Lạt 10km. Có lẽ đây là cách phiên theo người Pháp vì từ Nam Á không có hai phụ âm cuối. Có hai giả thuyết về nguồn gốc của Prenn.: 1. Prenn gốc Chăm, nghĩa là “vùng bị chiếm”. 2. Prenn gốc Thượng, nghĩa là “cây cà đắng-một món ăn được đồng bào ưa thích và mọc khá nhiều dọc con suối cùng tên”.

12. THÁC CAMLY: Cam Ly là suối bắt nguồn từ huyện Lạc Dương, thành phố Đà Lạt, dài 64,1km, dài nhất thành phố, đổ vào hồ Xuân Hương. Cũng gọi Cẩm Lệ. Thác nước trên suối Cam Ly, cao 10m, đổ vào sông Đa Dung. Được Hán Việt hóa thành Cẩm Lệ. Cam Ly gốc Cơ Ho. Có ba cách lý giải: 1. Vốn là tên làng cũ Rhàng Pàng M’Ly, nghĩa là “làng cũ của ông M’Ly”. 2.Vốn là tên ông K’Mlơi. 3. Vốn là Kamlê. Như vậy, Cam Ly vốn là tên người, tuy cách viết khác nhau.

13. THÁC LIÊN KHƯƠNG: Thác nước trên sông Đa Nhim tên Liên Khương, cao 30m, rộng độ 100m, bên quốc lộ 20, cách Đà Lạt 28km. Cũng gọi là Liên Khang. Liên Khương gốc Cơ Ho Liang Khàng. Có hai cách lý giải: 1. Nghĩa là “kiến vàng”.2. Nghĩa là “loài ong ruồi”.

14. THÁC DAMBRI: Đam Bri là thác ở trong rừng, thuộc thành phố Bảo Lộc, cao 57m. Cũng viết Đămbri, Đạm Mri. Có người đặt tên khác là Chờ Đợi. Đambri nửa Cơ Ho nửa Chil (gốc Mơ Nông): Đa (Cơ Ho) là “nước, thác”; Bri (Chil) là “rừng”. Phụ âm môi “m” xuất hiện có lẽ do phụ âm môi “b” lan sang (contagion). Vậy Đambri vốn có nghĩa là “thác nước chảy trong rừng”.

15. THÁC BOBLA: Thác nằm ở xã Liên Đầm, huyện Di Linh, cách Đà Lạt độ 85km, ngay sát quốc lộ 20, phía tay trái từ Đà Lạt xuống, cao độ 45m tên là Bô Bla. Cũng viết Pố Pla. Bô Bla gốc Cơ Ho Vồ Bla nghĩa là “đầu voi”.

16. THÁC PONGOUR: Pongour là thác ở huyện Đức Trọng, cao gần 40m, rộng hơn 100m, qua hệ thống bậc thang bảy tầng. Người Pháp tôn vinh là “ngọn thác hùng vĩ nhất Đông Dương”. Pongour gốc Cơ Ho Pon-gou, nghĩa là “ông chủ vùng đất sét trắng” - ở đây có đất cao lanh-được người Pháp phiên thành Pongour.

17. THÁC GUGAH: Thác nước trên sông Đa Nhim, dưới thác Liên Khương, cao 17m, cách Đà Lạt 37km, mang tên Gu Ga. Cũng gọi là Gù Gà, Ổ Gà. Gu Ga gốc Cơ Ho Gugah, nghĩa là “bờ sông giống cái cũi lồng”.

18. ĐÀ LẠT: Đà Lạt là thành phố trực thuộc tỉnh Lâm Đồng, ở độ cao 1.500m, diện tích 391,1km2, dân số 168.000 người (2006), gồm 12 phường mang số từ 1 đến 12 và 3 xã. Đà Lạt được bác sĩ Alexandre Yersin phát hiện vào buổi chiều ngày 21-6-1893 và sau đó thành phố được xây dựng. Đà Lạt gốc Cơ Ho. Đà là “nước hay sông, suối”; Lạt (cũng viết Lat, Làc, Lạch, M’lates) có nghĩa là “rừng thưa” hay “đồi cỏ”, rồi chuyển sang tên một nhóm người thuộc dân tộc Kơ Ho sống ở khu rừng thưa này. Đà Lạt là “dòng suối của người Lạt”.

19. DI LINH: Di Linh là cao nguyên đất đỏ ba-dan bao gồm địa bàn hai huyện Bảo Lâm, Di Linh, ở độ cao trên 1.000m. Trước đây gọi là Di Dinh. Di Linh gốc Mạ là Djiring, nhưng chưa biết nghĩa. Di Linh là huyện của tỉnh Lâm Đồng, diện tích 1.614,3km2, dân số 160.830 người (2006), gồm thị trấn Di Linh và 17 xã. Di Linh còn là thị trấn của huyện, diện tích 24,65km2, dân số 27.645 người. Tên huyện do tên cao nguyên mà ra vì phần lớn địa phận huyện nằm trên cao nguyên. Có ý kiến cho rằng Djiring vốn là tên người có công khai khẩn vùng này.

20. ĐAM RÔNG: Đam Rông là huyện của tỉnh Lâm Đồng, diện tích 892.200km2, dân số 30.600 người (2006), gồm 8 xã. Suối nước nóng thiên nhiên ở xã Đam Rông, huyện Lạc Dương, nhiệt độ 40-450, bao quanh là rừng tự nhiên và nhân tạo. Đây là một trong 5 suối khoáng thu hút nhiều khách du lịch nhất VN (Bình Châu, Kênh Gà, Kim Bôi, .. ).

21. ĐỒNG NAI: Đồng Nai là sông ở miền Đông Nam Bộ, dài 635km, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, chảy qua vùng Đồng Nai, đổ ra cửa Soài Rạp. Người Cơ Ho gọi khúc đầu sông này là Đạ Đờng, nghĩa là “sông lớn”. Đạ Đờng còn được phiên thành Dã Dương, Đa Dâng. Cũng gọi là sông Phước Long vì chảy qua huyện Phước Long trước đây. Hệ phụ lưu gồm 253 sông, suối, tổng chiều dài 10km.
Nguồn: Thầy Hồ Văn Tường

ĐÀO TẠO CẤP CHỨNG CHỈ NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU LỊCH QUỐC TẾ NỘI ĐỊA

ĐÀO TẠO CẤP CHỨNG CHỈ NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH QUỐC TẾ NỘI ĐỊA TẠI TPHCM HÀ NỘI ĐÀ NẴNG CẦN THƠ NHA TRANG QUẢNG NINH

Lớp nghiệp vụ hướng dẫn du lịch quốc tế dành cho:

Học viên là những người có bằng tốt nghiệp cao đẳng trở lên không phải là chuyên ngành hướng dẫn du lịch

Lớp nghiệp vụ hướng dẫn du lịch nội địa dành cho:

Học viên là những người có bằng tốt nghiệp Trung cấp trở lên không phải phải chuyên ngành Hướng dẫn du lịch.

Hotline:

0979 86 86 57- 0978 46 86 20 – 0981 86 86 77 – 0973 86 86 00

Click ĐĂNG KÝ NGAY đăng ký theo mẫu nhận tư vấn miễn phí

P/s: Chúng tôi giới thiệu hướng dẫn viên du lịch miễn phí cho các công ty du lịch thiếu HDV

Học ở đâu? Liên hệ đăng ký học

Khóa học nghiệp vụ hướng dẫn du lịch quốc tế, nội địa cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch được tổ chức ở tại Hà Nội, TPHCM ( Sài Gòn), Đà Nẵng, Nhan Trang, Đà Lạt, Cần Thơ, Bình Định, Hạ Long, Hải Phòng….và nhiều tỉnh thành khác trên cả nước.

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Videos (show all)

Trf chơi đồng đội hay
Kỷ niệm 100 năm chữ Quốc ngữ thay cho chữ Hán ở VN - BBC News Tiếng Việt
Chỉ là đi ngang qua thôi mà
Tại sao con lợn nude ???
Nguồn cội tự bao đời

Location

Category

Telephone

Address


Số 12 Trần Thiện Chánh, Phường 12, Q 10
Ho Chi Minh City
700000
Other Education in Ho Chi Minh City (show all)
Oasearch.net - Chia Sẻ Kiến Thức Oasearch.net - Chia Sẻ Kiến Thức
Ho Chi Minh City, 700000

Nơi chia sẻ kiến thức

Pingo Centre Pingo Centre
Kios 8, 142 Tô Hiến Thành, Phường 14, Quận 10
Ho Chi Minh City, 70000

Trung Tâm Đào Tạo Công Nghệ Thông Tin

Học trực tuyến online Học trực tuyến online
Ho Chi Minh City, 848

KHóa Học online với Unica

Tiếng Anh Năng Động Tiếng Anh Năng Động
313/1 Nguyễn Văn Công, F3, Gò Vấp
Ho Chi Minh City, 47858

Trung tâm Active English chuyên tổ chức các khoá học anh văn và luyện thi Cambridge cho trẻ em.http://tienganhchotre.com

OlymWorld OlymWorld
Bitexco Financial Tower - 46th Fl., 02 Hai Trieu, Dist. 01, Hcm City, Vietnam
Ho Chi Minh City, 700000

| incorporated MEGA GURU™ learning.

Global Learn Global Learn
Dự án Khu Cao ốc Văn Phòng Và Căn Hộ Luxcity, Số 528 Huỳnh Tấn Phát, Phường Bình Thuận, Quận 7
Ho Chi Minh City, 70000

Global Learn tự hào cung cấp hai dịch vụ ngôn ngữ chất lượng tại Việt Nam bao gồm Khóa học ngôn ngữ & Dã ngoại ngôn ngữ.

UVT - Úc Việt Training College UVT - Úc Việt Training College
739-741–743–745 Le Hong Phong, Ward 12, District 10,
Ho Chi Minh City

UVT provides vocational training and educational excellence with internationally recognised Diploma programs in conjunction with fully comprehensive EFL courses. Qualified graduates have the option to continue their higher education in Australia.

Học Viện Online Học Viện Online
Ngô Quyền, Phường 6, Quận 10
Ho Chi Minh City, 700000

Học Viện Online là một hệ thống đào tạo trực tuyến, cổng kết nối Chuyên gia với Học viên.

Trường Dạy Nghề Lễ Tân Việt Úc Trường Dạy Nghề Lễ Tân Việt Úc
402 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, Quận 3
Ho Chi Minh City, 700000

Học Lễ Tân Khách Sạn cùng Trường Quản lý Khách sạn Việt Úc 402 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, Quận 3, TPHCM

Tiếng Anh phỏng vấn Tiếng Anh phỏng vấn
J9C Hương Giang, P. 15, Q. 10
Ho Chi Minh City, 70000

Tiếng Anh phỏng vấn cho người tìm việc Fanpage chính thức của www.tienganhphongvan.com