Khóa Học Nghiệp Vụ Hướng Dẫn Viên Du Lịch

Khóa Học Nghiệp Vụ Hướng Dẫn Viên Du Lịch

ĐÀO TẠO CẤP CHỨNG CHỈ NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH

Mission: Lớp nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch

Operating as usual

Ca Trù, Lên Đồng.

Tôi giật mình khi có bạn nói với tôi, hai hình thức văn hóa trên là đặc trưng của người Việt tiền sử cổ xa xưa.

Luận điểm chính mà bạn ấy đề cập là tổng thể cấu trúc hình loại này mang tính triết lý cộng đồng nhưng diễn ra trong một khuôn viên hẹp không có nhiều người tham gia. Bạn ấy lý giải là bởi đó là các hoạt động nghệ thuật trên các làng thuyền có từ nhiều nghìn năm về trước. Điều này là rất hợp lý.

Xét về nội dung, thì Lên Đồng là thánh kinh nói về quan niệm triết học thực dụng, được lồng vào tiến trình lịch sử của dân tộc. Ca Trù là các triết lý cuộc sống thường nhật. Cả hai hình thức đều nói về cuộc sống, một là cuộc sống dân tộc từ khai sinh lập địa, một là cuộc sống của một đời con người.

Cả hai hình thức nghệ thuật đều đề cao vai trò của phụ nữ, vừa là người kiến tạo cuộc sống, vừa là nơi tạo ra niềm vui cuộc sống.

Xét về nguyên lý, hát Mo và Ca Trù, Lên Đồng là cùng bản chất. Hát Mo là cuốn kinh thánh bằng lời giải thích toàn bộ thế giới quan, nhân sinh quan. Hát Mo chỉ hát một lần trong đời mỗi người để kể cho linh hồn khi họ mới mất, một mặt là nhìn lại tổng thể thế giới mà mình vừa sống thế nào, môt mặt là cung cấp cho linh hồn những kiến thức cần thiết khi rời xa. Sự hiện diện của Ca Trù và Lên Đồng cho thấy hát Mo được thực hiện bởi thày Mo, mà xa xưa là do phụ nữ đảm nhận. Rất có thể Ca Trù và Lên Đồng là dấu vết còn lại từ xa xưa của người tiền sử Hạ Long.

Kết hợp hát Mo, Ca Trù và Lên Đồng với hát Then trong lễ Cấp Sắc chắc sẽ tìm thấy lại được bóng hình văn hóa của người tiền sử Hạ Long.

Xét ngần ấy tiêu chí thì chắc khẳng định "Ca Trù, Lên Đồng là đặc trưng của người Việt tiền sử cổ xa xưa" có lẽ đúng. Có lẽ phải xem lại các nghiên cứu của các nhà phê bình nghệ thuật về lĩnh vực này.

Lưu ý.

1- Thật ra không có đạo Mẫu mà chỉ có tín ngưỡng thờ Mẫu. Tín ngưỡng thờ Mẫu Đạo có từ rất lâu đời. Trước đây nó bi phật giáo (đầu Công Nguyên) chèn ép. Sau khi Phật giáo bị Lão giáo chèn ép (thế kỷ thứ 10) thì sư đi ra chỗ khác chơi. Tới khi Lão giáo bị Nho giáo (thế kỷ 15) phỉ báng thì nhà Chùa lại nhảy vào. Nhà Chùa xưa chả có xèng nên chả ma nào đến, vì thế chỉ có đàn bà con gái tới. Họ tới để giải tỏa. Đàn bà họ thực tế, họ không thích mấy thứ bên Tây Thiên. Do toàn đàn bà với nhau mà, sau thế kỷ 15, tín ngưỡng Thờ Mẫu được đưa vào Chùa. Thế rồi họ cũng phỏng theo các thể loại Phật này Thánh kia cố theo đủ các thứ bậc như Phật giáo. Và vì thế mà tín ngưỡng thờ Mẫu được gọi là đạo Mẫu.

2- Ca Trù là hiện tượng Hán hóa một hình thức nghệ thuật có từ trước đó. Dựa theo cái nội dung giáo lý trong câu hát mà cho nó là bắt đầu từ thế kỷ 11 là đúng. Tuy nhiên tất các các hình thức nghệ thuật bắt nguồn sau thế kỷ 11 thì hặc là dập khuôn từ Bách Việt đã bị Hán hóa, hoặc là một hình thái nghệ thuật có sẵn bị cưỡng hiếp. Ca Trù là hình thức bị cưỡng hiếp từ hát Mo. Hát Mo cũng như Lên Đồng đều do phụ nữ chủ trì, vì đấy là Mẫu Hệ. Các hình thức nghệ thuật dập khuôn từ Bách Việt đã bị Hán hóa đều mang tính Phụ Hệ, như lễ cấp sắc... Chả nhẽ một hình thức nghệ thuật Mẫu Hệ lại được xuất hiện vào thời thế kỷ thứ 11?

3- Hát Mo, Ca Trù và Lên Đồng chả thấy đề cập tí đéo nào sự kiện cha con Thục Phán chạy loạn tạo ra dân tộc Kinh này. Đúng là bọn đĩ sử.
Nguồn: fb Nguyen Leanh

Các luồng tôn giáo vào Việt Nam

Nền văn minh sông Ấn, nền văn minh Ai Cập cổ đại và nền văn minh Lưỡng Hà (Mesopotamia) là ba nền văn minh lâu đời nhất của thế giới. Ngay từ thời đấy người ta đã biết đến quy hoạch đô thị, có chữ viết và có kiến trúc thượng tầng xã hội.

Tôn giáo là sản phẩm văn hóa được tạo ra từ các nền văn minh lớn đông người.

Nền văn minh sông Ấn Độ hưng thịnh trong khoảng thời gian từ năm 2800 TCN tới năm 1750 TCN, và trải dài gần khắp lãnh thổ Pakistan, nhiều phần của Ấn Độ, và Afghanistan -- trên một diện tích lớn hơn diện tích nền văn minh Ai Cập cổ đại và nền văn minh Lưỡng Hà (Mesopotamia) cộng lại. Trong thời kỳ hưng thịnh, nền văn hóa sông Ấn được phỏng đoán có trên 5 triệu người.

Cho đến nay có hơn 1050 di chỉ đã được xác định, phần lớn dọc theo sông Ấn. Trên 140 thành phố và làng mạc đã được tìm thấy. Hai trung tâm đô thị lớn nhất là Harappa và Mohenjo-Daro, bên cạnh đó còn có nhiều thành phố lớn như Dholavira, Ganweriwala, Lothal và Rakhigarhi. Trái ngược với 2 nền văn hóa tại Ai Cập và Lưỡng Hà, sự hiểu biết về văn hóa Harappa còn rất ít. Chỉ khoảng 10% làng mạc là đã được khai quật, chữ viết chưa được giải mã và việc nền văn hóa này biến mất đột ngột từ khoảng 1900 TCN cũng chưa được giải thích hoàn toàn.

Phía Bắc của Ấn Độ là dãy Himalaya tạo nên một hàng rào cô lập các vùng bình nguyên của xứ này với các vùng còn lại. Để liên lạc với bên ngoài thì chỉ có con đường núi xuyên qua Afghanistan. Văn hóa ngự trị thời bấy giờ ở nền văn minh sông Ấn là văn hóa Vệ Đà (Veda).

Văn hoá Vệ Đà có các quan điểm thần bí về vũ trụ về luân hồi và thờ phụng thần thánh như Mây, Mưa, Gió, Sấm Chớp,.. . Vào khoảng 800 năm trước Công Nguyên, nhu cầu giáo hóa tâm linh đã biến văn hóa Vệ Đà thành tôn giáo -- đạo Bà La Môn. Đạo Bà La Môn cho rằng tồn tại một bản chất của vạn vật, đó là Brahman (hay Phạm Thiên). Tư tưởng luân hồi cho rằng sinh vật có các vòng sinh tử thoát thai từ đạo Bà La Môn.
Bà La Môn giáo duy trì tục tế lễ – hiến sinh và học thuyết phân chia xã hội thành 4 đẳng cấp. Trong đó đẳng cấp Bà La Môn (tầng lớp tăng lữ) là giai cấp thống trị tinh thần.

Các thư tịch Ấn Độ cổ đại ghi nhận có hai hệ tư tưởng đối lập đó là:

1- Thế giới – Hỗn Hợp. Tâm linh là các đạo sư Brahmanas theo truyền thống Vệ Đà (Bà La Môn giáo). Các đạo sư này giữ quyền thống trị tâm linh.

2- Thế giới – Phân Tách. Tâm Linh là Phật và được đại diện bởi các bậc ẩn sĩ khổ hạnh. Quyền thống trị tâm linh thuộc về thế giới Phật siêu việt.

Tư tưởng Phật giáo ra đời khoảng thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên ở vùng phía Bắc Ấn Độ. Như thế tư tưởng Phật giáo được ra đời như sự đối lập với Bà La Môn giáo về bản chất.

Tư tưởng Phật giáo cho rằng thế giới được kiến tạo ra từ thế lực quá khứ, thế hiện tại và thế tương lai. Các thế lực được gọi là Phật. Phật quá khứ là Phật A Di Đà tượng trưng cho các đức Phật trong quá khứ, Phật hiện tại là Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật tương lai là Phật Di Lặc tượng trưng cho các vị Phật tương lai.

Hinduism bắt nguồn từ tiếng Ba Tư chỉ những cư dân phía ngoài thung lũng Indus. Vào khoảng thời gian 1000 năm trước công nguyên các bộ lạc du mục người Aryan đã mở mang và xâm chiếm các vùng lãnh thổ Tây Bắc Ấn lan rộng ra hầu hết bán đảo Ấn Độ. Dòng người này đã đưa văn hóa Vệ Đà du nhập vào Ấn Độ. Ấn Độ hay Hindu giáo được hình thành sau khi giáo hóa các nguyên lý từ sự kết hợp văn hóa Vệ Đà với văn hóa Nam Đảo bản địa ở Ấn Độ.

Ấn Độ giáo cho rằng van vật chứa thần linh bên trong và thế giới được vận hành bởi 3 thế lực (Trimurti hay Tam thần giáo): Brahma là đấng tạo hóa, Vishnu là đấng bảo hộ, còn Shiva là đấng hủy diệt.

Văn hóa Vệ Đà đã tạo ra Ấn Độ giáo và Bà La Môn giáo. Như thế hai tôn giáo này là đồng dạng. Phật giáo là tôn giáo đối ngẫu với Bà La Môn giáo. Từ sự đồng dang của triết lý thời gian trong Tam Thần Giáo của Ấn Độ giáo và triết lý thứi gian trong Tam Thế Phật, có thể đưa đến kết luận Ấn Giáo là tôn giáo kết hợp của Bà La môn giáo và Phật giáo, và vì thế nó xuất hiện sau Phật Giáo và sau Bà La Môn giáo.

Chăm là quốc gia được hình thành từ dân Nam Đảo di cư từ phía Malaysia vào khoảng đầu Công Nguyên tới vùng miền Trung vào Nam Việt Nam. Chăm có ngôn ngữ thuộc hệ Nam Đảo và có chữ viết từ đầu thế kỷ thứ 2. Chữ viết Chăm là dạng Nôm hóa chữ Ấn. Người Chăm giao thương buôn bán rộng khắp thế giới, sang tới tận Ấn Độ và Ả rập. Do giao thương rộng rãi mà các tri thức công nghệ và các luồng tư tưởng mới đã thâm nhập vào Chăm. Cư dân Chăm theo 3 tôn giáo chính. Phật giáo Nguyên Thủy (đầu Công Nguyên), Ấn giáo (thế kỷ thứ 5), và Hồi giáo (thế kỷ thứ 10). Phật giáo nguyên thủy ảnh hưởng tới tầng lớp dân thường, và biến dạng về niềm tin không giáo lý. Ấn Độ giáo được cho là ảnh hưởng vào tầng lớp thương gian. Và Hồi giáo ảnh hưởng vào tầng lớp thống trị. Sự xung đột giữa các tôn giáo khiến cho nhà nước Chăm hùng mạnh nhất khu vực một thời bị suy yếu và bị Đại Việt thôn tính hoàn toàn vào thế kỷ thứ 15.

Phật giáo Nguyên Thủy hay Phật giáo Nam Tông, Theravada, là hệ thống giáo hóa tư tưởng Phật giáo. Nó du nhập vào Sri Lanka khoảng năm 250 trước Công Nguyên và từ đó lan rộng sang các nước Đông Nam Á. Phật giáo Nguyên Thủy là nhánh duy nhất của Phật giáo Hinayana còn tồn tại đến nay.

Rất có thể tư tưởng phật giáo Nguyên Thủy tới được vùng đất đồng bằng Bắc Bộ là thông qua Chăm, hoặc là cùng thời kỳ với việc người dân Chăm tới định cư ở vùng đất miền Trung. Như thế Phật giáo Nguyên Thủy tới Việt Nam vào trước hoặc sau khoảng đầu Công Nguyên. Các di chỉ có thể là các chùa Phật giáo Nguyên Thủy ven sông Đuống như chùa Dâu, chùa Hộ Pháp,..

Kinh Phật giáo Nguyên Thủy, hay Nam Tông, không cho phép các giáo sĩ được sở hữu của cải. Tuy nhiên do phải di chuyển qua các vùng hoang mạc và núi cao hiểm trở lạnh lẽo ở Phương Bắc mà con người cần phải dự trữ thức ăn nước uống. Các giáo sĩ Phật Giáo khi truyền giáo lên các vùng hoang mạc phía Bắc lạnh giá Tân Cương đã lợi dụng sự cho phép này để sở hữu tài sản tiền bạc. Phật giáo Bắc Tông đã ra đời như vậy. Xét về thực chất Phật giáo Bắc Tông là một dạng kinh doanh tâm linh.

Sự bắt đầu của Bắc Tông có thể được ước tính từ câu chuyện thỉnh kinh của Đường Tăng.

Hai pho tượng Phật khổng lồ tại Bamiyan hơn tồn tại hơn 1500 năm tuổi, pho tượng 58m -- tạc năm 507, và pho tượng 38m -- tạc năm 554, đã bị Taliban phá hủy vào tháng 03/2001. Như thể vào khoảng thế kỷ thứ 5 Phật giáo phát triển rất mạnh dọc theo con đường Tơ Lụa.

Đường Tăng là một nhân vật có thật, có tên là Huyền Trang, sống trong triều đại nhà Đường. Năm 647, Huyền Trang đã quyết định đi Tây Thiên thỉnh kinh. Trên đường đi, ông thu nạp thêm 3 đệ tử là Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Sa Tăng.

Theo như trong Tây Du Ký thì điểm cuối cùng của Tây Thiên mà thầy trò Đường Tăng đặt chân đến chính là đất nước Pakistan ngày nay. Nằm cách thủ đô Islamabad của đất nước Pakistan chừng hơn 30km về phía Bắc có một thị trấn nhỏ tên gọi là Taxila. Đó là vùng đất có nhiều di tích quan trọng của Phật giáo có trên 3.000 năm tuổi.

Taxila chính là nơi có mỏ muối Khewra lớn nhất thế giới, là trung tâm nền văn minh sông Ấn Độ, và là nơi khoảng 60 nghìn năm về trước bắt đầu các cuộc di cư về phía bờ biển Hạ Long để tạo ra người Kinh chúng ta ngày nay.
Nguồn: fb Nguyen Leanh

NGƯỜI VIỆT NAM ĐẦU TIÊN ĐẶT CHÂN ĐẾN CHÂU MỸ

Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông là Trần Trọng Khiêm, người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ.

Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu. Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.

Suốt từ năm 1842 đến 1854, Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Hương Cảng đến Anh Cát Lợi, Hoà Lan, Pháp Lan Tây. Do trí tuệ sắc sảo, đến đâu ông cũng học được ngoại ngữ của các nước đó. Năm 1849, ông đặt chân đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.
Sau khi đến Mỹ, ông cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Tây Hoa Kỳ. Sau đó, ông trở về thành phố Xanh–Phát–Lan–Xích–Cố (phiên âm của San Francisco) và làm kí giả cho tờ Daily News 2 năm. Cuộc phiêu lưu của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) trên đất Mỹ đã được nhiều tài liệu ghi lại.

Trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (NXB Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mễ Tây Cơ… Họ gặp nhau ở thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana vào giữa thế kỷ 19 rồi cùng hợp thành một đoàn đi sang miền Viễn Tây tìm vàng.
Thời đó, “Wild West” (miền Tây hoang dã) là từ ngữ người Mỹ dùng để chỉ bang California, nơi mà cuộc sống luôn bị rình rập bởi thú dữ, núi lửa và động đất. Trong gần 2 năm, Lê Kim đã sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Ông đã tham gia đoàn đào vàng do một người ưa mạo hiểm người Canada tên là Mark lập nên.
Để tham gia đoàn người này, tất cả các thành viên phải góp công của và tiền bạc. Lê Kim đã góp 200 Mỹ kim vào năm 1849 để mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Đoàn có 60 người nhưng Lê Kim đặc biệt được thủ lĩnh Mark yêu quý và tin tưởng. Do biết rất nhiều ngoại ngữ, ông được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lĩnh Mark và thông ngôn các thứ tiếng trong đoàn gồm tiếng Hòa Lan, tiếng Trung, tiếng Pháp. Ông cũng thường xuyên nói với mọi người rằng ông biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt Nam nhưng không cần dùng đến. Lê Kim nói ông không phải người Hoa nhưng đất nước nằm ngay cạnh nước Tàu.
Ông và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là “Oh! Suzannah” (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc). Họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ để đến California tìm vàng. Sốt rét và rắn độc đã cướp đi mất quá nửa số thành viên trong đoàn.
Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm, khiến già nửa thành viên trong đoàn chết vì vất vả, đói khát và nguy hiểm dọc đường đi.
Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người học rộng, hiểu nhiều, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được công việc chạy tin tự do cho nhiều tờ báo như tờ Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.
Đề tài mà Lê Kim thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai hoang ở bắc California và quanh khu vực San Francisco, trong đó ông hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng mà thời đó vẫn là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Lê Kim cho rằng các mỏ vàng đã khiến cuộc sống ở đây trở nên méo mó và sa đọa không gì cứu vãn được.
Nhiều bài báo của ông đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A. Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, ông đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, Sutter đã bị tâm thần và sống lang thang ở khắp các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không đoái hoài đến.
Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco và nước Mỹ đối với tướng Sutter, điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ông.
Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn và nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng ông cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

Người Minh Hương cầm quân chống Pháp

Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương.
Trong di chúc để lại, ông dặn tất cả con cháu đời sau đều phải lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ ở làng Xuân Lũng.

Trong bức thư bằng chữ nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Hoa Kỳ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường. Khi người anh nhắn lại: “Gia đình bình yên và lúc này người đi xa đừng vội trở về”, Lê Kim đã phải tiếp tục chôn giấu gốc gác của mình ở miền Tây Nam Bộ.

Nhưng chưa đầy 10 năm sau, khi Pháp xâm lược Việt Nam. Lê Kim đã từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười. Tài bắn súng học được trong những năm tháng ở miền Tây Hoa Kỳ cùng với kinh nghiệm xây thành đắp lũy đã khiến ông trở thành một vị tướng giỏi.
Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De Lagrandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim gìn giữ có ghi lại lời trăng trối của ông: “Trước khi chết, cụ dặn cụ bà lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi con, dặn chúng tôi giữ đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng ham vàng bỏ ngãi. Nghĩa quân chôn cụ ngay dưới chân Giồng Tháp. Năm đó cụ chưa tròn ngũ tuần”. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối: “Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh/Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”.

Ghi công ông, hiện ở phường Long Bình, quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm nối phố Nguyễn Xiển với phố Mạc Hiển Tích.

Nguồn: Học giả Nguyễn Hiến Lê (1912–1984).
P/s: copy từ Fb Nguyen Leanh!

ĐÀO TẠO CẤP CHỨNG CHỈ NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU LỊCH QUỐC TẾ NỘI ĐỊA

ĐÀO TẠO CẤP CHỨNG CHỈ NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH QUỐC TẾ NỘI ĐỊA TẠI TPHCM HÀ NỘI ĐÀ NẴNG CẦN THƠ NHA TRANG QUẢNG NINH

Lớp nghiệp vụ hướng dẫn du lịch quốc tế dành cho:

Học viên là những người có bằng tốt nghiệp cao đẳng trở lên không phải là chuyên ngành hướng dẫn du lịch

Lớp nghiệp vụ hướng dẫn du lịch nội địa dành cho:

Học viên là những người có bằng tốt nghiệp Trung cấp trở lên không phải phải chuyên ngành Hướng dẫn du lịch.

Hotline:

0979 86 86 57- 0978 46 86 20 – 0981 86 86 77 – 0973 86 86 00

Click ĐĂNG KÝ NGAY đăng ký theo mẫu nhận tư vấn miễn phí

P/s: Chúng tôi giới thiệu hướng dẫn viên du lịch miễn phí cho các công ty du lịch thiếu HDV

Học ở đâu? Liên hệ đăng ký học

Khóa học nghiệp vụ hướng dẫn du lịch quốc tế, nội địa cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch được tổ chức ở tại Hà Nội, TPHCM ( Sài Gòn), Đà Nẵng, Nhan Trang, Đà Lạt, Cần Thơ, Bình Định, Hạ Long, Hải Phòng….và nhiều tỉnh thành khác trên cả nước.

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Videos (show all)

Khắp năm châu

Location

Category

Telephone

Address


Số 12 Trần Thiện Chánh, Phường 12, Q 10
Ho Chi Minh City
700000
Other Education in Ho Chi Minh City (show all)
Gia Sư Gia Bảo Gia Sư Gia Bảo
Thủ Đức
Ho Chi Minh City, 08

Trung tâm gia sư Gia Bảo cung cấp gia sư tại các quận trên địa bàn TPHCM. Gia sư quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, Bình Thạnh, Thủ Đức, Gò Vấp...

KatchUp.vn - FlashCard Tiếng Trung KatchUp.vn - FlashCard Tiếng Trung
48/18 Nguyễn Văn Khối, F.11 Q.Gò Vấp
Ho Chi Minh City, 700000

Thẻ học tiếng Trung - Chinese Flashcards

Đam mê cùng Tiếng Nhật Đam mê cùng Tiếng Nhật
Đường 59, Phường 14, Quận Gò Vấp
Ho Chi Minh City, 700000

- Chuyên Cung Cấp Những Đơn Hàng XKLĐ Nhật Bản Mới Nhất - Chi Phí Thấp, Uy Tín, Chất Lượng - Tư Vấn Và Hỗ Trợ - Đào Tạo, Hướng Dẫn, Rèn Luyện - Đưa Người Lao Động Có Nhu Cầu Sang Nhật Làm Việc

Cùng mua tại gia Cùng mua tại gia
Ho Chi Minh City

Bán lẻ Hàng hóa của người tiêu dùng với giá sỉ

Agpielts Agpielts
27B Nguyen Dinh Chieu
Ho Chi Minh City, 700000

By agpielts.com http://www.agpielts.com/ Youtube: https://www.youtube.com/user/thuyvy44

Luyện Chữ Đẹp TP Hồ Chí Minh-Bút Mài Nét Thanh Nét Đậm Luyện Chữ Đẹp TP Hồ Chí Minh-Bút Mài Nét Thanh Nét Đậm
257/14 Phạm Đăng Giảng ,P.Bình Hưng Hòa,Q. Bình Tân
Ho Chi Minh City, 700000

"NÉT CHỮ NẾT NGƯỜI"- theo châm ngôn của người xưa trung tâm Luyện chữ đẹp TPHCM cung cấp dịch vụ luyện chữ và cung cấp sỉ mọi sản phẩm dùng cho luyện chữ.

Walkie - Talkie Flexible English Walkie - Talkie Flexible English
43 Lê Thị Hồng Gấm, P. Nguyễn Thái Bình, Q.1
Ho Chi Minh City

Không gian cafe ấm cúng thoải mái cùng với những chiếc bean bags và nhiều loại thức uống tuyệt vời. Luôn tạo điều kiện cho mọi người giao tiếp tiếng Anh.

Du Học Nhật Bản VIET - SSE Đồng Nai Du Học Nhật Bản VIET - SSE Đồng Nai
156/2 Cộng Hoà, Tân Bình, TPHCM
Ho Chi Minh City

Công ty tư vấn du học Nhật Bản Uy Tín Trụ sở chính: 39 Đốc Ngữ, Ba Đình, Hà Nội Hcm: 156/2 Cộng Hoà, Tân Bình, TPHCM Hotline: 0903 299 926 - 0962 244 426

Tuyển nhân viên kế toán công nợ ở quận Bình Thạnh Tuyển nhân viên kế toán công nợ ở quận Bình Thạnh
Ho Chi Minh City, 70000

Tuyển nhân viên kế toán công nợ ở quận Bình Thạnh

RMIT Vietnam Library RMIT Vietnam Library
702 Nguyen Van Linh, Tan Phong Ward, District 7
Ho Chi Minh City

RMIT Vietnam Library

CLB Mô phỏng- Tính toán CLB Mô phỏng- Tính toán
Nhà B4 - Khoa Khoa Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Bách Khoa Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh City

CLB Mô phỏng- Tính toán

Du Học Đài Loan - OHA Du Học Đài Loan - OHA
147 Đường 6, KĐT Lakeview City, An Phú, Quận 2
Ho Chi Minh City, 71106

Tổ chức Giáo dục và Nhân lực Đài Loan OHA với sứ mệnh trở thành 1 chuyên gia trong lĩnh vực tư vấn, định hướng và cung cấp giải pháp học tập và việc làm cho các bạn trẻ có nhu cầu du học Đài

About   Contact   Privacy   Login C