MDVN

MDVN

Comments

🍀TUYỂN NGƯỜI ĐĂNG BÀI FB! 🍀 👉 Cần người nghiêm túc. 👉 Không lừa đảo 👉 Không bán hàng ✌✌ Yêu cầu: biết đăng bài trên nhóm FB💋 💥💥💥Hãy ib ngay zalo để đc tư vấn nhé.😍 👍👍Bạn sẽ k hối hận đâu 😘 ZALO: 0562865431 (Nga)

Fanpage chính thức của nhóm QRVN ☑️

Operating as usual

BỨC TRANH 450 NĂM TUỔI NÀY ẨN CHỨA HƠN 100 CÂU TỤC NGỮ ẨN MÀ CHÚNG TA VẪN SỬ DỤNG CHO ĐẾN NGÀY NAY

Tác giả: Kamna Kabir

---------------------------------

Netherlandish Proverbs (tạm dịch: Những câu tục ngữ Hà Lan) là một bức tranh sơn dầu trên gỗ sồi được vẽ bởi Pieter Bruegel the Elder vào năm 1559. Kiệt tác này bao hàm khoảng 112 câu tục ngữ và thành ngữ tiếng Anh; một vài trong số đó vẫn đang được sử dụng phổ biến.

100 năm trước khi tác phẩm của Bruegel ra đời, những người Hà Lan đã yêu thích tục ngữ và thường dùng chúng trong ngôn ngữ của họ. Desiderius Erasmus, nhà triết học và học giả người Hà Lan là người đầu tiên xuất bản Adagia - một tuyển tập phong phú bao gồm các câu tục ngữ và thành ngữ.

Brugel đã thực hiện một số bức tranh miêu tả những câu tục ngữ và thành ngữ ẩn. Song, đây là một trong những tác phẩm đáng chú ý nhất của ông - The Netherlandish Proverbs được ca ngợi bởi sự miêu tả có trật tự và những khung cảnh tích hợp.

1️⃣ Diễn giải biểu tượng của những câu tục ngữ Hà Lan

Bức tranh còn có tên gọi The Dutch Proverbs, The Blue Cloak, or The Topsy Turvy World (Những câu tục ngữ Hà Lan, Chiếc áo choàng xanh hay Một thế giới đảo lộn) miêu tả các nhân vật trong một không gian toàn cảnh ẩn chứa hơn 100 câu tục ngữ.

The Blue Cloak, tên gọi gốc của tác phẩm, nằm ở trung tâm bức tranh và được khoác lên một người đàn ông bởi vợ của ông ta - ẩn ý cho việc bà đang ngoại tình. Ngôi làng được đặt ở gần biển với những túp lều đổ nát và phía xa là mặt biển rộng mở trong ánh nắng ngày cuối hè.

Dụng ý của Bruegel không chỉ dừng lại ở việc minh hoạ các câu tục ngữ; ông còn muốn vạch trần sự điên rồ của con người và những nguy cơ mà sự điên rồ đó dẫn đến tội lỗi. ‘Một thế giới đảo lộn’ được thể hiện qua hình ảnh quả địa cầu bị lộn ngược và chúng ta sống ở một thế giới mà không gì giống như nó vốn có.

Những màu đỏ và xanh rực rỡ trên nền bức tranh thiết lập nhịp độ tiến triển theo quan điểm biểu tượng học và phân định ranh giới giữa những cảnh điên rồ, tội lỗi. Thế giới màu xanh - đầy dại dột và hỗn loạn - được đặt ở bên trái bức tranh, trong khi màu đỏ nói chung biểu thị cho sự lừa dối và phản bội. Đức Chúa Giêsu, trong bộ lễ phục màu xanh, là nạn nhân của sự bội bạc và điên rồ của một tu sĩ - kẻ đã đặt Người lên một chiếc ghế đỏ.

2️⃣ Một số tục ngữ và thành ngữ nổi bật trong bức tranh

Những câu tục ngữ được ẩn trong khung cảnh có phần kỳ cục nhưng giàu tính sáng tạo.

▪️ The world is turned upside down: Thế giới bị đảo lộn (phía trên bên trái bức tranh) - mọi thứ đều sai trật tự và diễn ra theo cách trái ngược với lẽ thường.

▪️ She put a blue cloak on her husband: Người phụ nữ khoác chiếc áo choàng xanh lên chồng mình (ở giữa, phía dưới bức tranh) - bà đang ngoại tình sau lưng ông.

▪️ To confess to the Devil: Xưng tội với quỷ dữ (chính giữa bức tranh) - ám chỉ việc chia sẻ bí mật với kẻ thù.

▪️ To tie a flaxen beard to the face of Christ: Gắn bộ râu lanh lên khuôn mặt của Đức Chúa Giêsu - che giấu tội lỗi dưới danh nghĩa tôn giáo và Chúa.

▪️ The pig is stabbed through the belly: Con lợn bị đâm xuyên bụng (chính giữa bức tranh) - những hành động không thể vãn hồi.

▪️ To be unable to see the sunshine on the water: Không thể nhìn thấy ánh mặt trời trên mặt nước (ở giữa bức tranh) - tỏ ra ghen tị với thành công của người khác.

▪️ To be a pillar-biter: Trở thành một kẻ cắn cột trụ (phía dưới, bên trái bức tranh) - gây ra tội lỗi dưới vỏ bọc tôn giáo.

(ND) Một số tài liệu dịch nghĩa “a pillar-biter" là một kẻ đạo đức giả.

▪️ To play on the pillory: Chơi trên một cái giàn gông (ở giữa, phía trên bức tranh) - thu hút sự chú ý đến những hành vi ngốc nghếch và đáng xấu hổ.

“Bức tranh tục ngữ" này là sự kết hợp cổ điển giữa văn học và hội họa. Chính trí tưởng tượng mạnh mẽ của Brugel về những ý tưởng đạo đức và tôn giáo trong thời đại của ông đã mang lại giá trị vượt thời gian cho tác phẩm.

-------------------------------

Đề nghị giữ nguyên credit dưới đây khi chia sẻ bài viết!!!

Bài đăng gốc: https://link.medium.com/RBllOE2bAcb

Cảm ơn bài dịch của bạn Khuynh Anh được đăng tại group QRVN:

https://www.facebook.com/groups/vietnamquora/permalink/2868679336698517

#MDVN #QRVN

TẠI SAO TRIẾT HỌC KHÔNG ĐƯỢC DẠY Ở TRƯỜNG?

Author: Jon Hawkins

--------------------------

Và dưới đây lại là những kĩ năng mà chốn học thuật không thể cung cấp cho học sinh.

--------------------------

Khi lên sáu, tôi thường hay tưởng tượng mấy mảnh ngũ cốc Cheerios đang la hét thảm thiết trong tô, cầu xin tôi đừng ăn nó khi tôi đang dùng bữa sáng.

Khi tôi lên chín, tôi đã bắt đầu hỏi những câu hỏi sâu hơn về ý nghĩa cuộc đời – tại sao chúng ta lại tồn tại, và tại sao lại tồn tại một cái gì đó thay vì chẳng có gì tồn tại cả?

Khi học tiểu học, những câu hỏi kiểu như vậy đã bị phớt lờ. Chúng bị gắn mác là vô nghĩa hay chỉ là thứ tò mò vớ vẩn của trẻ con. Những câu hỏi này còn bị cho là giả tưởng – vốn chẳng hơn gì những câu hỏi về các nhân vật trong chương trình ti vi, hay những người bạn tưởng tượng của tôi.

Nhưng, tôi đã khá nông cạn, rằng với tuổi lên chín, những câu hỏi như vậy không hề vô nghĩa chút nào. Thay vào đó, nó còn phản ánh những câu hỏi mà nhiều vĩ nhân trên thế giới đã luôn trăn trở hàng trăm năm qua.

Tưởng tượng của tôi về mấy mẫu ngũ cốc Cheerios, không hẳn là một khẳng định quái kì. Nó phản ánh niềm tin thuộc về Toàn tâm luận (Panspychism): niềm tin rằng mọi thứ tồn tại trong thực tại, từ sợi nguyên bào trong não bạn đến hạt cà phê, đều có ý thức hay khía cạnh tinh thần.

Hóa ra, tôi đã thắc mắc một trong số những câu hỏi lớn về cuộc đời mà vẫn còn bỏ ngõ.

Và khi 9 tuổi, tôi đã suy tư như một Triết gia.

“Nghĩa vụ đầu tiên của một người, đó là phải biết tự suy tư cho chính mình” ― Jose Marti

🔸 Sự tò mò trẻ con của bạn có tiềm năng nhiều đến vô biên

Trong một buổi phỏng vấn với The Panpsycast, Giáo sư Stephen Mumford đã khẳng định rằng:

“Triết học có cái nền nhà thấp, nhưng trần nhà thì lại vô cùng cao lớn”

Với câu nói như vậy, ông ấy ý muốn nói là, ai cũng có thể tiếp cận và học tập Triết học. Ai cũng có khả năng suy nghĩ về ý nghĩa của thực tại – dù cho những suy tư này chỉ ở mức độ trẻ con.

Dù cho khi bạn chỉ mới lên 6 tuổi và học tiểu học, hay sau này trở nên khôn ngoan hơn khi trưởng thành. Năm này qua tháng nọ, chúng ta đều ngồi lại bên nhau và tự hỏi:

▫️ Cái gì khiến cho một thứ đúng đắn hay sai trái? (Câu hỏi này thuộc về một nhánh Triết học được gọi là Đạo đức học – Morality)

▫️ Tại sao lại tồn tại thứ gì đó thay vì chẳng tồn tại gì cả? (Thuộc về nhánh Triết học Siêu hình học – Metaphysics)

▫️ Chuyện gì xảy ra sau cái chết. (Thuộc về một nhánh gọi là Triết học Hiện sinh – Existentialism)

Dù bạn có để ý hay không thì khi nghĩ đến những câu hỏi tương tự: bạn đã học tập Triết học rồi.

Và, theo như Mumford đã chỉ ra: những loại câu hỏi kiểu này có những tiềm năng vô hạn. Hàng thế kỉ trôi qua, các câu hỏi này đã được tranh luận và diễn giải bởi một số những vĩ nhân có tầm ảnh hưởng hàng đầu thế giới.

Kể cả câu hỏi “Có đúng không khi hi sinh một người để cứu năm người” đã được đẩy đến giới hạn lý thuyết của nó. Hàng trăm, nếu không nói là đến hàng ngàn bài nghiên cứu, báo chí và sách vở bàn luận về câu hỏi này.

Và những câu hỏi rủi ro này mang lại những giá trị vô biên. Nói ngắn gọn, nó cho chúng ta thấy sự thật về thực tại là gì, và cái gì là quan trọng. Nó còn khuyến khích một sự chuyển dịch về giá trị, và giúp người khác sống trọn vẹn mỗi ngày.

Rồi, nhưng dù vậy tại sao Triết học vẫn không được dạy ở trường?
Tại sao, những giá trị của Triết học bị xã hội phớt lờ đi?

Có một vài lý do Triết học không được cho phép dạy tại chốn học thuật:

1️⃣ Chân lý, bằng mọi giá

Nhiều Triết gia có tầm ảnh hưởng luôn bắt đầu nhắm đến một tôn chỉ chủ chốt:

Họ muốn khám phá ra chân lý

Dù chủ đề thảo luận là gì, Triết học được biết là phải tìm ra chân lý bằng bất cứ giá nào.

Và họ sẽ làm bất kì cái gì và làm mọi thứ trong quyền hạn của mình để tìm cho ra câu trả lời – bất kể chuyện gì.

Đương nhiên, điều này rất là rắc rối bởi một số sự suy xét triết học này là nguy hại đối với những người xung quanh. Ví dụ một số như:

▫️ Những Triết gia tranh luận rằng “Phụ nữ chuyển giới không nên được phân loại là phụ nữ”, khiến cho các thành phần thuộc nhóm này vốn đã bị xã hội chèn ép lại còn thêm yếu thế.

▫️ Peter Singer cho rằng ấu dâm có thể, ít nhất là trong lý thuyết, chấp nhận được theo phương diện đạo đức. Điều này gây nên làn sóng phẫn nộ và tức giận ở các nạn nhân của nạn ấu dâm.

Trường học đáng ra phải là một nơi an toàn. Bây giờ trong năm 2020, hệ thống giáo dục ít quan tâm hơn về chân lý, mà chú trọng nhiều hơn về chất lượng cuộc sống, đảm bảo những trải nghiệm và cung cấp sự bảo hộ.

Rất rõ ràng, rằng những suy xét Triết học kiểu này không thể có chỗ trong lớp học – vì chúng có thể sẽ khơi mào nạn bắt nạt và làm nặng thêm sự yếu thế, dù cho chúng có cần để tìm ra chân lý.

“Hòa bình, nếu có thể. Chân lý, bằng mọi giá.” — Martin Luther

2️⃣ Cách Mạng

Theo Ask Philosophy, môn Triết bị tránh né trong trường vì nó có thể khơi mào một cuộc Cách mạng.

Trường học, và những công việc làm công ăn lương mà hệ thống giáo dục dẫn dắt chúng ta vào, vô cùng cứng nhắc. Chúng khuyến khích ta làm như đã được bảo, tuân thủ nguyên tắc luật lệ và coi những lời giáo viên nói như là sự thật.

Triết học, là con kì đà cản mũi đối với hệ thống này.

Triết học nhắc bạn phải thắc mắc về tính đúng đắn của mọi thứ - từ những thứ bạn được bảo ban, cho đến cấu trúc xã hội mà bạn đang sinh sống.

Triết học khuyên bạn phải đặt câu hỏi và thách thức những gì giáo viên nói, thậm chí hỏi tại sao giờ ăn trưa lại đặt là 12:30 phút chứ không phải giờ khác.

Hệ thống trường học muốn duy trì cấu trúc và trật tự - vì lý do này mà tuân thủ luật lệ thì được thưởng, còn hỏi han một cách đầy ưu tư như Triết học sẽ bị trừng phạt.

🔸Những kĩ năng cuộc đời mà các trường học nên dạy

Có vẻ như, việc phân đôi này của tôi đã sai lầm. Chúng ta không cần phải chọn giữa việc học Triết hay sự Toàn trị hay Cách mạng.

Có một vùng xám ở giữa, và đây là cách mà những trường dạy Triết học đã tham khảo.

Những ngôi trường này đặt nên luật lệ với Triết học trong lớp. Họ có những buổi tranh luận để tìm ra chân lý – đồng thời với việc duy trì các nội dung bị cấm, luật lệ và giới hạn. Việc không làm ai đó bị tổn thương hay áp chế cũng được thực thi.

Ví dụ về ấu dâm ở trên, thì việc tranh luận liệu ấu dâm có phù hợp đạo đức hay không được xem là đi quá giới hạn: chẳng có giá trị gì khi tìm ra chân lý của việc này, bù lại cái giá phải trả cho sự áp chế và bất công là quá lớn.

Và tôi tin rằng, đây sẽ là hình thức được ưa chuộng của Triết học trong thế kỉ 21 này.

Vì đã học qua môi trường học tập Triết học như vậy tại Đại học, khá rõ rằng hình thức Triết học như thế này mang lại những giá trị to lớn.

1️⃣ Những quan điểm độc nhất

Trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ, tin rằng thế giới này xoay quanh chúng.
Nhưng Triết học có thể dạy cho chúng rằng, mọi người trên thế gian đều có những quan điểm cá nhân độc nhất: mỗi chúng ta là những thực thể có ý thức độc nhất vô nhị với trải nghiệm hoàn toàn khác nhau, mang theo bên mình những chân lý khác biệt.
Khi bạn bắt đầu kiếm tìm chân lý, mọi quan điểm được đưa ra bởi mỗi người nên được xem như ngang hàng – vì mỗi quan điểm như vậy đều là những chìa khóa tiềm tàng mở ra những sự thật khách quan.

Có thể so sánh việc này giống như trong tòa án: chúng ta đều phải xem lời khai của các nhân chứng đều có tầm quan trọng như nhau, vì mỗi người đều có những khía cạnh độc nhất và chúng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tìm ra nguyên nhân của một vụ án.

Triết học, vì thế, dạy cho chúng ta cách ngồi xuống, lắng nghe, và tôn trọng giá trị của những trải nghiệm, cuộc đời người khác.

Triết học giúp cho trẻ em đạt được trạng thái Sonder (State of Sonder - sự thức tỉnh rằng ngoài mình còn có những cuộc đời khác). Hơn là ái kỉ về bản thân và tự cho rằng chỉ có ý kiến của chúng, quan điểm của chúng và trải nghiệm của chúng mới là quan trọng.

2️⃣ Triết học dạy ta những điều mà Google không thể

Trái ngọt của Triết học đó chính là tư duy phản biện. Thay vì chấp nhận mọi thứ mà ta được bảo ban, nó muốn ta phải tự suy nghĩ cho chính mình.

Và trong thế kỉ 21 này, điều này thực sự rất được ưa chuộng: kể cả trong thế giới việc làm hay trong cuộc sống hằng ngày.

Trước hết, nó giúp bạn đánh giá khách quan và khám phá ra những điều mà bạn bị dối trá, hay bạn là nạn nhân của thứ Triết học giả tạo.

Nhưng quan trọng hơn, Triết học cho ta những kĩ năng phản biện để suy nghĩ một cách logic và độc lập mà không cần ai giúp hay có những kiến thức gì trước đó.

Theo The Guardian, đây là những kĩ năng mà rất ít người có. Thực tế thì người ta không suy nghĩ tích cực đâu – họ chỉ tìm câu hỏi trên Google rồi chấp nhận mọi câu trả lời được ghi trên đó.

Bên cạnh đó, Triết học còn dạy bạn những điều mà Google không thể.

Khi bạn đã có được “chiếc mũ Triết gia”, bạn sẽ bắt đầu tự hỏi về tính hiệu quả của mọi thứ. Và điều này sẽ mở khóa cho bạn khả năng để trả lời với những thứ tiềm tàng nội tại, tự làm chủ tư duy của mình – hơn là phụ thuộc vào thứ gì đó có vẻ như còn không phải là chân lý.

Đây là kĩ năng rất đáng có trong thế giới việc làm. Dù sao thì, không ai muốn thuê một con robot không tư duy chỉ suốt ngày làm và chấp nhận nghe theo những gì mà nó được giao cho.
Lời kết

Lý do sự hạn chế giảng dạy Triết học trong chương trình đào tạo của trường học đã rõ. Giáo viên muốn duy trì quyền lực và cấu trúc hà khắc trong lớp, Triết học lại là thứ gây phương hại đến điều này.

Nhưng tôi tin rằng sự lựa chọn một trong hai giữa Triết học và Bá Quyền là một sai lầm. Như đã nói vẫn còn có vùng xám chen giữa – và bằng cách chú ý hơn, chúng ta có thể học tập Triết học mà không gây nên hiệu ứng áp chế bất kì một nhóm người nào trong xã hội.

Một số trường học còn giảng dạy Triết học tham khảo mô hình này.

Triết học rất đáng – thay vì là khuyến khích bạn nghe rồi làm những gì được bảo, hay do cảm tính mách bảo thì nó mời gọi bạn tự ưu tư cho bản thân mình. Kể cả trong thế giới thực hay thế giới làm việc, thì tự nghĩ cho mình rất là quan trọng.

Chính vì vậy, tôi mời bạn thử thách bản thân với một vài suy xét Triết học. Bằng cách nào đây? Bắt đầu bằng cách mà tôi đã tự làm như hồi 9 tuổi. Tự nghĩ cho mình và đặt câu hỏi – không quan trọng suy nghĩ của bạn có rộng lớn đến đâu.

Làm vậy sẽ khiến bạn tiến gần hơn đến với chân lý của thực tại, và xa rời khỏi dối trá cũng như thứ triết học ngụy tạo.

“Một cuộc đời không được khám phá là một cuộc đời không đáng sống” – Socrates

-----------------------------------------

Đề nghị giữ nguyên credit dưới đây khi chia sẻ bài viết!!!

Bài đăng gốc: https://link.medium.com/MnqucwW7Bab

Cảm ơn bài dịch của bạn Lê Cường được đăng tại group QRVN:

https://www.facebook.com/groups/vietnamquora/permalink/2804897126410072

#MDVN #QRVN

IKIGAI KHÔNG PHẢI LÀ MỘT CHIẾC BIỂU ĐỒ VENN

Tác giả: Nicholas Kemp

--------------------------------------------

Ở ngoài lãnh thổ Nhật Bản, ikigai là một khái niệm đang bị hiểu sai rất nhiều. Hàng triệu người tin ikigai là một bộ khung 4 câu hỏi và là “bí quyết của người Nhật” để có cuộc sống lâu dài và hạnh phúc.
Hàng triệu blogger về sống khỏe (wellness), chuyên gia khai vấn (life coach) và các quản lí nhân sự đã chia sẻ những thông tin được cho là nói về ikigai, trình bày dưới dạng một biểu đồ Venn. Biểu đồ này được tạo ra bởi một người nào đó, không phải là người Nhật, có được kiến ​​thức duy nhất về khái niệm ikigai từ một buổi TED Talk.

---

⏺ Ikigai KHÔNG phải:

• một biểu đồ Venn
• một khái niệm có nguồn gốc từ Okinawa
• bí quyết sống lâu và hạnh phúc của người Nhật

Đọc được điều này có thể khiến bạn thất vọng. Nhưng bạn nên hài lòng khi khám phá ra rằng, ikigai còn vượt lên trên những gì được mô tả trong “Biểu đồ Venn Ikigai” và nó thực sự có thể giúp bạn tìm thấy mục đích và ý nghĩa cuộc đời, vượt ra khỏi phạm vi nghề nghiệp hay công việc.

Ikigai là một từ bao gồm 2 phần, iki và gai

- Iki đến từ động từ ikiru: sống – liên quan đến đời sống hàng ngày
- Gai: giá trị, đến từ từ ‘kai’, là cái vỏ sò trong tiếng Nhật

Trong thời Heian (794 – 1185), vỏ sò từng vô cùng có giá. Chúng được tô vẽ lên và sử dụng trong trò chơi Kaiawase – tìm vỏ sò. Trò chơi này phổ biến trong giới quý tộc Nhật Bản, do đó nó liên hệ với giá trị của từ này.

Gai là một tiền tố thường được sử dụng cùng các động từ khác, chẳng hạn:

- Yarigai – giá trị của việc làm (yaru – làm)
- Hatarakigai – giá trị của làm việc (hataraku – làm việc/ work)
- Asobigai – giá trị của việc chơi (asobu – chơi)
- Shinigai – giá trị của việc chết đi (shinu – chết)

“Gai” liên quan đến giá trị từ việc làm, vậy nên định nghĩa ngắn gọn của ikigai có thể là “giá trị mà một người tìm thấy trong cuộc sống thường nhật”.

Đối với người Nhật Bản, Ikigai là một từ thông dụng trong trò chuyện, không có sự cường điệu hay huyên náo như khi phương Tây nhắc đến nó. Tuy khái niệm Ikigai quan trọng, bản thân từ này không phải là thứ mà người Nhật Bản sẽ dành sự chú ý đặc biệt trong khi nói chuyện.

⏺ Cách hiểu sai về Ikigai

Như giờ đây bạn đã hiểu, Ikigai không phải là sự hội tụ của 4 yếu tố liên quan đến nghề nghiệp bao gồm làm
• thứ bạn yêu thích
• thứ thế giới cần
• thứ bạn làm giỏi
• thứ mang lại thu nhập

Người Nhật không đi theo khung này hay suy ngẫm về 4 câu hỏi đó khi nghĩ về Ikigai của họ. Nếu bạn có đưa “Biểu đồ Venn Ikigai” cho một người Nhật xem, họ hẳn sẽ bộc lộ sự bối rối và ngạc nhiên.

Trong khi đây là một framework hữu ích, nó không có nguồn gốc từ nước Nhật, và nó cũng không có liên quan gì đến ikigai. Cùng lắm chúng ta có thể nói rằng đây là cách diễn giải của phương Tây. Nhưng sự thật là, nó là kết quả từ một ý tưởng của một người nhằm đem hai khái niệm, một trong số đó người đó chưa hiểu, gộp làm một.

⏺ Nguồn gốc của Biểu đồ Venn

Framework “làm việc bạn thích, thành thạo, thế giới cần và bạn có thể kiếm thu nhập từ nó” được làm nên bởi nhà chiêm tinh Andres Zuzunaga. Nó ra mắt lần đầu tiên vào năm 2012 trong cuốn sách Qué Harías Si No Tuvieras Miedo (Bạn sẽ làm gì nếu bạn không sợ ?) của tác giả Borja Vilaseca. Tác giả của biểu đồ Venn này là Andres Zuzunaga. Tôi đã phỏng vấn Andres, và anh ấy tiết lộ rằng Sơ đồ Venn “Mục Đích” của mình thực ra được lấy cảm hứng từ việc nghiên cứu các biểu đồ sinh (natal charts). Như vậy, cảm hứng của sơ đồ Venn này đến từ các vì sao, chứ không phải nước Nhật.

Nếu bạn muốn công nhận công lao một cách xác đáng, thì ” Biểu Đồ Venn Zuzunaga Về Mục Đích” nên là được đặt cho để nhắc đến framework này. Bạn có thể thấy thiết kế của framework gốc trong tiếng Tây Ban Nha. Có lẽ vấn đề với sơ đồ Venn của Andres là anh ấy đã không đặt đúng tên cho nó.

“Sơ đồ Ikigai Venn” ra đời khi doanh nhân Marc Winn nghĩ rằng sẽ là một ý tưởng hay nếu hợp nhất sơ đồ Venn Mục Đích (Purpose) nêu trên với Ikigai và chia sẻ ở một bài đăng blog. Vào thời điểm đó, kiến thức duy nhất của anh ấy về ikigai là từ bài nói chuyện Ted của Dan Buettner (“How to Live To Be 100+)
Marc đăng bài cùng hình ảnh trên website của mình vào ngày 14/5/2014. Sau đó, hàng triệu người đã chia sẻ và sao chép nó.
Cùng với đồ họa Ikigai của mình, Marc viết: “Sau khi đã dành phần lớn thời gian trong vài năm qua giúp đỡ hàng chục doanh nhân tìm thấy ikigai của họ, và cùng lúc tìm kiếm ikigai của riêng tôi, giờ đây tôi có thể hình dung nơi nó thuộc về. (...) Ikigai của bạn nằm ở vị trí trung tâm của các vòng kết nối. Nếu bạn đang thiếu tại một khu vực nào đó, bạn đang bỏ lỡ tiềm năng trong cuộc sống. Không những thế, bạn đang bỏ lỡ cơ hội sống lâu và hạnh phúc.”

Giờ thì các bạn đã hiểu, đây hoàn toàn là hình dung của cá nhân Marc về ikigai, chứ không phải ý nghĩa của khái niệm này đối với người Nhật.

Trên thực tế, bạn có thể nghe thấy điều đó đến từ chính Marc trong video này (youtu.be/AC6vtCqwjLM)

Tôi đã có dịp phỏng vấn Marc trong podcast Ikigai của tôi. Marc tiết lộ, anh ấy chỉ cần dành ra 45 phút để viết bài và nó như là “một ý tưởng nảy ra trong tôi trong một khoảnh khắc, tại một thời điểm.” Trong một bài đăng nối tiếp, Marc viết: “Vào năm 2014, tôi viết một bài đăng với chủ đề Ikigai. Trong bài đó, tôi kết hợp 2 khái niệm để tạo ra một thứ mới. Về cơ bản, tôi đã hợp nhất một biểu đồ Venn về 'mục đích' với khái niệm Ikigai của Dan Buettner có liên quan đến việc sống đến hơn 100 tuổi. Toàn bộ việc tôi cố gắng làm là thay đổi một từ ngữ trên một biểu đồ và chia sẻ một meme “mới” với thế giới.”

Nhưng buồn cười ở chỗ, trong bài TED Talk của mình, Dan Buettner nêu ra ba ví dụ về những người bách niên thực hành ikigai của họ khi tìm mục đích và ý nghĩa trong gia đình và cộng đồng. Họ làm khác hẳn với những gì mà biểu đồ ikigai Venn của Marc đã mô tả - một khung hướng dẫn các doanh nhân tạo nên công việc kinh doanh có mục đích.

Điều này đã nêu bật một thông tin rất quan trọng: đối với người Nhật, Ikigai không có liên quan gì tới việc kiếm tiền.

Đối với người Nhật, từ ‘ikigai’ thường được sử dụng để chỉ nguồn gốc của giá trị trong cuộc sống hay những thứ làm cho cuộc sống đáng sống. Theo như nhà thần kinh học, đồng thời là một tác giả người Nhật, Ken Mogi thì ikigai là một phổ (spectrum) bao gồm trong đó tất cả những thứ chúng ta trân trọng, từ những niềm vui nho nhỏ trong cuộc sống cho đến việc theo đuổi các mục tiêu có tính định nghĩa cuộc đời.

Noriyuki Nakashi, người có bằng Tiến sĩ Y tế Công cộng, từ Đại học Osaka, viết: “Ikigai mang tính cá nhân: nó phản chiếu nội tâm của một cá nhân và thể hiện nội tâm đó ra một cách trung thực.”
Ikigai, là mong cầu (desire) ở mức độ cao nhất, có thể được coi một cách căn bản là quá trình đào sâu tiềm năng bên trong của một người và là thứ khiến cuộc sống trở nên quan trọng, và đây là thứ trải nghiệm con người phổ quát mà chúng ta đều ước ao đạt được.
Mặc dù bị hiểu sai thành “bí quyết từ Nhật Bản” để có một cuộc sống lâu dài và hạnh phúc, người ta tin rằng ikigai có thể đóng góp vào sức khỏe bởi nó liên quan mật thiết đến sự sáng tạo và không thể thiếu để xây dựng well-being (ND: trạng thái khỏe mạnh, hạnh phúc)

⏺ Năm Trụ cột trong Ikigai

Nếu bạn đang tìm kiếm khung để thực hành thì bạn có thể dùng Khung 5 trụ cột của Ken Mogi từ cuốn sách của ông, The Little Book of Ikigai

Năm trụ cột của Ikigai:

• Trụ cột 1: Bắt đầu nhỏ
• Trụ cột 2: Giải phóng bản thân
• Trụ cột 3: Hài hòa và bền vững
• Trụ cột 4: Niềm vui từ những điều nhỏ bé
• Trụ cột 5: Ở tại đây và tại lúc này

Trong cuốn sách của mình, Ken nói rằng, 5 trụ cột có thể được sử dụng làm nền tảng tạo điều kiện cho ikigai của bạn phát triển. Ken cũng nói rằng 1. việc hướng vào đứa trẻ bên trong con người mình, 2. sự chủ động và quan trọng nhất, 3. chấp nhận bản thân, sẽ giúp chúng ta tìm thấy ikigai của mình.

Sau cùng, bí quyết lớn nhất của ikigai phải là sự chấp nhận bản thân - việc một người có thể ngẫu nhiên có được những đặc điểm riêng biệt từ lúc sinh ra không quan trọng. Không có cách duy nhất, tối ưu để đạt được ikigai. Mỗi người phải tìm kiếm ikigai của riêng mình, trong vô số những tính cá nhân riêng biệt của chúng ta.

---

Lấy cảm hứng từ khuôn khổ năm trụ cột của Ken Mogi và các nghiên cứu khác tôi thu thập được từ các cuộc phỏng vấn với một số giảng viên ĐH Nhật Bản và tác giả Nhật, tôi (Nicholas Kemp) đã tạo một biểu đồ Venn để thể hiện ý nghĩa của ikigai đối với người Nhật là như thế nào.

⏺ Sơ đồ Venn Ikigai Nhật Bản (ND: Hình ở comment)

Trong cách thể hiện này, cuộc sống thường nhật của bạn nằm ở trung tâm. Các vòng tròn chồng chéo đại diện cho các khía cạnh trong cuộc sống của bạn mà ở đó bạn có thể tìm thấy ikigai. Cần chú ý rằng, người Nhật tìm thấy ikigai trong nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống - từ những nghi thức nhỏ hàng ngày cho đến việc theo đuổi những mục tiêu ý nghĩa.

Điều này cho thấy rằng Ikigai không phải là nơi tối ưu (sweet spot) để làm điều bạn yêu thích, bạn giỏi, thế giới cần và bạn có thể được trả tiền nhờ nó. Thay vào đó, nó là một phổ rộng lớn nơi bạn có thể tìm thấy ikigai từ những điều nhỏ bé, từ thực hành sở thích, trong các vai trò và các mối quan hệ của bạn, và đơn giản bằng việc sống với giá trị của bạn (living your values).

Chúng ta có thể thấy rằng Ikigai là một thứ gì đó có thể đạt được một cách dễ dàng, chứ không phải một mục tiêu đơn lẻ to tát mà có thể ta phải mất hàng năm trời để đạt được, như trong phiên bản phương Tây hóa.

Bạn có thể tìm hoặc trải nghiệm ikigai từ:

• việc xây dựng các mối quan hệ hài hòa phù hợp với các giá trị của bạn (kết nối và hòa hợp)
• việc đạt đến một trạng thái dòng chảy (ND: khái niệm tâm lý học – flow state) trong các sở thích, mối quan tâm hoặc công việc và bằng cách thể hiện con người sáng tạo của bạn (sáng tạo & dòng chảy)
• việc bày tỏ lòng biết ơn và trong sự giúp đỡ người khác thông qua các vai trò khác nhau trong cuộc sống mà bạn tham gia (lòng biết ơn và sự đóng góp).
• việc chú tâm (being present) trong khi thực hiện các nghi thức hàng ngày, và trân trọng những niềm vui nhỏ trong cuộc sống (nghi thức & niềm vui nhỏ).

---------------------------------------------
Đề nghị giữ nguyên credit dưới đây khi chia sẻ bài viết!!!
Bài đăng gốc: https://medium.com/@support_35468/ikigai-is-not-a-venn-diagram-cca7abba323
Cảm ơn bài dịch của bạn Linh Khanh Nguyen được đăng tại group QRVN:
https://www.facebook.com/groups/vietnamquora/permalink/2769668553266263
#MDVN #QRVN

Want your school to be the top-listed School/college in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

About   Contact   Privacy   FAQ   Login C