Lớp Văn thầy Khương

Lớp Văn thầy Khương

Comments

mấy bạn có thể giúp mình tìm ý bài này ko ''trong tất cả những cuộc thi được tổ chức như trò chơi âm nhạc hoa hậu hoàn vũ olympic... có một thể lệ được đặt ra là : người đạt danh hiệu hoặc ở vị trí thấp lúc nào cũng được mời lên nhận giải trước, khi rời sân khấu người thất bại cũng ôm hôn bắt tay chúc mừng người thắng cuộc, em có suy nghĩ cảm nhận gì về sự việc trên mình cảm ơn các bạn
Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ " Đồng chí" Bài làm Người lính nông dân đã đi vào thơ ca bằng những hình ảnh chân thật và đẹp trong “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Cá nước” của Tố Hữu... nhưng tiêu biểu hơn cả là bài “Đồng chí” của Chính Hữu. Bài thơ được sáng tác vào năm 1948 là năm cuộc kháng chiến hết sức gay go, quyết liệt. Trong bài thơ này, tác giả đã tập trung thể hiện mối tình keo sơn gắn bó, ngợi ca tình đồng chí giữa những người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp. Cảm nhận đầu tiên của chúng ta khi đọc bài thơ là hình ảnh người lính hiện lên rất thực, thực như trong cuộc sống còn nhiều vất vả lo toan của họ. Ngỡ như từ cuộc đời thực họ bước thẳng vào trang thơ, trong cái môi trường quen thuộc bình dị thường thấy ở làng quê ta còn đói nghèo lam lũ: “Quê hương anh nước mặn đồng chua, Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”. Quê hương xa cách nhau, mỗi người mỗi nơi. Người quê ở miền biển “nước mặn đồng chua”, người ở vùng đồi núi “đất cày lên sỏi đá”. Song dù xa cách nhau, dù khác nhau, nhưng đều là quê hương của lam lũ, vất vả, đói nghèo. Chữ nghĩa bình thường mà như đang cựa quậy khi cuộc sống thực đã ùa vào câu thơ đem đến những cảm nhận sâu sắc về quê hương người lính. Tuy ở những phương trời khác nhau, “chẳng hẹn quen nhau”, nhưng cùng sống và chiến đấu với nhau trong một đội ngũ, những người lính đã tự nguyện gắn bó với nhau: “Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” Cái rét ở rừng Việt Bắc đã nhiều lần vào trong thơ bộ đội chống Pháp vì đó là một thực tế ai cũng nếm trải trong những năm chinh chiến ấy. Có điều lạ là câu thơ nói đến cái rét gợi cho người đọc một cảm giác ấm cúng của tình đồng đội, nghĩa đồng bào. Câu thơ của Chính Hữu đã diễn tả tình đồng chí thật cụ thể và cô đọng, sự gắn bó giữa những người đồng chí cùng chung nhau chiến đấu “súng bên súng”, cùng chung một lí tưởng “đầu sát bên đầu”. Sự gắn bó mỗi lúc lại càng thêm sâu sắc: Là súng bên súng đến đầu bên đầu, rồi thân thiết hơn nữa là đắp chung chăn, thành tri kỉ. Đoạn thơ đầu của bài thơ kết thúc bằng hai chữ “Đồng chí” làm sáng tỏ thêm nội dung, ý nghĩa của cả đoạn thơ. Nó giải thích vì sao người lính từ bốn phương trời xa lạ, không hẹn gặp nhau mà bỗng trở thành thân thiết hơn máu thịt. Đó là sự gắn bó giữa những người anh cùng chung một lí tưởng chiến đấu, là sự gắn bó kì diệu, thiêng liêng và mới mẻ của tình đồng chí. Những người lính, những đồng chí ấy ra đi chiến đấu với tinh thần tự nguyện: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Họ vốn gắn bó sâu nặng với ruộng nương, với căn nhà thân thiết, nhưng cũng sẵn sàng rời bỏ tất cả để ra đi. Nhà thơ đã dùng những hình anh quen thuộc và tiêu biểu của mọi làng quê Việt Nam như biểu tượng của quê hương những người lính nông dân. Giếng nước, gốc đa không chỉ là cảnh vật mà còn là làng quê, là dân làng. Cảnh vật ở đây được nhân cách hoá, như có tâm hồn hướng theo người lính. Tác giả tả rất thực về cuộc sống của người lính. Nhà thơ không che giấu mà như còn muốn nhấn mạnh để rồi khắc hoạ rõ nét hơn cuộc sống gian lao thiếu thốn của họ. Và phải là người trong cuộc thì mới vẽ lên bức tranh hiện thực sống động về người lính với một sự đồng cảm sâu sắc như vậy: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh. Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Thơ ca kháng chiến khi nói tới gian khổ của người lính thường nói rất nhiều tới cái lạnh, cái rét. Đoạn thơ thứ hai này kết thúc bằng câu “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Một sự cảm thông, chia sẻ vừa chân thành, vừa tha thiết làm sao. Người ta bảo bàn tay biết nói là thế. Hình ảnh kết thúc đoạn thứ hai này cắt nghĩa vì sao người lính có thế vượt qua mọi thiếu thốn, gian khổ, xa quê hương, quần áo rách vá, chân không giày, mùa đông lạnh giá với những cơn sốt rét “run người”... Hơi ấm của tình đồng chí truyền cho nhau đã giúp người lính thắng được tất cả. Hình ảnh kết thúc bài thơ chỉ có ba dòng: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chở giặc tới Đầu súng trăng treo Sau những câu thơ tự do đang trải dài “Đêm nay rừng hoang sương muối”... câu kết thúc thu vào trong bốn chữ làm nhịp thơ đột ngột thay đổi, dồn nén, chắc gọn, gây sự chú ý cho người đọc. Hình ảnh kết thúc bài thơ đầy thơ mộng, cái thơ mộng của gian khố, hiểm nguy: một cánh rừng, một màn sương, một vầng trăng với hai ngọn súng, hai con người chờ giặc. “Đầu súng trăng treo” cùng là một câu thơ dồn nén và có sức tạo hình, nó đẹp như một biểu tượng chiến đấu của những người lính giàu phẩm chất tâm hồn. Đó cũng là vẻ đẹp trữ tình mới của thơ ca kháng chiến, kết hợp được súng và trăng mà không khiên cưỡng. Toàn bài “Đồng chí” từ chi tiết cuộc sống đến cảm giác của tác giả đều rất thật, không một chút tô vẽ đắp điểm, không bình luận, thuyết minh. Bài thơ thiên về khai thác đời sống nội tâm, tình cảm người lính, vẻ đẹp của “Đồng chí” là vẻ đẹp của đời sống tâm hồn người lính mà nơi phát ra vầng ánh sáng lung linh nhất là mối tình đồng đội, đồng chí hoà quyện vào tình giai cấp. Hình ảnh “đầu súng trăng treo” ở cuối bài nâng vẻ đẹp người lính lên đến đỉnh cao khái quát trong đó có sự hài hoà giữa hiện thực và lãng mạn đồng thời mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc.
Đề bài: Em hãy phân tích đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Truyện Kiều là một tác phẩm kiệt tác của nền văn học Việt Nam, đây là tác phẩm lớn và có giá trị cao về mặt nội dung cũng như nghệ thuật của đại thi hào Nguyễn Du. Truyện Kiều không chỉ là tác phẩm lớn của văn học trung đại Việt Nam mà đây còn là tác phẩm góp phần đưa nền văn học Việt Nam đến với độc giả trên thế giới. Truyện Kiều là tác phẩm thơ Nôm viết về nhân vật Thúy Kiều, một con người “tài sắc vẹn toàn”, một con người tài hoa xuất chúng, nhưng càng tài hoa bao nhiêu thì cuộc đời của cô gái này càng bất hạnh, thăng trầm bấy nhiêu. Vốn là một tiểu thư đài các sang trọng, cao quý nhưng những biến cố bất ngờ ập đến với gia đình Thúy Kiều đã vô tình đẩy nàng vào biến cố lớn nhất của cuộc đời mình. Đoạn trích đánh dấu chuyển biến của cuộc đời Thúy Kiều từ một tiểu thư cao quý sang cuộc sống đầy cay đắng của một cô gái lầu xanh, đó chính là đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều”. Đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều” là đoạn trích miêu tả cảnh Thúy Kiều bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy tiền cứu cha và cả gia đình. Qua cuộc ngã giá mua bán ấy ta thấy được tâm trạng đau khổ của Thúy Kiều cũng như lột trần bản chất xấu xa, giả dối của Mã Giám Sinh, lên án thế lực đồng tiền đã chèn ép, bức con người vào bước đường cùng của sự đau khổ. Mở đầu bài thơ là không gian của cuộc mua bán, đó chính là hình ảnh của mụ mối khi dắt vào một người khách xa lạ, người sẽ mua Kiều: “Gần miền có một mụ nào Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh Hỏi tên rằng Mã Giám Sinh Hỏi quê rằng Huyện Lâm Thanh cũng gần” “Mụ nào” ở đây ta có thể hiểu là bà mối, trước yêu cầu Thúy Kiều thì bà mối này đã dắt đến một người khách lạ “Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh”, hỏi ra thì hắn tên là Mã Giám Sinh, cái tên này thể hiện hắn ta là một người có học, mà cụ thể hơn là một nho sinh của trường Quốc Tử Giám, người ở Lâm Thanh. Nghe lời giới thiệu đầy nhiệt tình, tha thiết của mụ mối thì Mã Giám Sinh có vẻ là một người đàng hoàng, có gốc gác lại còn là một nho sinh có học, nhưng không để cho người đọc tò mò lâu, ngay những câu thơ sau đó thì Nguyễn Du đã cho người đọc biết trọn vẹn về bản chất của con người ngỡ như là tử tế, có học này: “Quá niên trạc tuổi tứ tuần Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao Trước thầy sau tớ lao xao Nhà băng đưa lối rước vào lầu trang” Khác với cái tên đầy thư sinh, gốc gác rõ ràng để chứng minh là người tử tế thì những mô tả ngoại hình lại mang đến một cảm giác trái ngược hẳn, đó là một người đàn ông đã “trạc tuổi tứ tuần” có nghĩa là đã hơn bốn mươi tuổi, hơn thế nữa “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”. Trong xã hội phong kiến xưa thì tứ tuần có thể xem là người trung niên, với một độ tuổi như vậy mà vẫn còn là một nho sinh trường Quốc Tử Giám thật khiến cho người khác có cảm giác khó tin, hơn nữa sự chải chuốt quá đà ở diện mạo, trang phục lại gợi ra hình ảnh của một con người có phần lố lăng, kệch cỡm, vì dù đã nhiều tuổi nhưng vẫn cố tỏ ra rằng mình còn trẻ. Chỉ xét ngoại hình thôi cũng thể hiện được sự giả tạo đáng coi thường ở nhân vật này. “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra Nỗi mình thêm tức nỗi nhà Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng” Quả nhiên như ta dự đoán, không chỉ có diện mạo trơ trẽn, lố lăng mà ngay cả hành động cũng thể hiện sự vô học, vô giáo dục, khác hẳn với cái mác thư sinh mà hắn ta giới thiệu “Chỗ trên ngồi tót sỗ sàng”. “Chỗ trên” ở đây là để dành cho những người trên ngồi, tức những bậc sinh thành, những bậc tiền bối, nhưng ở đây Mã Giám Sinh đã không hề biết đến phép tắc cơ bản ấy, hoặc cũng có thể biết nhưng vẫn cố tình ngồi, vì hắn ta vẫn đang tự cho mình là người có thế chủ động, bởi hắn ta sẽ bỏ tiền ra để mua Kiều. Hắn tự cho mình cái quyền được lộng hành, thể hiện một cách vô giáo dục như vậy. Không chỉ chủ là Mã Giám Sinh mà những tên đầy tớ của hắn ta cũng tỏ rõ là những người đi thuê, đi mượn, bởi nếu đúng là đầy tớ của hắn thì sẽ không có cái cảnh lao xao, lộn xộn như thế “Trước thầy sau tớ lao xao”. Trái với sự ngỗ ngược, hống hách của chủ tớ Mã Giám Sinh thì nàng Kiều lại vô cùng đau khổ. “Nỗi mình thêm tức nỗi nhà”, lúc này đây Thúy Kiều đang mang nặng những tâm trạng, suy tư cùng với sự đau khổ bởi nàng biết rồi sau đó nàng sẽ phải trải qua những đắng cay, đau khổ vì cuộc hôn nhân được mua bằng tiền mà không hề có tình yêu này. Lúc này nàng vừa buồn, vừa tủi cho mình nhưng cũng lại chồng chất thêm nỗi lo lắng cho bố mẹ và các em. “Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng” những bước chân của nàng giờ đây mới thật đau đớn, nặng nề làm sao, bởi trên đôi vai nàng nặng trĩu những đau khổ cũng như những trách nhiệm lớn lao mà bổn phận của một người con phải làm, những giọt nước mắt của nàng rơi xuống làm cho người đọc cảm thấy xót xa, thương cảm. “Ngại ngùng dợn gió e sương Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dày Mối càng vén tóc bắt tay Nét buồn như cúc điệu gầy như mai” Trước tương lai đầy bất định,Thúy Kiều dường như đã có những dự cảm về cuộc đời mình, những dự cảm ấy làm cho Kiều cảm thấy lo sợ, ngại ngùng, bởi đó sẽ là những ngày tháng đầy đau khổ “Ngại ngùng dợn gió e sương”, đây cũng là tâm trạng tất yếu của con người khi đứng trước những sóng đó, những dự cảm không lành. Nét buồn bã, đau khổ không thể kiềm nén mà thể hiện ra hết trên gương mặt của nàng Kiều “Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dày”. Trước dự đau khổ, u uất của nàng thì mụ mối vẫn đang rất chuyên tâm, nhiệt tình với công việc của mình “mối càng vén tóc bắt tay”, gương mặt buồn bã của nàng Kiều được Nguyễn Du so sánh với nét buồn của cúc và sự mỏng manh, yếu gầy như những cánh mai “Nét buồn như cúc điệu gầy như mai” “Đắn đo căn sắc cân tài Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ Mặn nồng một vẻ một ưa Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu” Đến câu thơ này, hình ảnh của Thúy Kiều hiện lên thật đáng thương, bởi họ coi nàng như một món hàng dùng để trao đổi, buộc nàng phải trổ tài đánh đàn, làm thơ “Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ”, khi đã rất hài lòng với người mà mình sẽ mua thì Mã Giám Sinh và mụ mối bắt đầu cuộc ngã giá của mình “Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu”. Một con người tài sắc như vậy, tài năng trời phú ấy không phải thể hiện ở một dịp nào khác hơn mà dùng để làm vừa lòng người mua mình, sự tình ấy thật xót xa làm sao, đau đớn làm sao. “Rằng mua ngọc đến Lam Kiều Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường Mối rằng đáng giá ngàn vàng Dớp nhà nhờ lượng người thương dám nài” Vậy là cuộc ngã giá đầy căng thẳng giữa mụ mối và tên buôn Mã Giám Sinh đã diễn ra. Đến đây, Mã Giám Sinh thể hiện rõ bản chất của một con buôn nhưng đầu tiên hắn ta vẫn cố khoác lên mình cái vẻ trí thức đầy giả tạo “Rằng mua ngọc đến Lam Kiều” nhưng cũng chỉ ngay sau đó thôi thì bản chất con buôn cũng được thể hiện ra rõ mồn một, với sự sành sỏi vốn có, hắn ta đã cò kè “bớt một thêm hai”, và cuối cùng thì sự lọc lõi ấy đã mang lại cho hắn ta một món hời khi trả giá từ “ngàn vàng” xuống còn “ngoài bốn trăm”. Đoạn trích Mã Giám Sinh mua kiều là một đoạn trích vạch trần đến tận cùng của cái xã hội “ăn thịt người”, khi con người bị mang ra mua bán như một thứ hàng hóa ở chợ. Đoạn trích này cũng thể hiện được bản chất xấu xa, giả dối của Mã Giám Sinh cũng như tâm trạng đầy đau khổ, bế tắc của nàng Kiều trước bước ngoặt của cuộc đời mình.

Văn chương là cuộc đời. Văn chương không chỉ đơn thuần là nghệ thuật. Học Văn khó hay dễ? Câu trả lời tùy thuộc vào phương pháp học của bạn!

Mission: Chia sẻ với học sinh kiến thức, phương pháp học tập và những tâm sự buồn vui của tuổi học trò...

hsgs.edu.vn

THÔNG BÁO TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHTN NĂM 2020 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

http://hsgs.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1480%3Athong-bao-tuyen-sinh-vao-lop-10-truong-thpt-chuyen-khtn-nam-2020-truong-dai-hoc-khoa-hoc-tu-nhien-dai-hoc-quoc-gia-ha-noi&catid=64%3Atuyen-sinh-a-thi-thu&Itemid=120&lang=vi

hsgs.edu.vn Website chính thức của Trường THPT chuyên KHTN - ĐHKHTN - ĐHQGHN

chuyensp.edu.vn

Thông báo về việc tuyển sinh vào lớp 10 trường THPT Chuyên ĐHSP năm 2020

http://chuyensp.edu.vn/thong-bao-ve-viec-tuyen-sinh-vao-lop-10-truong-thpt-chuyen-dhsp-nam-2020_v582.aspx

chuyensp.edu.vn Thông báo về việc tuyển sinh vào lớp 10 trường THPT Chuyên ĐHSP năm 2020, Trường THPT Chuyên Sư phạm

infonet.vietnamnet.vn

Ôn tập môn Văn thi THPT quốc gia 2020 thế nào để đạt điểm cao?

https://infonet.vietnamnet.vn/gioi-tre/on-tap-mon-van-thi-thpt-quoc-gia-2020-can-luu-y-nhung-gi-61374.html?fbclid=IwAR0v_T3rx6cqGyEsrfXd6OnOMiXWk1S_X7SoYmhVqDKFqQ7MnGQwyzXy34Y

infonet.vietnamnet.vn Thầy Đặng Ngọc Khương, giáo viên môn Ngữ văn, Hệ thống Giáo dục HOCMAI lưu ý học sinh một số lỗi cần tránh và phương pháp làm bài thi môn Ngữ văn kỳ thi THPT quốc gia đạt hiệu quả.

Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

Ôn thi THPT Quốc gia 2020

Cách làm bài Nghị luận về một đoạn thơ

Mời các em tham khảo!

Bạn nào vượt qua cửa ải năm nay sẽ nhớ suốt đời!
Cố lên nào các em!

Nội dung chưa được phát sóng của Titanic, bạn sẽ không bao giờ quên.

Vào đêm kinh hoàng ngày 14 tháng 4 năm 1912, tổng cộng 705 người đã được cứu trên tàu Titanic và 1502 người đã thiệt mạng.

Charles Letler, 38 tuổi,là thuyền phó của tàu Titanic, ông là người sống sót cuối cùng được kéo lên xuồng cứu sinh từ vùng biển băng giá, là người còn sống có chức vị cao nhất.

Ông đã viết một cuốn hồi ký dài 17 trang về các chi tiết của thảm họa đắm tàu.

Đối mặt với tai nạn đắm tàu, thuyền trưởng ra lệnh cho mọi người để phụ nữ và trẻ em lên xuồng cứu nạn trước, rất nhiều hành khách lộ ra mười phần bình tĩnh, một số người từ chối tách khỏi gia đình của họ.

Tôi hét lên: Phụ nữ và trẻ em đến đây ! Tuy nhiên, tôi không thể tìm thấy một vài phụ nữ hay trẻ em sẵn sàng rời xa người thân và đặt chân lên xuồng cứu sinh một mình.

Letler nhớ lại: Chừng nào tôi còn sống, tôi vĩnh viễn không bao giờ quên được đêm hôm ấy.

Sau khi chiếc xuồng cứu sinh đầu tiên đến, tôi nói với một người phụ nữ trên boong tàu tên là Straw: Cô có thể đi cùng tôi đến xuồng cứu sinh không?

Lại không nghĩ tới cô ấy lắc đầu: Không, tôi nghĩ tốt hơn là tôi nên ở trên tàu.

Chồng cô hỏi: Em vì sao không lên xuồng cứu nạn ?

Người phụ nữ vừa mỉm cười vừa trả lời: Không, em vẫn nên ở bên anh thôi.

Sau đó tôi không còn nhìn thấy đôi vợ chồng này nữa.

John Jacob Astor IV (được coi là một trong những người giàu nhất thế giới thời bấy giờ.), đã gửi vợ mình, người đang mang thai 5 tháng, đến xuồng cứu sinh số 4, còn ông đứng trên boong tàu, cùng với chú chó của ông, đốt một điếu thuốc xì gà, sau đó hướng về phía chiếc xuồng hét lên: Anh yêu em.

Người ta bảo ông lên thuyền, nhưng lại bị ông phẫn nộ cự tuyệt: Tôi thích câu nói lúc đầu (bảo vệ kẻ yếu), sau đó đem vị trí của ông nhường lại cho một người phụ nữ người Ailen ở khoang hạng ba.

Vài ngày sau, dưới ánh sáng bình minh của Bắc Đại Tây Dương, đội cứu hộ đã tìm thấy ông và đầu ông bị ống khói đánh vỡ.

Tài sản của ông có thể chế tạo được hơn 10 chiếc tàu Titanic, nhưng Astor từ chối tất cả các lý do chính đáng để ông thoát thân.

Chiến đấu để bảo vệ tính cách của mình là lựa chọn duy nhất của một người đàn ông tuyệt vời.

Ông trùm ngân hàng nổi tiếng Guggenheim, mặc trang phục dạ hội lộng lẫy nhất: ‘Tôi muốn được chết thật vẻ vang, như một quý ông.’

Bức thư ông để lại cho vợ có viết: ‘Chiếc thuyền này không có một người phụ nữ nào vì anh chiếm vị trí xuồng cứu nạn, mà còn lưu lại trên boong tàu.’

‘Tôi sẽ không chết như một kẻ hèn nhát, tôi sẽ chết như một người đàn ông thực sự.’

Strauss là người giàu thứ hai trên thế giới và là người sáng lập của Macy. Bất kể ông sử dụng phương pháp nào, phu nhân Rosalie luôn từ chối đi thuyền cứu sinh thứ tám. Bà nói: ‘Bao nhiêu năm rồi, bất cứ nơi nào anh đi, em sẽ đi cùng anh.’

Nhân viên cứu hộ số 8 đề nghị với ông Strauss 67 tuổi: ‘Con hứa rằng sẽ không có ai phản đối một ông lão như ông lên thuyền cứu sinh đâu ạ.’

Strauss kiên định trả lời: Tôi sẽ không bao giờ đi thuyền cứu sinh trước những người đàn ông khác.
Sau đó cầm cánh tay của Rosalie 63 tuổi, một cặp vợ chồng già cùng ngồi xổm xuống chiếc ghế mây trên boong, chờ đợi giây phút cuối cùng.

Quận Brown của thành phố New York có một tượng đài được xây dựng cho cặp vợ chồng Strauss, với dòng chữ: ‘Nước biển nhiều bao nhiêu cũng không thể nhấn chìm tình yêu.’’

Hơn 60.000 người đã tham dự bữa tiệc tưởng niệm Strauss được tổ chức tại Hội trường Carnegie ở Manhattan.

Một doanh nhân người Pháp tên Navatelle đã gửi hai đứa trẻ lên xuồng cứu sinh, ủy thác cho một số phụ nữ chăm sóc hai con, còn mình lại từ chối lên xuồng.
Sau khi hai con trai được cứu, các tờ báo từ khắp nơi trên thế giới đã đăng tải những bức ảnh của hai đứa trẻ cho đến khi mẹ chúng nhận ra chúng từ những bức ảnh, nhưng hai đứa trẻ đã vĩnh viễn mất đi cha.

Li Depas - mới kết hôn, đến Hoa Kỳ để hưởng tuần trăng mật với chồng, cô ôm chầm lấy chồng và không chịu trốn thoát một mình, chồng cô sững sờ một cách bất lực, đành phải đánh cô một cái đến bất tỉnh. Khi Li Depas tỉnh dậy, cô đã ở trên xuồng cứu nạn.

Sau đó, cả đời cô không tái giá, để tưởng nhớ người chồng quá cố.

Trong bữa tiệc của người sống sót ở Lausanne, Thụy Sĩ, bà Smith vô cùng nhớ một người mẹ vô danh: ‘Lúc ấy, hai đứa con của tôi được mang lên xuồng cứu sinh, tôi không thể lên vì quá tải. Một người phụ nữ đã ngồi trên xuồng cứu sinh rồi, thấy gia đình tôi như vậy cô ấy đột nhiên đứng dậy và rời đi, đẩy tôi lên xuồng cứu sinh và hét lên với tôi: ‘Đi lên đi, trẻ con không thể sống thiếu mẹ mẹ!’

Người phụ nữ tuyệt vời này đã không để lại một cái tên.

Chết vì tai nạn còn có tỷ phú Asid, phóng viên cao cấp Stern, pháo binh Bart, kỹ sư nổi tiếng Robb. Họ đã từ bỏ vị trí xuống xuồng cứu sinh cho những người phụ nữ nông dân.
Hơn 50 nhân viên cấp cao trên tàu Titanic, trừ thuyền phó Leiter may mắn sống sót, toàn bộ nhân viên đều chết tại vị trí của mình.

Vào lúc 2 giờ sáng, điện báo viên John Phillips đã nhận được yêu cầu từ bỏ con tàu và thoát thân, nhưng anh vẫn ngồi trong phòng báo, giữ vị trí "sos" của mình cho đến giây phút cuối cùng.

Khi đuôi tàu bắt đầu chìm xuống nước, tôi nghe thấy vào giây phút cuối cùng, vào giây phút cuối cùng của sự sống và cái chết ấy, mọi người đều hét lên: ‘Anh yêu em! Anh yêu em.’

Đó là một sự giải thích về sự vĩ đại của tình yêu đối với mỗi chúng ta! Điều quan trọng nhất là: ‘Tôi muốn để người biết, rằng tôi yêu người nhiều đến thế nào .’

Có những trường hợp ngoại lệ: Hirano là phó cố vấn của Viện Đường sắt Nhật Bản, người đàn ông này lại ăn mặc như phụ nữ và trèo lên xuồng cứu sinh số 10 đầy phụ nữ và trẻ em để trốn thoát.

Khi trở về Nhật Bản, anh ta đã bị đuổi việc ngay lập tức, sau đó anh đã bị tất cả các tờ báo Nhật Bản gọi tên công khai chỉ trích, và anh ta đã chết sau 10 năm cùng với sự ăn năn sám hối và hổ thẹn.

Công ty tàu hơi nước White Star nói với truyền thông rằng không có quy tắc hàng hải nào đòi hỏi đàn ông phải hy sinh lớn như vậy, họ làm vậy chỉ đơn giản vì sự quan tâm của kẻ mạnh đối với người yếu đuối hơn thôi, đây là lựa chọn cá nhân của họ.

Daniel Alan Butler, tác giả của ‘’Vĩnh Viễn Không Chìm’’ cảm thán: ‘’Điều này là do họ được giáo dục từ khi được sinh ra: trách nhiệm quan trọng hơn những thứ khác !’’

Nếu như bởi vì buông tay người yêu, lựa chọn sống với một đống tiền, thì ý nghĩa cuộc sống còn lại gì ?

Cuối cùng, Jack nói với Rose: ‘Em nhất định phải thoát khỏi nguy hiểm, sinh thật nhiều con, ngắm nhìn bọn trẻ trưởng thành, em sẽ tận hưởng tuổi già, ngủ yên trên chiếc giường ấm áp, chứ không phải đêm nay, ở tại chỗ này, em không phải chết đi như vậy, thắng được vé và lên chiếc tàu này...là chuyện tốt đẹp nhất của cuộc đời anh, để anh có thể gặp gỡ em.’

Một người cả đời có thể yêu nhiều người, nhưng sau khi bạn có được hạnh phúc thuộc về mình, bạn sẽ hiểu rõ đau thương khi ở bên nhau là một loại tài sản, cho phép bạn học cách nắm bắt và trân trọng những người bạn yêu thương tốt hơn.

Cho dù đó là cuộc sống hay cái chết hay bất kỳ khó khăn nào, yêu nhau rồi bàn tay sẽ mãi mãi không buông.

_______________

•Credit: weibo
• #DưaHấudịch ( Ngân Tích Họa Lang )

NHÌN ĐỜI RÕ MỚI LÀ TRƯỞNG THÀNH
---------------
1. Không nỗ lực từ bây giờ thì 5 năm sau cạp đất mà ăn.

2. Ngủ trước 11h thì da mới mịn sang xịn.

3. Bí mật nói ra luôn phải giữ lại ít nhất 30% cho riêng mình.

4. Cái gì quá cũng không tốt. Thà thiếu một tí chứ đừng thừa. Nhạt còn niêm được chứ mặn chỉ có đổ đi.

5. Thứ đã bị đốt sẽ mãi là tro. Người đã xác định đi rồi thì đừng trở lại. Níu giữ vụn vỡ để chảy máu thì được gì.

6. Đừng có than thở trên mạng xã hội. Chúng nó chỉ thích thả haha thôi.

7. Người ấy chưa chủ động thì bạn chủ động đi. Chờ làm cái gì?

8. Có những lời chưa biết có nên nói hay không, thì tốt nhất là đừng nói.

9. Làm người tốt thực sự rất khó, nhưng vì thế mà càng phải cố gắng mà làm một người tốt.

10. Đầu tư vào bản thân hơn là bạn đầu tư vào công việc, giống như cái cây muốn sống lâu phải đào rễ cho sâu hơn là trổ ra lắm lá cành.

11. Người ngu mà tỏ ra nguy hiểm không đáng sợ. Người nguy hiểm tỏ ra ngu mới thực sự đáng sợ.

12. Tự làm tự biết. Đúng sai do mình, khen chê do người.

13. Tất cả mọi người không nhất định phải thích bạn, và bạn càng không nhất định phải quan tâm đến điều ấy.

14. Đừng có tìm cách “thử lòng” gia đình, bạn bè, người yêu. Thử ra kết quả rồi, lại hối không kịp.
15. Khi bố mẹ hỏi bạn cách dùng đồ công nghệ, hãy kiên nhẫn. Nhớ lại họ đã từng dạy bạn cách dùng đũa thìa thế nào.
16. Chìa khóa cho hạnh phúc của mình, sao lại phải đặt trong túi của người khác?
17. Đời quá ngắn. Gặp ai mà ta có thể giả vờ không quen biết thì cứ giả vờ đi.

18. Do dự có nên ăn hay không thì đừng ăn. Do dự có nên làm hay không thì hãy làm.

19. Chọn không tranh luận với kẻ ngu chính là một cảnh giới nghệ thuật.

20. Hối hận sau khi chia tay, quan tâm sau khi hết yêu, lòng tự tôn quá cao ngạo, sự lương thiện không đúng chỗ. Đó là 4 thứ vô dụng nhất trong thế giới tình cảm.

[03/21/20]   * Có thể bạn chưa biết:
Lời tự thuật của Thi sĩ HỮU LOAN,
tác giả "MÀU TÍM HOA SIM"

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.
Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ ...
Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa. Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”. Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …
Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.
Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi "hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi! Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông …
Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi …
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.
Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.
Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.
MÀU TÍM HOA SIM
(Nguyên văn của tác giả)

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệrớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…

(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)
Hữu Loan

© Hữu Loan
Nguồn: Huỳnh Ngọc Chênh blog.

Học Văn bằng phương pháp khoa học và sự mê đắm của cảm xúc!

Lớp Văn do thầy Đặng Ngọc Khương - GV Luyện thi Ngữ văn nổi tiếng tại Hà Nội phụ trách là một trong số những địa chỉ học Văn - Luyện thi Văn đáng tin cậy hiện nay. Đến với lớp học của thầy Khương, các em học sinh sẽ được Thấy chia sẻ những kiến thức trọng tâm, hệ thống, khoa học và phương pháp học Văn hiệu quả nhất. Học với thầy Khương các em sẽ có cảm nhận văn chương không ướt át, mơ hồ, khuôn sáo mà đặc biệt sống động, chân thực, logic

Hãy đến để cảm nhận... SĐT liên hệ: 0973.695.583

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Videos (show all)

Location

Telephone

Website

lopvanthaykhuong.com

Address


Hanoi
10000
Other Hanoi schools & colleges (show all)
Dạy Piano tại Long Biên, Thạch Bàn, Phúc Lợi, Vinhomes Riverside Dạy Piano tại Long Biên, Thạch Bàn, Phúc Lợi, Vinhomes Riverside
Long Biên
Hanoi

Nhận dạy đàn piano cho mọi lứa tuổi tại khu vực Long Biên Chuyên cung các loại đàn piano cơ, piano điện chất lượng tốt với mức giá ưu đãi. Liên lạc: 0911117495(Ms.Huyền)

Luyện Tiếng Anh Du Học Luyện Tiếng Anh Du Học
101 B2 Mai Dịch
Hanoi, 10000

Chắp cánh ước mơ du học của bạn với một lộ trình rõ ràng và hiệu quả, hãy bắt đầu sớm nhất để con/em bạn bước ra thế giới với vị thế tự tin nhất.

CES Study CES Study
Tầng 8, Số 137 Hoàng Quốc Việt, Nghĩa Đô, Cầu Giấy
Hanoi, 122102

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn du học, chọn khóa, chọn trường, và các dịch vụ liên quan đến du học các nước Anh, Úc, Mỹ, New ZeaLand, Canada, ...

Trung cấp Thư viện Thiết bị trường học Trung cấp Thư viện Thiết bị trường học
Số 6 Ngõ 97 - Phố Phạm Ngọc Thạch - Kim Liên - Đống Đa
Hanoi, 084

Trường Trung cấp Công nghệ và Quản trị Đông Đô tuyển sinh liên tục các lớp Trung cấp Thư viện tại Hà Nội trong năm.

Học thử Tiếng Anh trẻ em Miễn phí cho bé 3-16 tuổi tại ADH Hà Nội Học thử Tiếng Anh trẻ em Miễn phí cho bé 3-16 tuổi tại ADH Hà Nội
Hà Nội
Hanoi, 10000

"Học thử để biết thật" Gọi ngay 0923039990 để được xếp lớp sớm. Tiếng Anh Trẻ em ADH chuyên đào tạo tiếng anh cho bé 3-16 tuổi. NÓI KHÔNG VỚI TÂY BA LÔ.

Dạy Nghề Sửa Chữa ô tô - Lái Xe B2 Dạy Nghề Sửa Chữa ô tô - Lái Xe B2
111 Phan Trọng Tuệ - Thanh Trì
Hanoi

Dạy nghề ngắn hạn - dạy nghề miễn phí cho Bộ đội xuất ngũ, có chỗ ở nội trú cho học viên, nhận hồ sơ và khai giảng thường xuyên. có giới thiệu việc làm.

AcuVietnam AcuVietnam
Hanoi

Providing Unique opportunities for International TCM Acupuncturists, Medical Practitioners & those who have an interest in learning more about this fascinating medicine in Vietnam, and now all over EUROPE specialised programs now avail.

MẦM NON QUANG MINH MẦM NON QUANG MINH
Nhà N04 Tòa 1 - Tầng 1 Khu Chung Cư Ngoại Giao Đoàn - Xuân Đỉnh - Từ Liêm
Hanoi

Veo Yoga - Giáo viên Yoga Veo Yoga - Giáo viên Yoga
Green Star - 243 Phạm Văn Đồng
Hanoi, 100000

Veo Yoga - Cung cấp giáo viên Yoga cá nhân, giáo viên yoga PT, giáo viên Yoga tại nhà, giáo viên Yoga theo nhóm và Yoga cho doanh nghiệp chuyên nghiệp và tận tâm, chi phí tối ưu nhất tại Hà Nội!

Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Việt Nam Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Việt Nam
35 Đại Cồ Việt, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Hanoi

Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Việt Nam

TH Hamlet TH Hamlet
Số 4-6 Chùa Bộc
Hanoi

TH Hamlet - Ấp TH is the official fanpage of TH School’s Student Council which aims to: -Be the bridge between SC and TH-ers -Offer an insight of what it is to be a TH-er Now, shall we explore TH School through multi-perspective lens from our student

Trung tâm dạy tiếng Trung tại Cầu Giấy Hà Nội Trung tâm dạy tiếng Trung tại Cầu Giấy Hà Nội
Số 12, Ngõ 39, Hồ Tùng Mậu, Mai Dịch, Cầu Giấy
Hanoi, 100000

Tiếng Trung Ánh Dương - Chuyên đào tạo tiếng Trung uy tín chất lượng tại Hà Nội